Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (58.72 MB, 240 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>thêm các tranh chap biên giới, lãnh thô với các quôc gia trong khu vực</small>
Bảng 1: Toạ độ các điểm cơ sở và chiều dài mỗi đoạn đường cơ sở trong hệ thống đường cơ sở thẳng của Nhật Ban
<small>Toa độ các điểm cơ sở Chiều dài Toạ độ các điểm cơ sở Chiều dài</small>
<small>đoạn đường đoạn đường cơ</small>
<small>cơ sở (hải lý) Sở (hải lý)</small>
<small>(1) Đường nối từ điểm A tới điểm L (điểm cơ | (2) Đường nối từ điểm A tới điểm L (điểm cơ</small>
<small>(3) Đường nối từ điểm A tới điểm D (điểm cơ</small>
<small>(5) Đường nối từ điểm A tới điểm K va từ</small>
<small>điểm L tới điểm M (điểm cơ sở 35-45 và 46-47)</small>
<small>(6) Đường nối từ điểm A tới điểm E, từ điểm F</small>
<small>tới điểm G và từ điểm H tới điểm L (điểm cơ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>(7) Đường nối từ điểm A tới điểm B, điểm C | (8) Đường nối từ điểm A tới điểm B, điểm Ctới điểm D và từ điểm E tới điểm F (điểm cơ | tới điểm D, điểm E tới điểm F, điểm G tới điểmsở 60-61, 62-63, 64-65) H và điểm I tới điểm K (điểm cơ sở 66-67, </small>
<small>(9) Đường nối từ điểm A tới điểm I, điểm J | (10) Đường nối từ điểm A tới điểm CC (điểm</small>
<small>tới điểm L, điểm M tới điểm N, điểm O tới | cơ sở 99-127)điêm P và từ điểm Q tới điểm V (diém cơ sở</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>(13) Đường nối từ điểm A tới điểm O và từ</small>
<small>điểm P tới điểm DD (điểm cơ sở 144-173)</small>
(12) Đường nối từ điểm A tới điểm B, điểm C
<small>tới điểm E, điểm F tới điểm L và điểm M tớiđiểm N (điểm cơ sở 130-131, 132-134, </small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>(15) Đường nối từ điểm A tới điểm O (điểm | (14) Đường nối từ điểm A tới điểm F (điểm cơ</small>
2. Đường cơ sở của Thụy Dién ”
Thụy Điển là một quốc gia ở Bắc Âu giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan
ở phía Đơng Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Ưresund ở phía Nam, phần biên giới cịn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat. Với điện tích 449.964 km2, lãnh thé của Thụy Điển bao gồm lãnh thé đất liền và các đảo. Hai đảo lớn thuộc về Thụy Điển là Gotiand (khoảng 3.000 km?) va Gland (khoảng 1.300 km?), ngồi
<small>ra cịn có khoảng 221.800 đảo.</small>
Dựa trên địa hình bờ biển của mình, ngày 3/6/1966, Thụy Dién thơng qua Luật số 374 về nội thuỷ và lãnh hải. Theo Điều 4 của Luật này, đường cơ sở của Thụy Điển được xác định theo phương pháp đường cơ sở thắng nối liền những điểm nhô ra nhất của bờ biển ở ngắn nước thuỷ triều thấp nhất. Tại một số điểm, đường cơ sở được xác định tới các đảo, bãi cạn nửa nổi nửa chìm nếu như khoảng cách từ bờ tới các đảo, bãi cạn nửa nổi nửa chim đó khơng vượt q 4
<small>hải ly.</small>
Quy định của Điều 4 Luật số 374 về nội thuỷ và lãnh hải của Thụy Điển
được cụ thé hoá bởi Lệnh số 375 được ban hành cùng ngày. Lệnh số 375 ngoài
<small>việc xác định cu thê toa độ các điểm trong hệ thông đường cơ sở của Thụy Điện</small>
<small>7 United States Department of State, Limits in the Seas, No.47, Straight Baseline: Sweden.</small>
<small>attp://www.state. gov/documents/organization/61527.pdf</small>
<small>Trang | 241</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">còn bổ sung thêm quy định đối với các cảng biển, theo đó đường cơ sở sẽ lược xác định tại điểm nhô ra nhất của các cơng trình cảng biển.
Hệ thống đường cơ sở của Thụy Điển được xác định qua 124 điểm cơ sở với tổng chiều dai khoảng 1.128 hai lý. Chiều dài trung bình của mỗi đoạn đường cơ sở là 10 hải lý. Chiều dài đoạn đường cơ sở ngắn nhất là 1 hải ý và
Đường cơ sở của Thụy Điển được xác định tương tự như các quốc gia trong khu vực như Phần Lan, Na Uy và cũng phù hợp với thực tiễn xác định đường cơ sở của các quốc gia Tây Âu. Chiều dài mỗi đoạn đường cơ sở ngắn,
các điểm cơ sở không cách quá xa bờ biển. Điều này làm cho đường cơ sở của
Thụy Điển đi theo xu hướng chung của bờ biển. Đường cơ sở của Thụy Điển bao bọc gần hết đường bờ biển của quốc gia này trừ một số khu vực chưa được xác định như ở bờ biển phía nam Thụy Điền va bờ biển phía Tây đảo Gotland.
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Ngồi một số ít điểm cần phải tiếp tục hồn thiện (sự chưa khép kín của đường
<small>Giơnevơ 1958.</small>
<small>3. Đường cơ sé của Maldives !8</small>
Maldives là quốc gia quần đảo gồm nhóm các đảo san hô tại Ấn Độ
Dương. Maldives nằm ở phía nam quần đảo Lakshadweep thuộc Ấn Độ và cách
<small>khoảng 700 kilơmét phía tây nam Sri Lanka. 25 đảo san hơ lớn của Maldives</small>
bao vịng quanh một lãnh thé gồm 1.192 đảo nhỏ, khoảng hai trăm đảo trong số này có các cộng đồng địa phương sinh sống.
Là quốc gia quần dao, Maldives ap dụng các quy định của UNCLOS 1982
để xác định đường cơ so quần đảo của mình. Theo Đạo luật số 6/96: năm 1996
về các vùng biên của Maldives, đường cơ sở quần đảo của Maldives được xác định qua các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất trong nhóm đảo chính, bao
điểm cơ sở này năm trên 13 trong tổng số 25 đảo lớn của Maldives. Tổng diện tích vùng nước quần đảo của Maldives là 21.350 hải lý vng: trong đó diện tích nước là 15.500 hải lý vng, diện tích đất là 5.900 hải lý vng. Do đó, tỷ lệ giữa điện tích nước và điện tích đất là 2,63:1.
Về cơ bản, đường cơ sở quần đảo của Maldives phù hợp với quy định của UNCLOS 1982. Tuy nhiên, trong số 37 đoạn đường cơ sở của Maldives có tới ba đoạn chiều dài vượt quá 100 hải lý. Điều này chưa thực sự phù hợp với khoản 2 Điều 47 UNCLOS 1982. Nếu áp dụng đúng, Maldives chỉ được phép có một đoạn đường cơ sở vượt quá 100 hải lý (3% tông số đoạn đường cơ sở vượt quá
<small>100 hải lý).</small>
<small>18 United States Department of State, Limits in the Seas, No.126, Maritime Claims and Boundaries: Maldives.</small>
<small>te. gov/documents/organization/57678.pdf</small>
<small>Trang | 243</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Hình 3: Đường cơ sở quan đảo của Maldives
Fax] We > Uta Art
<small>PN Nig () Í PA Natok Arlo OCEAN</small>
<small>Haredin Avalon { 3 Archipelagic Straight Baselines</small>
<small>me From: Maritime Zoncs of Maldives</small>
<small>ae \ Act No. 696</small>
<small>| { f § June 27, 1996</small>
<small>1 /Foommn ~——-~ archipelagic straight baseline claim</small>
<small>Adx.Amiix (7 D 50kRometeE 0 5Ð n. milesLư </small>
<small>78'E We Ie mE mE me T6 E Lá đ + TC: Eï us L Á L L Hài L L J. 1 L</small>
<small>Nomes ond boundary repr tion ore notrr 6-0G STATE Ty</small>
Bảng 2: Toa độ các điểm cơ sở trong hệ thong đường cơ sở quan đảo của
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><small>Như vậy, dựa trên các quy định của UNCLOS 1982 va dang địa hình bờbiên của mình, các qc gia sẽ đưa ra các tun bô hoặc ban hành các văn bản</small>
pháp luật quốc gia để xác định hệ thống đường cơ sở của quốc gia theo phương
<small>các quốc gia có bờ biên khúc khuỷu, lơi lõm hoặc có sự hiện diện của các hoàn</small>
cảnh đặc biệt (chuỗi đảo, vịnh, cửa sơng...) có thê xác định các vùng biến của
mình thuận lợi hơn. Tuy nhiên, phương pháp này cũng yêu cầu các quốc gia phải tuân thủ các quy định của UNCLOS 1982 để không mở rộng thái quá các vùng biển của quốc gia ảnh hưởng tới các quốc gia khác và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế./.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><small>NCS.Ths. Nguyễn Thị Hong Vến! & Ths. Trần Thị Thu Thủy?</small>
<small>Trường Đại học Luật Hà Nội</small>
Là một quốc gia lục địa có diện tích đất liền lớn thứ 3 trên thé giới, đường bờ biển dai gần 18.000km và được bao quanh bởi các bến cảng và hệ thống khoảng 5.000 đảo lớn nhỏ trên các vùng biên, khai thác và phát triển kinh tế
biển đã và đang đóng vai trị quan trọng trong sự phát triển thịnh vượng chung
của nền kinh tế Trung Quốc. Dé thiết lập giới hạn các vùng biển cũng như tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình trên các vùng bién, từ rất sớm, Chính Phủ Trung Quốc đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến việc xác định đường cơ sở và các vùng biển như:
- Tuyên bố về Lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1958 (sau day gọi tắt là Tuyên bố về lãnh hai năm 1958). Tuyên bố này được
thông qua vào ngày 04/9/1958 tại Kỳ họp lần thứ 100 của Ủy ban thường vụ Đại
các đảo khác thuộc chủ quyền của Trung Quốc, đồng thời cũng dua ra các quy định về quy chế pháp lý với vùng biển này.
