Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (22.85 MB, 97 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>TRỊNH THỊ VINH</small>
HA NỘI - 2023
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>TRỊNH THỊ VINH</small>
<small>Mã số: 838 0101.03</small>
HÀ NOI - 2023
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Các</small>
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bat kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
<small>Tôi xin chân thành cảm on!</small>
<small>Trịnh Thị Vinh</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>luật hình sự Việt Nam ... - -- -- 2 2c 22.3 sEsrrrsrrrrrsrrrrrree 8</small>
1.1.1. Khai niệm đồng pha oi.c.cceccccecccccessessesssssssessessessessessessvessessessesseeseeses 8 1.1.2. Các hình thức đồng phạm...-- 2 - + + £+E£+E+£E+E++EEzEzEerxersree 11 1.2. Khai niệm, đặc điểm và ý nghĩa bảo vệ các quyền con người
bằng chế định đồng phạm đồng phạm theo pháp luật hình sự
<small>M6) ... 13</small>
1.2.1. Khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng chế định đồng phạm
<small>theo pháp luật hình sự Việt Nam...--.---- ---c+++<ss+seeseseererrke 13</small>
<small>phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam...- --.---++<<<c<+scessx 15</small> 1.2.3. Ý nghĩa bảo vệ các quyền con người bằng chế định đồng phạm
1.3.1. Tư tưởng bảo vệ quyền con người thé hiện qua nội dung chế định đồng phạm ngày càng hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp theo
<small>chuân mực quôc tê chung vê nhân quyÊn...---«++<-<<++<<s++ 18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><small>1.3.2.</small>
người đồng phạm và đưa ra các nguyên tắc xác định TNHS trong
Kết luận Chương ... 2-2 2E SE+EE+EE£EE£EEEEEEEEEEEE1712217171 111.1 xe.
<small>"208/21/20 001ẺẼẺ58...</small>
Chế định đồng phạm trong BLHS năm 2015, sửa đổi, bé sung
<small>MAM VN...</small>
cấp tỉnh Dak Lắk giai đoạn 2018-2022...--- 2-55 csccxccez
các quyền con người khi áp dụng các quy định về đồng phạm
khi áp dụng các quy định về đồng phạm tại Tòa án hai cấp tỉnh Đắk Lắk đoạn 2018-2022...-...:--ccccccvvttrrkttrrrrrtrrrrrrrrrrrrree Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong việc bảo vệ
án hai cấp tỉnh Dak Lak đoạn 2018-2022...--- 2 2 2 s+cs+zszez
phạm trong Bộ luật hình sự năm 2015 nhằm tăng cường bảo
<small>vệ các quyền con nØưỜi... ..- - -- c + xxx ng re.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">3.2. Kiến nghị hoàn thiện chế định đồng phạm trong Bộ luật hình
<small>sự Việt Nam 2015 theo hướng tăng cường việc bảo vệ các</small>
trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 nhằm tăng cường
„8000.9077... . -:1 ... 86
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
có của tất cả mọi người, được thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thông pháp luật quốc gia và quốc tế.
hộ về mặt pháp lý (khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013). Thơng qua các
trong đó, là cơng nhận, tơn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Cụ thé, Hiến pháp (năm 2013) đã hiến định quyền con người, quyền công dân thành một Chương (Chương 2) quan trọng và bảo vệ băng điều khoản trực tiếp, rằng quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
Hiến pháp năm 2013). BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nói chung và về chế định đồng phạm nói riêng đã có những sửa đơi, bổ sung
mà Việt Nam đã tham gia và ký kết.