- Luật về vùng Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa năm 1992° (thông qua ngày 25/02/1992 tại Hội nghị lần thứ 24 của Ủy ban thường vụ đại hội đại biểu nhân dân tồn quốc khóa VII, có hiệu lực từ ngày 25/2/1992 - sau đây gọi tắt là Luật năm 1992). Trong Luật này, Trung
Quốc đã đưa ra những quy định về cách xác định chiều rộng lãnh hải, tiếp giáp
lãnh hải cũng như thẩm quyền của Trung Quốc tại hai vùng biển này.
<small>! Phó trưởng Bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội</small>
<small>? Giảng viên Bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Dai học Luật Hà Nội3 Xem Xem: Xem: Law.pdf</small>
<small>Trang| 247</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">- Luật về vùng Đặc quyền kinh tế và Thêm lục địa của nước Cộng hòa <small>nhân dân Trung Hoa năm 1998’ (thông qua ngày 26/6/1998 tại kỳ họp thứ 3 của</small>
<small>Xích Vĩ (Taisho To).</small>
nhân dân Trung Hoa năm 1992: Tuyên bố về lãnh hải của nước Cộng hòa mhân dân Trung Hoa năm 1958; Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hịa nhân dân
Về phương pháp xác định đường cơ sở, Điều 3 Luật năm 1992 Trung Quốc xác định: “Đường cơ sở của lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được xác định theo phương pháp đường cơ sở thẳng, bằng cách kết hợp
<small>các điêm cơ sở với các đường thăng”. Quan diém này một lân nữa được Trung</small>
<small>5 Xem: Declaratiom.pdfXem: Xem: 248</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Quốc tái khang định trong Tuyên bố về đường cơ sở năm 1996, đó là “đường co
sở là đường thang nối các điểm lân cận được liệt kê sau đây”.
Trên thực tế đường cơ sở (dù xác định theo phương pháp nào) thì đều nên phản ánh xu hướng chung của bờ biển của mỗi quốc gia (cả về độ đài và hướng đi)°. Nếu nếu bờ biển của quốc gia là bằng phẳng và ít có sự xuất hiện của các điều kiện thiên nhiên đặc biệt thì đường cơ sở mà quốc gia có thể sử dụng sẽ là
đường cơ sở thông thường!°. Ngược lại, nếu một đường cơ sở được vẽ chạy dọc theo một bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm hoặc có một chuỗi đảo đọc ven bờ thì
đường cơ sở này thường sẽ là đường cơ sở thẳng với nhiều đoạn cơ sở có chiều
đài ngắn và vừa, một số rất ít là những đoạn cơ sở dai!!. Mặc dù cả Công ước
Geneva năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và UNCLOS 1982 đều không đặt ra giới han cụ thể về chiều dài của các đoạn đường cơ sở thang, tuy
nhiên, một số phân tích đã đề nghị giới hạn này nên dao động trong khoảng từ 24 đến 48 hải lý để nhằm đảm bảo các đoạn đường cơ sở phản ánh chính xác khu vực bờ biển đó, đồng thời vùng nước phía bên trong đường cơ sở (nội thủy)
có đủ sự găn kết chặt chẽ với đất liền!?. Điều này có nghĩa là, việc một quốc gia ra tuyên bố về việc lựa chọn phương pháp xác định đường cơ sở là đường thăng
hay thông thường là quyền của các quốc gia, tuy nhiên việc xác định tính hợp pháp hay khơng hợp pháp của các tuyến đường cơ sở phải căn cứ vào quy định
cụ thê của pháp luật quốc tế, các tập quán và tiền lệ quốc tế mà Trung Quốc
<small>cũng không phải trường hợp ngoại lệ.</small>
Ngày 15/5/1996, Trung Quốc tiếp tục ban hành Tun bố của Chính phủ nước Cộng hịa nhân dân Trung Hoa về đường cơ sở của lãnh hải, trong đó đưa
ra hai hệ thống đường cơ sở cho mình đó là hệ thống đường cơ sở lục địa và hệ thống đường cơ sở thắng bao quanh quần đảo Hoàng Sa.
<small>* Xem thêm Điều 7 UNCLOS 1982!9 Xem thêm Điều 5 UNCLOS 1982</small>
<small>!! Xem thêm: Daniel J.Dzurek, The People’s Republic of China Straight Baseline Claim, IBRU Boundary and</small>
<small>Security Bulletin Summer 1996, p.82.</small>
<small>12 Xem thêm các phân tích về chiều dai của các đoạn đường cơ sở tại: United States Department of State, Bureau</small>
<small>of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs, Limits in the Seas, No.106: DevelopingStandard Guidelines for Evaluating Straight Baselines, p.13.</small>
<small>Trang| 249</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Hệ thong đường cơ sở lục dia của Trung Quốc bao gồm 48 đoạn thăng nối
49 điểm cơ sở và có tổng chiều dài là 1734,7 hải lý (~ 3225,8km). Các phân đoạn có chiều dai từ 0,1 hai lý (~ 0,1852km) (đoạn nỗi điểm 45 — 46 trên đảo
Hải Nam) đến 121,7 hải lý (~ 225,4km) (đoạn nối điểm 8 — 9 ngồi khơi bờ biển
67,2km, đài hơn rất nhiều so với chiều đài trung bình là 44,4km (~ 24 hải lý).
Về cơ bản, đường bờ biển Trung Quốc từ bán đảo Sơn Đông (điểm 1) đến khu vực Thượng Hải (điểm 11) tương đối bằng phẳng.
<small>13 Nguồn: United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific</small>
<small>Affairs, Limits in the Seas, No.117: Straight Baseline Claim: China</small>
<small>Trang| 250</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">| (phan trăm trên tổng số đoạn)
- Thấp hơn 24 hai lý ~~ | 23 đoạn (chiêm 48%)
Từ 24.1 hải lý đến 48 hải lý 9 đoạn (chiêm 19%) Từ 48.1 hải lý dén 100 hải lý 13 đoạn (chiếm 27%) Lớn hon 100 hải lý! 3 đoạn (chiêm 6%)
Bảng 1: Thong kê chiều dài các đoạn đường cơ sở trong hệ thông đường cơ sở lục địa của Trung Quốc theo Tuyên bỗ năm 199615
Đoạn bờ biển được dùng dé vạch đường cơ sở từ điểm số 12 đến điểm số 18 có một chuỗi đảo gần bờ có thé đáp ứng yêu cầu theo khoản 1 Điều 7 của UNCLOS 1982 về chuỗi đảo gần bờ. Các đoạn đường cơ sở nối liền các điểm từ
18 đến 24 nằm dọc theo rìa phía tây của eo biển Đài Loan, bờ biển trong khu
vực này được mô tả là bị khoét sâu, lồi lõm và được bao quanh bởi một chuỗi
đảo, đáp ứng được gần như toàn bộ những điều kiện để xác định đường cơ sở
theo quy định của UNCLOS 1982'5. Các đoạn đường cơ sở từ điểm 43 (nam
trên mũi Oanh Ca, đảo Hải Nam) đến điểm 49 (nằm trên mũi Tuấn Bích, đảo
Hải Nam) được Trung Quốc xác định ở khu vực Vịnh Bắc Bộ về cơ bản là phù hợp.
Hình 2: Bản đồ đường cơ sở lục dia của Trung Quốc
<small>! Nguồn: United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific</small>
<small>Affairs, Limits in the Seas, No.117: Straight Baseline Claim: China, p.4.</small>
<small>'5 Nguồn: United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific</small>
<small>Affairs, Limits in the Seas, No.117: Straight Baseline Claim: China, p.4.</small>
<small>'6 Xem thêm: Bùi Thanh Công, Luận van thạc sỹ luật học, Pháp luật Trung Quốc về biển đảo, nhìn từ góc độ</small>
<small>pháp luật quốc tế, Hà Nội, 2014, p.34.</small>
<small>Trang| 251</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Tuy nhiên, bên cạnh những đoạn cơ sở được xác định tương đối hợp 'ý thì hệ thống đường cơ sở lục địa của Trung Quốc cũng còn những điểm hạn ché, chưa đáp ứng được các điều kiện theo quy định của UNCLOS 1982.
Đâu tiên, đa phần các khu vực bờ biển của Trung Quốc chưa đáp ứng được tiêu chí là đường bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm hoặc có chuỗi đảo chạy dọc ven bờ. Cụ thể, đoạn đường cơ sở từ điểm 1 đến điểm 5 gần bán đảo Sơn Đông, bờ biển không bị khoét quá sâu và cũng không có các đảo tạo thành chuỗi: đảo chạy dọc theo đường bờ biển. Giữa các điểm 2 và 3 có hai vùng lõm ở bờ biển có thé vẽ đường đóng cửa vịnh (theo tiêu chuẩn của UNCLOS 1982) cắt qua lối vào của mỗi vịnh nhỏ tương ứng và sẽ được hưởng chiều rộng 12 hải lý của lãnh hải. Trong khu vực đặc biệt này, lãnh hải được vẽ ra từ đoạn cơ sở nối điểm 2 — 3 đã tạo thành một khu vực biển có diện tích khoảng 20 hai lý vng (~ 69km?), tuy nhiên, nếu căn cứ theo khuyến nghị của Ủy ban luật pháp quốc tế (ILC) và Hoa Kỳ thì khu vực này lẽ ra sẽ là biển cả, còn phần diện tích được tun bố
hưởng chế độ nội thủy thì lẽ ra phải là lãnh hải!”.
Ngoài ra, trong hệ thống đường cơ sở lục địa này, Trung Quốc đã xác định khá nhiều đoạn cơ sở có chiều dài lớn và chạy tương đối xa so với “xu hướng chung của đường bờ biển”, điều này dẫn đến việc biến một phan biển cả rộng lớn thành nội thủy, từ đó các vùng biển như lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thêm lục địa sẽ được mở rộng ra khá nhiêu. Cụ thé: Từ điểm cơ sở số 5 đến điểm cơ sở số 8 (trong đó đoạn cơ sở nối điểm 6 — 7 có chiều dài là 84,1 hải lý (~155,7km) và đoạn nối điểm cơ sở 7 — 8 có chiều dai 71,8 hải lý (~133km)), Trung Quốc đã vẽ các đoạn cơ sở và tuyên bố một diện tích lãnh hải khoảng 1175 hải lý vuông (~4030km”) mà lẽ ra nên thuộc về quy chế biển cả; và khoảng 600 hải lý vuông (~2057km?) nội thủy lẽ ra cũng nên là biển cả. Bên
cạnh đó, cịn có một diện tích đáng kể được tuyên bố là vùng nội thủy nhưng
đáng ra chỉ nên được hưởng quy chế của lãnh hải!Š. Ngoài ra, đoạn đường cơ sé
<small>17 Nguồn: United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific</small>
<small>Affairs, Limits in the Seas, No.117: Straight Baseline Claim: China, p.5.</small>
<small>18 United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs,</small>
<small>Limits in the Seas, No. 117: Straight Baseline Claim: China, p.6.</small>
<small>Trang| 252</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">nối từ điểm 8 — 11 có 2 đoạn dai trên 100 hải lý (đoạn 8 — 9 dai 121,7 hải lý và
diện tích khoảng 1995 hải lý vuông (~6842km?) mà lẽ ra nên là biển cả, khoảng 550 hải lý vuông (~1886km?) nội thủy cũng nên là biển cả và một khu vực rộng lớn nội thủy đáng lẽ là lãnh hai!?.Cac đoạn đường cơ sở nối các điểm từ 24 đến 27 cũng chưa hợp lý vì các đảo được chọn để đặt các điểm 24, 25, 26 không phải là một chuỗi đảo. Mặt khác, các đoạn cơ sở nối các điểm từ 31 - 34 dài khoảng 198 hải lý (~366km) đã tạo ra một vùng biển có diện tích rộng khoảng 6800 hải lý vuông (23300km?), vùng biển này không thê được coi là có liên quan chặt chẽ với đất liền đến mức được “đặt đưới chế độ pháp lý của nội thủy”?9.
Thứ hai, một số bãi cạn được Trung Quốc lựa chọn là điểm cơ sở chưa phù hợp với UNCLOS 1982. Trong đó, Điều 7 chỉ rõ: đường cơ sở thắng của các quốc gia không được xuất phát hoặc kéo dài đến các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ khi một phần hoặc tồn bộ bãi cạn đó ở cách đất liền hoặc một đảo khoảng cách không quá chiều rộng của lãnh hải (12 hải lý)?!; hoặc tại đó có các đèn biển hoặc các cơng trình tương tự thường xun nhơ lên trên mặt nước”;
hoặc việc vạch đường cơ sở của quốc gia đến các bãi cạn này đã được cộng
đồng quốc tế thừa nhận??. Nếu xét theo tiêu chuẩn này thì Trung Quốc có khá
nhiều điểm cơ sở được xác định chưa phù hợp như: điểm số 9 (nằm ở độ sâu 3m dưới mực nước biển); điểm số 10 (đây là một bãi cạn lúc nỗi lúc chìm, nhưng lại
cách đất liền hơn 12 hải lý, đồng thời tại đó cũng khơng hề có bất kỳ cơng trình
hoặc đèn biển nào thường xuyên nhô lên trên mặt nước); điểm số 12, 13 (nam
trên các đảo đá cách đất liền khoảng 60 hải lý); điểm số 19, 20 (nằm trên một chuỗi đảo cách đất liền khoảng 21 hải lý); điểm số 28 (nằm trên một đảo nhỏ cách đất liền 19 hải lý); điểm số 31 là một đảo đá cô lập; điểm số 32, 33 cũng
<small>! United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs,</small>
<small>Limits in the Seas, No.117: Straight Baseline Claim: China, p.7.</small>
<small>20 Daniel J.Dzurek, The People’s Republic of China Straight Baseline Claim, IBRU Boundary and Security</small>
<small>Bulletin Summer 1996, p.84.</small>
<small>21 Điều 13 UNCLOS 1982.? Điều 7 khoản 4 UNCLOS 1982.</small>
<small>? Xem: Khoản 3 Điều 4 Công ước Giơnevơ năm 1958 và khoản 4 Điều 7 UNCLOS 1982.</small>
<small>Trang| 253</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">chỉ là các đảo đá nhỏ ngồi khơi của đảo Hải Nam, khơng đủ dé đáp ứng nating
điều kiện để xác định là điểm cơ sở theo quy định của UNCLOS 1982”1...
<small>Thứ ba, Trung Quốc cũng đã xác lập 2 đoạn cơ sở nối điểm 28 — 29 và 29— 30 bao quanh khu vực Hồng Kông và Macao, tuy nhiên ở thời điểm đưa ra</small>
Trung Quốc?°.Do đó, việc vẽ đoạn đường cơ sở ở quanh các khu vực này 1a chưa
<small>hợp lý.</small>
Ngoài ra, điểm cuối của hệ thống đường cơ sở lục địa của Trung Quốc mới chỉ dừng lại ở mũi Tuấn Bích, phần cịn lại từ mũi Tuấn Bích, bao quanh đảo Hải Nam, cắt qua eo biển Quỳnh Châu đến bán đáo Lôi Châu, kéo dài đến khu vực cửa sông Bắc Luân giáp với Việt Nam (khu vực phía trong Vịnh Bắc
Bộ) vẫn đang bỏ ngỏ, chưa được xác định rõ ràng.
Như vậy, hệ thống đường cơ sở lục địa do Trung Quốc xác định có những
đoạn đường cơ sở đã đáp ứng được điều kiện của UNCLOS 1982, tuy nhiên, van
này dẫn đến việc Trung Quốc đã mở rộng được các vùng biển thuộc chủ quyền cũng như các vùng biển quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của các quốc gia khác.
%* VỀ hệ thong đường cơ sở quan đảo vẽ quanh quan đảo Hoàng Sa và quan đảo Diéu Ngư (Senkaku)
Ngoài hệ thống đường cơ sở lục dia đã nêu trên, trong Tuyên bố năm 1996 Trung Quốc cũng đưa ra tuyên bố về việc xác định đường cơ sở quan đảo cho quần đảo Hoàng sa. Bên cạnh đó, đối với quần đảo Điếu Ngư, ngày 10/9/2012, Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố về việc xác định đường cơ sở cho
<small>24 Xem: United States Department of State, Bureau of Oceans and Intemational Environmental and Scientific</small>
<small>Affairs, Limits in the Seas, No./17: Straight Baseline Claim: China</small>
<small>35 Ngày 1/7/1997 Anh Quốc mới chuyển giao quyền quan ly Hồng Kông về cho Trung Quốc; ngày 20/12/1999</small>
<small>Bỏ Đào Nha mới chuyên giao quyền quản ly Macao về cho Trung Quốc.</small>
<small>Trang| 254</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">Điều Ngư (Senkaku) và đến ngày 21/9/2012, Trung Quốc cũng đã chính thức
gửi đến Liên hợp quốc danh sách các điểm tọa độ và bản đồ minh họa cho hệ
<small>thông đường cơ sở quanh quân đảo này.</small>
<small>Tuy nhiên, việc xác định đường co sở của Trung Quốc đổi với cả quan</small>
đảo Hoàng Sa và Điều Ngư là khơng phù hợp với luật pháp quốc tế vì những ly
<small>do sau:</small>
- Thứ nhất: Hai quần đảo này vẫn còn là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia khác, do đó việc Trung Quốc đơn phương ra tuyên
bố xác định đường cơ sở cho khu vực này là vi phạm các quy định của pháp luật
quốc tế, cụ thé là hai ngun tắc hịa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và bình đăng chủ quyền giữa các quốc gia. Cụ thê;
Quan đảo Hoàng Sa là khu vực tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong rất nhiều năm. Năm 1970, trong khi chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam
đang bước vào ác liệt nhất, lợi dụng tình hình bat én đó, hai qn của quân giải phóng Trung Quốc đã tiến hành một số hoạt động trên nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite), bộ phận phía Đơng quần đảo Hồng Sa. Các cơ sở hạ tầng đã được
xây cất nhanh chóng vào năm 1971. Một số cảng mới trên đảo Phú Lâm đã được xây cất. Đó là bước mở đầu cho sự bành trướng của Trung Quốc trên quan đảo
Hoàng Sa. Đến tháng 1/1974 một hạm đội gồm 8 tàu chiến Trung Quốc mở cuộc
tấn công chống các tàu Nam Việt Nam, sau một cuộc hải chiến ngắn và đữ dội,
quân Trung Quốc đã chiếm đóng nốt phần phía Tây của quần đảo Hồng Sa và thực hiện việc quản lý bất hợp pháp Hồng sa từ đó đến nay.
Theo quy định của luật pháp quốc tế, các quốc gia không được tuyên bố
chủ quyền, quyền chủ quyền của mình đối với các khu vực lãnh thé vẫn còn là
đối tượng của các vụ tranh chấp chưa được giải quyết; mặt khác, với nhiều chứng cứ có tính chất lịch sử và pháp lý được đưa ra, Việt Nam có cơ sở để khăng định và bảo vệ chủ quyền của mình tại Hồng Sa.
<small>Trang| 255</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Hình 3: Hệ thống đường cơ sở quanhquan đảo Hoàng Sa trong Tuyên bé năm 1996 của Trung Quốc?5
Quan đảo Diéu Ngư (Senkaku) hiện nay vẫn là vùng lãnh thổ tranh chấp
và được sát nhập vào lãnh thô Nhật Bản từ năm 1895 theo Hiệp ước Shimonoseki được ký kết giữa triều đình nhà Thanh và Nhật Bản sau khi chiến tranh Trung Quốc — Nhật Bản lần thứ nhất kết thúc, theo đó, triều đình nha
<small>Thanh nhượng lại cho Nhật Bản đảo Đài Loan và các đảo phụ cận, trong đó có</small>
đảo Senkaku. Cịn Trung Quốc thì khẳng định rằng họ đã phát hiện và quản lý quần đảo này từ thé ky 14, diéu nay cũng được Nhật Ban công nhận cho đến năm 1895 khi xảy ra chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Năm 1945, Nhật Ban thất bại trong Chiến tranh thé giới lần thứ hai, đảo Dai Loan và nhóm đảo phụ cận được trả lại cho Trung Quốc, Tuy nhiên Senkaku (Điều Ngư) không nằm trong vùng đất mà Nhật Bản từ bỏ theo Điều 2 Hiệp ước hịa bình San Francisco năm 1951, mà thuộc địa phận Okinawa nam dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ, do đó Nhật Bản trao cho Hoa Kỳ quản lý quần đảo này. Sau
<small>khi có Hiệp ước Okinawa giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản năm 1972, Hoa Kỳ trao trả26 Nguồn: United States Department of State, Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific</small>
<small>Affairs, Limits in the Seas, No.117: Straight Baseline Claim: China</small>
<small>Trang| 256</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">chủ quyền quan đảo Senkaku (Diéu Ngư) cho Nhật Bản. Việc này gây lên làn sóng phản đối của cộng đồng người Hoa ở khắp nơi. Phía Trung Quốc cho rằng
ngay sau Chiến tranh thé giới lần thứ hai. Dé thiết lập quan hệ ngoại giao (1972)
Nhật Bản đã đồng ý gác lại tranh chấp sang một bên và sẽ giải quyết khi có điều
kiện. Tình hình vừa tạm 6n thì đến năm 1979, Nhật Bản xây dựng sân bay trực
thăng dã chiến trên quần đảo này và đã bị Trung Quốc và Dai Loan lên tiếng phản đối. Ngày 25/2/1992, Trung Quốc thông qua luật lãnh hải và biển đảo, nhân việc này đưa luôn Diéu Ngư vào vùng chủ quyền của mình. Tất nhiên,
Nhật Bản Ukeda Yukihiko đã đưa ra Tuyên bố về chủ quyền với Senkaku (Điều
Ngư) đồng thời tăng cường các tàu tuần tra, tuần tiểu xung quanh vùng biển của Senkaku (Điều Ngư). Từ đó cho đến nay, Trung Quốc và Nhật Bản vẫn luôn đưa ra các chứng cứ lịch sử và pháp lý cũng như thực hiện các hoạt động thực tiễn
nhăm chứng minh chủ hủ quyên của mình đối với quần đảo Senkaku (Diéu Ngư).
<small>: i</small>
<small>- from Statement of September 10, 2012</small>
<small>CHINA re rf + Swaight baseane paints</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Trung Quốc xác định ?7
- _ Thứ hai: không kể đến vấn dé quan đảo Hoàng Sa hay quan đảo Điều Ngư (Senkaku) có thuộc chủ quyền của Trung Quốc hay khơng, riêng về cách thức xác định đường cơ sở cho hai quan đảo này đã có sự bất cập se với UNCLOS 1982. Đường cơ sở quần đảo là khái niệm mới được ghi nhận tại Điều 47 của UNCLOS 1982. Theo đó, quốc gia quần đảo?Š có thể vạch các đường cơ
Như vậy, nếu xét theo các tiêu chuẩn này thì đường cơ sở bao quanh đảo Điếu Ngư và đá Xích Vỹ đều không đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ nước và tỷ lệ
<small>? Tham khảo </small>
<small>28 Điều 46 UNCLOS 1982: Quốc gia quan đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều</small>
<small>quan đảo và cỏ khi bởi một sé hòn đảo khác</small>
<small>Điều 46 UNCLOS 1982: quan đảo được hiểu là một tổng thé các đảo, kế cả các bộ phận của các đảo, cácvùng nước tiếp liền và các thành phân tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau đến mức tạo thành một thé</small>
<small>thông nhất về địa ly, chính trị, kinh tê, hay được coi như thé về mat lịch sử.</small>
<small>30 Xem Điều 47 UNCLOS 1982</small>
<small>a Xem thêm: www.asil.org/insights/volume/17/issue/7/china’s-straight-baseline-claim-senkaku-diaovu-islands“ Điều 121 UNCLOS 1982: Chế độ các đảo: “J. Mét đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy</small>
<small>triéu lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.</small>
<small>Trang| 258</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">định tại Điều 121 UNCLOS 1982, với những đảo nhỏ và khơng có người ở, hoặc không thé thiết lập một đời sống kinh tế riêng như đảo Điều Ngư (Uotsuri
khơng thể có đầy đủ các vùng biển thuộc chủ quyền hay quyền chủ quyền khác. Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Nhật Bản đều tuyên bố có vùng đặc quyên kinh tế và thêm lục địa cho quần dao Điếu Ngư (do quan đảo này nằm trong phạm vi
200 hải lý tính từ bờ biển gần nhất của Trung Quốc và Nhật Bản), do đó tạo ra
một khu vực chồng lấn về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai quốc gia này. Điều này là chưa hợp lý vi đảo Điều Ngư thực chất khơng có các vùng
biển này.
<small>PS ARAMEERARTMESRSRSSE</small>
<small>tr Uk NT HÀ ANE</small>
<small>via tamir 1S ITN ` wine 8</small>
Hình 5: Bản đồ đường cơ sở quan đảo Điều Ngư (Senkaku) Trung Quốc gửi
Liên hợp quốc ngày 21/9/2012 ??
<small>1. Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địatủa hòn dao được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thé dat liền khác.3. Những hịn đào đá nào khơng thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh lễ riêng, thì khơng26 vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục dia”.</small>
<small>b Nguồn:</small>
<small>Trang| 259</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Điều đáng lưu ý là, thuật ngữ “đường co sở quan đảo”, theo quy định của ƯNCLOS 1982, chỉ được dùng để xác định đường cơ sở cho các quốc gia quần đảo chứ không áp dụng đối với các quốc gia lục địa như Trung Quốc. Ngoài ra, việc xác định đường cơ sở quần đảo cho Hoàng Sa cũng khá khó hiểu vì theo
quy định của UNCLOS 1982, Hồng Sa trong biển Đơng khơng được xác định
là “quần đảo”đúng nghĩa, cách sử dụng thuật ngữ “quần đảo” ở đây chủ yếu
của UNCLOS 1982 trong việc xác định đường cơ sở cho Hồng Sa.Có thể thấy rang, việc Trung Quốc đưa ra tuyên bố về hệ thống đường cơ sở vẽ quanh quan
đảo Hoàng Sa và quần đảo Điều Ngư (Senkaku) là hồn tồn khơng phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế, cụ thể là UNCLOS 1982. Bên cạnh đó, hệ thống
đường cơ sở lục địa mà Trung Quốc tuyên bố vẫn còn tồn tại khá nhiều điểm bất hợp lý. Chính điều này đã làm cho việc xác định vi tri của các vùng biển khác của Trung Quốc vẫn còn nhiều vướng mắc. Là một thành viên của UNCLOS 1982, Trung Quốc cũng như các quốc gia khác cần có sir tuân thủ triét dé và
<small>nghiêm túc các quy định của UNCLOS 1982, trong đó có những quy định liên</small>
quan trực tiếp đến cách xác định đường cơ sở và các vùng biên.
II. CÁCH XÁC ĐỊNH VÀ QUY CHE PHÁP LÝ CAC VUNG BIEN THUỘC CHỦ QUYEN, QUYEN CHỦ QUYEN VÀ QUYEN TÀI PHÁN
CỦA TRUNG QUỐC
1. Vùng Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải
1.1.Những quy định về vùng lãnh hải của Trung Quốc đã được quốc gia này ghi nhận từ khá sớm trong cả Tuyên bố về lãnh hải năm 1958 và Luật về
vùng lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải năm 1992. Trong các văn kiện này, Trung
Quốc đều khang định: Jãnh hải của Trung Quốc rộng 12 hải ly tinh từ đường cơ sở?°. Như vậy, quy định về chiều rộng lãnh hải của Trung Quốc đã có sự thống nhất và phù hợp với Điều 3 của UNCLOS 1982.
<small>* Khoản 1 Tuyên bố về lãnh hải năm 1958 quy định: “Chiéu rộng lãnh hải của nước Cơng hịa nhân dan TrungHoa là 12 hải ly. Điều khoản này áp dung cho toàn lãnh thé nước Cộng hòa nhân dán Trung Hoa, bao gomphan đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liên và các hai dao khác bởi biển cả) vàcác đảo phụ cận, quan đảo Banh Hô (Penghu), quan dao Đông Sa, quan đảo Tây Sa, quản đảo Trung Sa, quan</small>
<small>dao Nam Sa và các đảo khác thuộc Trung Hoa”.</small>
<small>Trang| 260</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Về nội dung quy chế pháp lý của lãnh hải: Điều 6 Luật năm 1992 quy
<small>vào lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tàu quân sự nước ngồi</small>
phải xin phép Chính phủ nước Cộng hịa nhân dân Trung Hoa”. Điều này có nghĩa là, các loại tàu thuyền được phép thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của Trung Quốc chỉ là những tàu thuyền phi quân sự, các tàu quân sự phải thực hiện chế độ xin phép theo đúng quy định của pháp luật Trung
Quốc. Trên thực tế, có nhiều ý kiến cho rằng việc yêu cầu tầu thuyền quân sự
của các nước phải xin phép trước khi đi vào lãnh ahir của quốc gia ven biển là
1982. Tuy nhiên, bằng cách quy định “với diéu kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyên của tất cả các quốc gia, có biển hay khơng có biển, đều được hưởng quyền di qua khơng gây hại trong lãnh hai” UNCLOS 1982 khơng có sự phân
<small>biệt một cách rõ ràng giữa tàu quân sự và tàu phi quân sự trong việc được hưởng</small>
quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải. Tuy nhiên, riêng đối với nhóm tau
quân sự, do nhu cầu bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia, một số quốc gia
cũng có những quy định nhằm “kiêm sốt” về mặt thủ tục sự qua lại vô hại của các tàu thuyền này. Như vậy, cách ghi nhận trên đây của Trung Quốc cũng có
thê được coi là một biện pháp nhằm đảm bảo an ninh quốc gia dù đối tượng tàu
thuyền được thụ hưởng quyển này tại Lãnh hải Trung Quốc hẹp hơn so với UNCLOS 1982. Bên cạnh đó, những quy định khác về quy chế pháp lý trong lãnh hải của Trung Quốc (tàu ngầm nước ngoài khi di trong lãnh hải phải đi nổi,
tàu thuyền nước ngoài khi đi trong lãnh hải phải tuân thủ quy định của pháp luật
Trung Quốc, thâm quyền tài phán của Trung Quốc trong lãnh hải...) về cơ bản
<small>là phù hợp so với quy định của UNCLOS 1982.</small>
<small>Điều 3 Luật về vùng lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải năm 1992 quy định: “Chiểu rộng lãnh hải của Trung Quốc la</small>
<small>12 hải lý tính từ đường cơ sở. Đường cơ sở của Trung Quốc được xác định theo phương pháp cơ sở thăng, đượctạo thành bởi các điểm cơ sở và các đoạn thắng. Giới hạn ngoài của lãnh hải của Trung Quốc là đường thang,mà mỗi điểm trên đó cách 12 hai ly từ điểm cơ sở gan nhất”.</small>
<small>Trang| 261</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">1.2. Về vùng tiếp giáp lãnh hải, Trung Quốc xác định trong Điều 4 Luật về vùng lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải năm 1992 như sau: “Ving tiếp giáp lãnh hải
ngoài của vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa là
đường thẳng mà mọi điểm trên đó có khoảng cách gan nhất là 24 hải tỷ tinh từ đường cơ sở để do chiều rộng của lãnh hải”. So với việc UNCLOS 1982 chỉ quy định một cách chung chung là “vùng tiép giáp không thé mở rộng quả 24 hải ly ké từ đường cơ sở được dùng để xác định chiéu rộng của lãnh hải” (khoản 2 Điều 33 UNCLOS 1982) thì quy định trên đây của Trung Quốc tương đối rõ ràng và cụ thể. Bên cạnh đó, cách quy định về quy chế pháp lý của vùng này trong Luật về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải của Trung Quốc khá là tương thích với quy định tại Điều 33 UNCLOS 198235.
2. Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Naay 26/6/1998, Trung Quốc đã thông qua Luật về vùng đặc quyền kinh tế
và thêm lục địa, trong đó Điều 2 của Luật này ghi nhận: vùng đặc quyên kinh té
hải lý từ đường cơ sở được dùng để xác định chiều rộng của lãnh hải”. Bên
cạnh đó, Thêm lục địa của quốc gia này cũng được xác định Ja đáy biển và lịng đất dưới đáy biển bên ngồi lãnh hải, trên toàn bộ phan kéo dai tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến bờ ngồi của rìa lục địa, hoặc đến 200 hải lý tính
<small>3* Điều 13 Luật năm 1992 quy định: “Cộng hịa nhân dân Trung Hoa có qun thực hiện thẩm quyên trong</small>
<small>vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn chặn hoặc xử phạt các hành vi xâm hai đến an ninh, hải quan, thuế và cácquy định về vệ sinh hoặc xuất nhập cảnh vào vùng dat liền, nội thủy hoặc lãnh hai”. Điều khoản này quy định</small>
<small>về quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình — khá là phù hợp</small>
<small>so với quy định của UNLCOS 1982, tại Điều 33, theo đó, quốc gia ven biển cỏ quyền chủ quyền và quyền tài</small>
<small>phán trong 4 lĩnh vực: thuế, hải quan, y tế và nhập cư.</small>
<small>Tran;g| 262</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">tắc cơng bằng”. Bên cạnh đó, Luật này cũng đưa ra những quy định cụ thể liên quan đến một số quyền tự đo trên biển như quyền tự do hàng hải, hàng không, tự
các thiết bị và đảo nhân tạo... Về cơ bản, những quy định này là phù hợp với quy định của UNCLOS 1982 về cách xác định và quy chế pháp lý của vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa.
Những phân tích trên đây chỉ ra rằng, việc xác định các vùng biển thuộc
chủ quyên, quyên chủ quyền và quyên tài phán cũng như quy chế pháp lý của
các vùng biển đã được Trung Quốc ghi nhận khá chi tiết và tương thích với các quy định của UNCLOS 1982. Tuy nhiên, như đã nói đến, do việc xác định đường cơ sở của Trung Quốc chưa thực sự phù hợp với UNCLOS 1982 và các
vùng biển còn bất cập do đường co sở là điểm mau chốt trong việc xác định chiều rộng các vùng biển của quốc gia.
Ill. YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỠI BO” CUA TRUNG QUOC
TREN BIEN DONG DƯỚI GÓC ĐỘ PHAP LUAT QUOC TE
<small>Duong “lưỡi bò”, đường “chữ U” hay đường “đứt khúc 9 đoạn”... là</small>
những cách gọi khác nhau mà các học giả trên thế giới dùng để chỉ yêu sách của
Trung Quốc đối với 80% diện tích của biển Đông, được vẽ sát vào bờ của các
quốc gia như Việt Nam, Inđônêsia, Ma-lai-xi-a, Bruney, Phi-lip-pin... Theo các
tác giả Trung Quốc, đường lưỡi bò xuất hiện lần đầu tiên trên bản dd các đảo trong biên Nam Trung Hoa — The Location Map of South China Sea Islands do
<small>Fu Jiaojin va Wang Siguang biên soạn va được Vu Dia lý thuộc Bộ Nội Vu</small>
Trung Quốc xuất bản năm 194735. Thậm chí, trong một số tài liệu khơng chính
thức của các học giả Trung Quốc còn đưa ra những thời điểm khác nhau (chủ yếu là trước năm 1947) cho sự xuất hiện của bản đồ đường lưỡi bò theo hướng có lợi hơn cho phía Trung Quốc liên quan đến yêu sách cho một danh nghĩa lịch sử”.
<small>36 Xem Li Jinmin & Li Dexia, The Dotted line on the Chinese map of the South China Sea: A Note, Ocean</small>
<small>Development & International Law, 2003, p. 287-288.</small>
<small>37 Xem Li Jinmin & Li Dexia, The Dotted line on the Chinese map of the South China Sea: A Note, Ocean</small>
<small>Development & International Law, 2003, p. 288-290.</small>
<small>Trang| 263</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">Đường lưỡi bị là một đoạn đường đứt khúc ban đầu có 11 đoạn bao
phía Bắc theo hướng song song với đường bờ biển phía Tây Sabah của Ma-lai-xi-a và Palawan của Phi-líp-pin và quần đảo Luzon, kết thúc tại khoảng giữa eo
biển Bashi nằm giữa Đài Loan và Phi-lip-pin*®.
Trên thực tế, đến nay khơng có bất kỳ một tài liệu nao cho biết tọa độ cũng như vị trí chính xác của đường lưỡi bị. Chính quyền Trung Quốc cũng
Quan điểm thứ nhất cho rằng, vẽ đường lưỡi bò này Trung Quốc nhằm yêu sách quyén sở hữu đối với các đảo nằm bên trong hơn là yêu sách về một
đường biên giới biển.
Quan điểm thứ hai cho rằng, con đường này đã tồn tại hơn nửa thế kỹ nay
<small>nghĩa lịch sử cho toàn bộ vùng nước bên trong của đường đứt khúc (theo Công</small>
<small>3?Nhiều tác giả (2012), Bang chứng lich sử và cơ sở pháp ly: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Nxb trẻ TP.</small>
<small>Hỗ Chí Minh (tái bản lần thứ nhất), tr. 250-257.</small>
<small>Tran;g| 264</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 vùng nước này sẽ được đặt dưới chế
độ pháp lý của nội thủy — vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, tại đó quốc gia
ven biển sẽ có chủ quyền hoan tồn và tuyệt đối”).
Quan điểm thứ ba cho rằng, không nên xem các yêu sách của Trung Quốc
<small>chỉ là đòi hỏi vùng nước lịch sử cho tồn bộ vùng nước ở phía bên trong đường</small>
lưỡi bị, mà là yêu sách về quyền chủ quyền và quyền tài phán“
Như vậy, do tính chất mập mờ, khơng rõ ràng về pháp lý của đưỡng lưỡi
bò nên các học giả của Trung Quốc cũng đưa ra các quan điểm trái ngược nhau.
Ngày 7/5/2009, Trung Quốc lần đầu tiên chính thức cơng khai u sách
đường lưỡi bị của mình trong khu vực biển Đông khi cùng lúc gửi công hàm số hiệu CML/17/2009 đến Tổng thư ký Liên Hợp Quốc nham phản đối việc Việt
Nam nộp báo cáo về ranh giới ngồi thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới thêm lục địa của Liên Hợp Quốc, mặt khác Trung Quốc cũng đính kèm theo
cơng hàm này sơ đồ đường yêu sách gồm 9 đoạn của mình trong khu vực biển Đông. Theo công hàm này, Trung Quốc khang định mình có chủ quyền khơng
thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Đông và các vùng nước kế cận; đồng thời có
quyên chủ quyền và quyên tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như
đáy biển và lòng đất đưới đáy biển ở khu vực nay’. Có thé thấy rằng, cơng ham
ngày 7/5/2009 là tun bố có tính chất pháp lý đầu tiên của Trung Quốc đối với
yêu sách 9 đoạn tại khu vực biển Đông trong hơn 60 năm qua, đây cũng là lần
đầu tiên Trung Quốc chính thức thừa nhận và cơng khai sơ đồ đường yêu sách
nay với cộng đồng quốc tế"?
Sau khi chính thức thừa nhận và cơng khai bản đồ về đường lưỡi bò trước vộng đồng quốc tế, nhăm kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ của thế giới với yêu sách cua minh, các học giả của Trung Quốc khi được hỏi về van dé này đã không ít An chính thức đưa ra các lập luận thừa nhận tính hợp pháp của đường lưỡi bị.
<small>® Xem Điều 3 UNCLOS 1982</small>
<small>© Nhiều tác giả (2012), Bằng chứng lich sử và cơ sở pháp lý: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Nxb trẻ</small>
<small>“P. Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ nhất), tr. 250-257.</small>
<small>1 Xem - 2009re_mys vnm_e.pdf? Trước đó, trong những văn bản pháp lý quan trọng do CHND Trung Hoa ban hành về các vùng biển (như: các</small>
<small>uyên bố về lãnh hải 1958, về lãnh hải và vùng tiếp giáp 1992, vê đường cơ sở 1996 và về vùng đặc quyền kinh</small>
é và thêm lục địa 1998.. 2) thì đường u sách 9 đoạn khơng hề được nhắc đến.
<small>Trang| 265</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">Hình 6: Ban đồ đường u sách chín đoạn trong cơng hàm CML/17/2009 của Trung Quốc”
sự hiện diện của đường lưỡi bị tại khu vực biển Đơng đó là: đường yêu sách này
là hợp pháp và được vạch ra phù hợp với các quy định của “luật pháp quốc tế đương đại” (tức luật pháp quốc tế vào thời điểm nó được vẽ ra). Tuy nhiên, thực -tiễn cho thấy, vào thời điểm mà đường đứt đoạn được vẽ ra (1947), những quy định của luật biển quốc tế còn tồn tại chủ yếu dưới dạng những quy phạm tập quán, theo đó lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ có chiều rộng 3 hải lý tính từ ngắn nước thủy triều thấp nhất. Ngồi phạm vi lãnh hải là biển cả hay còn gọi là biển quốc tế - vùng biển mọi quốc gia đều có thể thực hiện quyền tự do biển ca“, Như vậy, ngay ca theo “luật pháp quốc tế đương đại”, yêu sách đường lưỡi
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">Lập luận thứ hai được các học giả Trung Quốc sử dụng dé giai thich về
đường lưỡi bò là do đường này được vẽ ra từ năm 1947, do đó Trung Quốc có
bò, coi biển Dong như một vịnh lich sử”, và đường này sẽ được ngộ nhận như là đường biên giới trên biển của Trung Quốc“. Tuy nhiên, theo luật pháp quốc tế
<small>một vịnh hay một vùng nước sẽ được hưởng danh nghĩa lịch sử khi vịnh hay</small>
<small>vùng nước đó phải thỏa mãn 2 tiêu chí sau đây“:</small>
1. Quốc gia yêu sách phải thực sự xác lập chủ quyền của mình một cách
<small>liên tục, hịa bình và lâu đài ở trên đó;</small>
2. Có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các
quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giéng và có quyền lợi tại vùng biển này. * Về điều kiện thứ nhất
Xác lập chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thé là nhăm xách định danh nghĩa của quốc gia đối với một vùng lãnh thổ nhất định nào đó, việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ phải được thực hiện dựa trên cơ sở các phương thức thụ đắc hợp pháp do Luật quốc tế quy định.
Thụ đắc lãnh thổ là việc thiết lập ranh giới địa lý chủ quyền của một quốc
gia đối với một vùng lãnh thé mới theo những phương thức phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc tế”. Một phương thức thụ đắc lãnh thổ được coi là hợp
pháp khi: (i) nó được tiến hành trên một đối tượng lãnh thé phù hợp (đối tượng
thụ đắc của phương thức chiếm cứ hữu hiệu phải là lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh
thổ bị bỏ rơi); (ii) Chủ thé xác lập danh nghĩa chủ quyền phải có tư cách quốc
gia (iii) và được thực hiện theo đúng cách thức mà pháp luật quốc tế về thụ đắc lãnh thé đòi hỏi.
Liên quan đến các phương thức thụ đắc lãnh thổ, hiện nay, khoa học pháp
lý quốc tế ghi nhận 2 phuơng thức chính, đó là: phương thức chiếm cứ và
phương thức thụ đắc dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện.
<small>“ Nhiều tác giả (2012), Bằng chứng lich sử và cơ sở pháp lý: Hoàng Sa, Trường Sa là của việt Nam, Nxb trẻ TP.</small>
<small>Hồ Chí Minh (tái ban lần thứ nhật)</small>
<small>“6 Xem hitp://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/737-nguvn-ba-din</small>
<small>Trang| 267</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">- Xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng phương thức chiếm cứ: Chiém cứ lược _ hiểu là hành động của một quốc gia nhằm mục đích thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vốn không phải là bộ phận của lãnh thổ quốc gia
với ý nghĩa thụ đắc lãnh thổ đó.
<small>gia nào.</small>
Trong luật quốc tế hiện nay đang tổn tại hai hình thức chiếm cứ đó là: chiếm cứ hình thức (danh nghĩa) và chiếm cứ hữu hiệu (thật sự).
+ Chiém cứ hình thức (chiếm cứ danh nghĩa)
Phương thức này yêu cầu quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thé mới, nếu muốn xác lập chủ quyền của mình trên đó phải để lại “đấu vết” trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện. Các “dấu vết” truyền thống có thể tìm thấy như: sự
biện điện của các cột mếc, bia chủ quyền hay bất kì đấu hiệu nào khác có giá trị pháp lý. Như vậy, chiếm cứ hình thức khơng đòi hỏi quốc gia phát hiện ra vùng
lãnh thé mới phải có các hoạt động thực tiễn nhằm thiết lập và duy trì quyền lực
<small>của mình ở trên do. </small>
-+ Chiém cứ hữu hiệu (chiếm cứ that sư)
Thuyết chiếm cứ hình thức (danh nghĩa) áp dụng được một thời gian thì
càng ngày càng bộc lộ những nhược điểm và tiềm ân những nguy cơ tranh chấp giữa các quốc gia. Những luật gia đương thời cho rang việc phát hiện ra một vùng lãnh thô mới nhưng chủ để lại những dấu hiệu nhận biết đơn thuần thì chỉ đem lại cho quốc gia phát hiện vùng lãnh thé một danh nghĩa phơi thai, chưa hồn chỉnh. Danh nghĩa này có thể bị mất đi nếu như nó khơng được củng cỗ bằng những hành động thực tế tích cực, thường xuyên của quốc gia đó. Do đó chủ quyền muốn được xác lập thì phải là “thật sự”, có hiệu quả tức là địi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh thé đó.
Nghị quyết 2625 của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 244/10/1970 ghi nhận: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm
<small>Trang| 268</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương Liên hợp
quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu
từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm vi phạm sự tôn tại của các đường biên giới của các quốc gia khác, hoặc sử dụng như là các biện pháp giải
quyết tranh chấp quốc tế bao gồm các tranh chấp về lãnh thổ và các van đề liên
quan đến biên giới của các quốc gia "3.
Qua thực tiễn quốc tế giải quyết tranh chấp lãnh thé của các quốc gia, các
cơng trình nghiên cứu bổ sung của nhiều luật gia có thể rút ra nội dung chính của nguyên tắc chiếm cứ thật sự 1a:
- Hành vi chiếm cứ phải đúng đối tượng và bằng các biện pháp hịa bình. Mọi hành động sử dụng vũ lực để chiếm cứ một vùng lãnh thé của quốc gia khác đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế;
- Hành vi chiếm cứ phải được thực hiện mang tính chất quốc gia nghĩa là
chính quốc gia phải là chủ thé thực hiện hành vi chiêm cứ đó. Hành vi chiếm cứ
được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, các nhân viên nhà nước hoặc một tô chức cơng được nhà nước đó ủy quyền. Như vậy, hành vi chiếm cứ nhân danh cá nhân sẽ không tạo ra danh nghĩa chủ quyền lãnh thé. Bởi vì cá nhân không
- Hành vi chiếm cứ của quốc gia phải là thực sự. Điều này có nghãi rằng, hành vi chiếm cứ của quốc gia không chỉ dừng lại ở việc để lại các “dấu vết” mà quốc gia phải thiết lập và duy trì trên thực tế hoạt động của các cơ quan nhà
nước trên lãnh thơ đó; tiến hành khai thác các tiềm năng kinh tế, thể hiện vùng lãnh thổ đó trên bản đồ hành chính của quốc gia...Một tuyên bố chiếm cứ không kèm theo hành động cụ thé chi là một sự phát hiện đơn giản và không đủ để tạo thành danh nghĩa chủ quyền cho quốc gia đó;
<small>“8 Xem 269</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">- Hành vi chiếm cứ phải được thực hiện với mục đích tạo ra một danh
nghĩa chủ quyên;
- Sự chiếm cứ phải được tiến hành một cách hòa bình, liên tục trong một thời gian đài khơng có tranh chấp;
- Xác lập chủ quyên lãnh thổ thông qua sự thỏa thuận tự nguyện
Là phương thức thụ đắc lãnh thé bằng sự chun giao một cách hịa bình danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ từ quốc gia này sang quốc gia khác thơng qua các hình thức chuyển nhượng, mua bán, trao đổi lãnh thổ. Hình thức thỏa thuận thơng thường được tiến hành thơng qua việc kí điều ước quốc tế giữa các bên trong đó miêu tả rõ ràng về vùng đất mà accs bên thỏa thuận chuyên giao cũng
như các điều kiện có liên quan.
Tuy nhiên trong trường hợp tranh chấp chủ quyền của các bên tại biển Đông sẽ không thể áp dụng phương thức xác lập chủ quyền lãnh thé thông qua
yêu là Việt Nam và Trurg Quấc) đều đưa ra các bằng chứng nhằm chứng minh việc xác lập chủ quyền của mình đối với các đảo trong biển Đông thông qua
phương thức chiếm cứ hữu hiệu.
Trở lại với yêu sách của Trung Quốc, có thể thấy rằng, khơng có một bằng chứng nào trong lịch sử Trung Quốc khang định sự chiếm cứ thực sự của
<small>Trang| 270</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">Trung Quốc bắt đầu từ phia Nam dao Hai Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó Hgược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ ". Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc về Việt Nam, khơng cịn là đất vơ chủ”. Ngược lại, vào cùng thời điểm, phía chính quyền Việt Nam đã có những hoạt động thiết lập chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hồng Sa và Trường Sa, điển hình là hoạt động của các hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải của nhà
Nguyễn. Về mặt quản lý hành chính, Hồng Sa được các chính quyền của Việt
Nam đặt dưới sự quản lý hành chính của Quang Ngãi (khi là phủ hay là tran hay tỉnh qua từng thời kỳ) hoặc của tỉnh Thừa Thiên huế (thời Pháp thuộc) hoặc của
tinh Quảng Nam — Da Nẵng (thời kì thống nhất đất nước). Việc xác nhận sự
quản hat này đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện và sách địa lý như: Hoang Việt Địa Dư chi hoặc Đại Nam Nhất Thống Chí dưới triều Nguyễn, trong các dụ, sắc lệnh, quyết định của chính quyền Việt Nam...
Ngồi ra, đường đứt khúc 9 đoạn do Trung Quốc đưa ra cũng không phải là một đường có tính 6n định, liên tục vì đã có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau. Sự thay đôi này được các học giả Trung Quốc gọi là “những điều chỉnh
cân thiết trong tương lai”. Tuy nhiên, xét về bản chất, một con đường như vậy
không thể coi là đường biên giới quốc gia theo luật pháp quốc tế, vì đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới chính là sự én định và dứt khoát, ngay
cả khi xuất hiện những sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh - điều khoản Rebus sic
stantibus”!- đường biên giới vẫn không thé thay đồi.
* Về điều kiện thứ hai
Mặc dù các học giả Trung Quốc cho rằng "đường lưỡi bò" đã tồn tại từ lâu và không bị quốc gia nào phản đối, tuy nhiên, trên thực tế "đường lưỡi bò" trước đây chỉ xuất hiện trong một bản đồ tư nhân (không phải là yêu sách chính thức của nhà nước Trung Quốc) nên các quốc gia khác không thể bày tỏ quan
<small>diém của mình một cách chính thơng. Hơn nữa, tại Hội nghị San Francisco“Xem thêm: Nhiều tác giả (2012), Bang chứng lịch sử và cơ sở pháp lý: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam,Nxb trẻ TP. Hồ Chi Minh (tái ban lần thứ nhất), tr.240-241.</small>
<small>?9 Nhiều tác giả (2012), Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp ly: Hoàng Sa, Ti rường Sa là của việt Nam, Nxb trẻ TP.Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ nhất), tr. 240-244.</small>
<small>>! Xem Điều 62 Công ước Viên 1969 vẻ Luật điều ước quốc tế</small>
<small>Trang| 271</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">1951, các quốc gia thành viên cũng đã bác bỏ dé nghị về chủ quyền của Trung
của Trung Quốc không chạy theo một trong những phương pháp xác định đường cơ sở cho các quốc gia lục địa theo quy định của UNCLOS 198232, mà lại chạy
theo cách thức vạch đường co sở được quy định riêng cho các quốc gia quần đảo” Từ những lập luận trên có thể khang định rằng, yêu sách về đường lưỡi bò của Trung Quốc chỉ là yêu sách đơn phương, mang tính chất tùy tiện, khơng có <small>cơ sở. Nội dung u sách và các lập luận không phù hợp với các quy định của</small> pháp luật quốc tế (cụ thể là UNCLOS 1982), đo đó khơng có giá trị pháp lý.
Một số quan điểm gần đây cho rằng các quốc gia trong biển Đơng (trong
<small>2 Đối với các quốc gia lục địa (không phải quốc gia quần đảo), ƯNCLOS 1982 ghi nhận hai pương pháp vạch</small>
<small>đường cơ sở chủ yêu là phương pháp đường cơ sở thông thường tại Điều 5 và đường cơ sở thăng tại Điều 7, hoặctrong trường hợp đặc biệt quốc gia cũng có thé vạch đường cơ sở kết hợp cả hai phương pháp nay theo quy định</small>
<small>tại Điều 14.</small>
<small>53 Theo quy định của UNCLOS 1982, chỉ các quốc gia quần đảo mới được vạch đường cơ sở quần đảo theo quy</small>
<small>định tại Điều 47 UNCLOS 1982.</small>
<small>54 Xem thêm các Điều 15, 74 và 83 về phân định các vùng Lãnh hải, Đặc quyén kinh tế và Thêm lục địa.</small>
<small>Tran;g| 272</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">không thể đặt ra vấn dé phân định biển đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi vì phân định biển chỉ được đặt ra khi vùng biển của các quốc gia có sự chồng lấn hoặc đối điện nhau, tuy nhiên với những chứng cứ pháp lý được
đưa ra có thé thấy rằng khu vực biển mà Trung Quốc yêu sách không phải là
một vùng biển chồng lấn, chính vì vậy khơng thé đặt ra vấn dé phân định biển
các quốc gia liên quan đã thừa nhận tính hợp pháp của đường lưỡi bò của Trung Quốc, trong khi điều này là khơng tưởng.
KET LUẬN
Là một quốc gia có diện tích lớn, đường bờ biển đài và có nhiều đảo ven bờ, đồng thời là một thành viên của UNCLOS 1982, Trung Quốc hồn tồn có
chủ quyén và quyên tài phán theo quy định của pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, có thê thấy rằng, Trung Quốc đã khơng hồn tồn tn thủ các quy định này, thậm chí cịn đưa ra những “u sách” nhằm mở rộng hơn nữa lãnh thổ biển của mình một cách phi lí, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các quốc gia khác quanh
điều ước và phải được các bên thi hành với thiện y và một bên không thé viện
những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lý do dé khơng thi hành
một điều ước. Điều này có nghĩa là, việc tuân thủ một cách nghiêm túc và trung thực các cam kết quốc tế được xác định là nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia, chính vì vậy, việc Trung Quốc đưa ra cách xác định hệ thống các đường cơ sở
và yêu sách chủ quyền với 80% khu vực biển Đông là đi ngược lại với những cam kết quốc tế của Trung Quốc khi gia nhập UNCLOS 1982 và Tuyên bố DOC
của các bên trong biển Đông. Việc giải quyết các tranh chấp biển liên quan giữa Trung Quốc với các bên là cần thiết nhằm đảm bảo an ninh, ôn định trong khu
vực, tuy nhiên đây không phải là câu chuyện một sớm một chiều mà cần có sự
<small>Trang| 273</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">THỰC TIEN XÁC LAP DUONG CƠ SỞ VA CÁC VUNG BIEN
<small>NCS. ThS. Pham Hàng Hạnh!</small>
<small>Trường Dai học Luật Hà Nội</small>
Đông Nam Á là khu vực nằm ở phía Nam của lục địa A — Âu, với tổng
diện tích trên 40 triệu km?. Khu vực Đơng Nam Á có 11 quốc gia bao gồm:
<small>Bru-nay, Campuchia, Lào, Myanma, Ma-lai-xi-a, Singapore, Phi-lip-pin, Inddnésia,</small>
Thai Lan, Viét Nam va Déngtimo. Dac diém tu nhién cua luc dia Dong Nam A là nhiều núi, nhiều sông lớn và đồng bằng phù sa với khí hậu nhiệt đới âm gió mùa. Biển đảo của khu vực này lại có đặc điểm là sự xuất hiện của rất nhiều đảo với nhiều núi lửa và tài nguyên biển phong phú với nhiều khoáng sản, thủy hải
<small>sản và các loại tài nguyên khác. Trừ Lào, các nước còn lại ở khu vực Đông Nam</small>
A đều tiếp liền với biển.
Hầu hết các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đều áp dụng phương pháp đường cơ sở thắng dé xác định đường cơ sở. Các quốc gia xác định đường cơ sở thăng đều có điềm chung về địa hình bờ biển (lồi lõm, khúc khuyu, hình
những đặc điểm như vậy, các quốc gia xác định đường cơ sở thắng trong khu vực Đơng Nam Á đều vận dụng một cách có hiệu quả các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biến 1982 (UNCLOS 1982) mà cụ thể đó là quy định tại Điều 7 của Cơng ước. Bên cạnh đó, các điều ước quốc tế liên quan đến việc xác định ranh giới trên biển giữa quốc gia ven biển và các quốc gia khác có liên quan cũng có vai trị rất quan trọng trong việc xác định các điểm được chọn trong hệ thống đường cơ sở mà các quốc gia đã đưa ra tuyên bố.
I. ĐƯỜNG CƠ SO CUA CÁC QUOC GIA LUC DIA
<small>1. Bru-nay</small>
Bru-nay là một quốc gia nằm trên đảo Borneo, được bao quanh bởi
Ma-lai-xi-a, nằm giữa 114004” kinh tuyến Đông và 4°00 và 5°05 vi độ bắc. Tổng
diện tích của Bru-nây là 5765km với đường bờ biển phía Bắc đài khoảng 161km
<small>! Giảng viên Bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">đọc theo biển Đông, gần với các tuyển đường biển quan trọng nối An Độ va Thái Bình Dương?. Quốc gia này phê chuân UNCLOS 1982 vào ngày
<small>vịnh Bm-nâv.</small>
Phan bờ biển tiếp liền với biển Đông cũng chưa có bat cứ tun bố nào từ
phía Bru-nây cho thấy quốc gia này xác định đường cơ sở thông thường hay
quốc gia nay đưa ra tuyên bố chung rằng đường cơ sở của minh sẽ được vạch
nước thủy triều xuống thấp nhất tại các rạn san hô; ngắn nước thủy triều xuống
<small>Kuala seria bdo * Kampong = % Bangar z.</small>
<small>BSeiai Lamunin ở Lismbaragy e</small>
<small>foam aim ba ny, lì SORE AOE k -..xã Ề 7 3</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">Nhìn vào địa hình của bờ biển Bru-nay, ta nhận thấy tồn bộ 161km đường bờ biển tương đối bằng phang, địa hình bờ biển cũng khơng có những cau trúc phức tạp hay sự lồi lõm. Đúng theo quy định tại Điều 5 UNCLOS 1982, đường cơ sở thông thường dé xác định chiều rộng lãnh hải của Bru-nây chính là ngắn nước thủy triều xuống thấp nhất chạy đọc theo bờ biển, theo tuyên bố năm 1983 của Bru-nây, quốc gia này sẽ tiến hành cơng bố chính thức về đường cơ sở trên hải đồ tỷ lệ lớn sau khi được các Bộ có liên quan xác định và được quốc vương của nước này chấp nhận. Tháng 8/2012, Ủy ban Pháp luật Quốc tế đã đưa ra báo cáo mới về đường cơ sở thông thường của các quốc gia. Báo cáo tập trung chủ yếu vào việc phân tích và làm rõ các quy định của Luật quốc tế về đường cơ sở thông thường, đánh giá sự cần thiết của việc làm rõ các quy định của pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn tuyên bố của quốc gia về đường cơ sở thông thường. Trên cơ sở các quy định của Luật quốc tế cũng như tuyên bố và thực tiễn xác định của quốc gia, Uy ban đã tiến hành xác định được 4 phương
pháp thường được các quốc gia tiếp cận khi xác định đường cơ sở thông thường:
đường cơ sở thông thường không được các quốc gia ghi nhận bang hải dé;
đường cơ sở thông thường được quốc gia ghi nhận trên hải đổ; đường cơ sở
thông thường được ghi nhận trong một tài liệu để tham khảo có ngụ ý đến đường cơ sở thông thường: quốc gia không sử dụng đường cơ sở thông thường. Các chuyên gia cho rằng đường cơ sở của Bru-nây thuộc vào loại đường cơ sở thứ 3 (đường cơ sở thông thường được ghi nhận trong tài liệu tham khảo để ngụ ý về
<small>đường cơ sở chính thức). Một trong những tài liệu khơng chính thức được lưu ý</small>
tới trong trường hợp của Bru-nây đó là các tam ban đồ được đưa ra trong 2 năm 1987 và 1988 bởi nhà xuất bản Surveyor Genaral3. Nhà xuất bản này căn cứ vào các văn bản pháp lý được đưa ra bởi nước Anh (quốc gia đã tiến hành đô hộ Bm-nây trong hơn 90 năm), các tắm bản đồ này đưa ra tọa độ giới hạn vùng lãnh hải của Bru-nây. Ủy ban cũng ghi nhận vai trò quan trọng của Tuyên bố về
<small>chiêu rộng lãnh hải cũng như các điêu ước vê xác định thêm lục địa giữa </small>
<small>Bru-?R. Haller-Trost. JBRU Maritime Briefing 1994©. The Bru-nây-Ma-lai-xi-a Dispute over Territorial and</small>
<small>Maritime Claims in International Law.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">nây và Ma-lai-xi-a trong việc gián tiếp chứng minh cách xác định đường cơ sở thông thường của quốc gia này!.
<small>Dựa vào các quy định của UNCLOS 1982 và những căn cứ nêu trên cũng</small>
nhiên của bờ biển Bru-nây thì quốc gia này sẽ phù hợp với cách xác định đường cơ sở thông thường. Tuy nhiên, Công ước cũng không áp đặt bất cứ quy định
<small>các quyên tự do của mình trong các vùng biên này</small>
<small>2. Campuchia</small>
Campuchia là quốc gia láng giềng có chung cả đường biên giới trên bộ và
giáp biển với Việt Nam. Quốc gia nay có tổng diện tích là 181.035km?, trong đó
có diện tích nước là 4.520km2 va bờ biển dài 443km. Lịch sử phát triển của
<small>4 International law association. Baseline under the international law of the sea. Sofia Conference 2012.</small>
<small>Trang | 277</small>
</div>