Tại Đắk Lắk, thực tiễn xét xử giai đoạn 2018-2022 cho thấy các vụ án đồng phạm ngày càng gia tăng và có tính chất ngày càng phức tạp. Việc giải quyết các vụ án đồng phạm đòi hỏi xác định đúng vai trị, tính chất hành vi, mức độ tham gia vụ án của từng người đã góp phần khơng nhỏ vào việc bảo
nguyên nhân khách quan và chủ quan. Việc nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ về
<small>mặt lý luận và thực tiên vê bảo vệ các quyên con người băng chê định đơng</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và đưa ra các giải pháp, kiến
phạm trong luật hình sự Việt Nam nham tăng cường bảo vệ các quyền con
<small>với các địa phương hiện nay.</small>
Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Bao vệ các quyên con
sở thực tiên xét xử tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018-2022)” làm Luận văn Thạc sỹ Luật học (chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự) nhằm góp
<small>2. Tình hình nghiên cứu</small>
giới nghiên cứu hàn lâm và thực tiễn quan tâm nhiều năm qua. Tuy nhiên, các
<small>nghiên cứu quan trọng này tập trung vao làm rõ khái niệm, phân loại và xác</small>
định cơ cấu của đồng phạm. Cùng với xu hướng tồn cầu hóa và chính sách hội nhập của Việt Nam, quyền con người trong tư pháp hình sự cũng đặc biệt
<small>lĩnh vực tư pháp hình sự</small>
1) Lê Cảm, Nguyễn Trọng Điệp (đồng chủ biên) (2021), Bảo vệ các quyên con người bằng pháp luật hình sự thực định Việt Nam (Sách chuyên khảo), NXB Chính tri Quốc gia sự thật, Hà Nội;
2) Lê Cảm (2006), “Những van dé lý luận về bảo vệ các quyên con người
luật tổ tụng hình sự”, Tạp chi Khoa học Dai học Quốc gia Ha Nội — Chuyên
4) Nguyễn Quang Hiền (201 1), “Bảo vệ các quyển con người của bị hại
<small>pháp hình sự</small>
<small>1) Lê Cam (chủ biên) (2003), Gido trình Luật hình sự Việt Nam, NXB</small>
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Trong đó có xây dựng cơ sở lý thuyết về đồng phạm (Chương XIII);
sự, tập IV - Các quy định về đồng phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội;
4) Lê Văn Cảm (2003), “Các quy định về dong phạm và mơ hình ly luận cua nó trong Luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Dan chủ và pháp luật, Số 8;
<small>chuyên san Luật học.</small>
phạm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2019;
7) Trần Quang Tiệp (2019), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam,
<small>NXB Tư pháp, Ha Nội;</small>
8) Phí Thành Chung (2016), Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm
<small>Hà Nội;</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">9) Pham Thị Thu Thùy (2021), Mot số vấn đề lý luận và thực tiễn về các loại người đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam (từ thực tiễn xét
<small>Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội.</small>
Tuy nhiên, hầu hết các cơng trình trên đều nghiên cứu trước thời điểm BLHS năm 2015 (sửa đôi năm 2017) được ban hành. Đặc biệt, liên quan đến
về tội phạm giữa các địa phương trong cả nước.
<small>3. Mục đích nghiên cứu</small>
đoạn 2018 - 2022, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất các kiến nghị
về “đồng phạm” trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 và một sé giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật được thống nhất nâng cao hiệu quả bảo vệ
Luận văn tập trung làm rõ một số van đề lý luận, pháp lý và quy định của BLHS và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan đến bảo vệ các quyền con người bằng chế định về “đồng phạm” trong Bộ luật hình sự
<small>Việt Nam năm 2015. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật hình</small>
định về “đồng phạm” trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 05 năm (2018 - 2022), chỉ ra một số tồn tại, hạn chế
<small>và các nguyên nhân cơ bản.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>4.2. Phạm vi nghiên cứu</small>
van đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng chế định về “đồng phạm”
<small>trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015.</small>
Về giới hạn không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về bảo vệ các quyền con người băng chế định “đồng phạm” trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 trên địa bàn tinh Dak Lak.
Về giới hạn thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu trong
<small>5. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu</small>
<small>5.1. Cơ sở lý luận</small>
chung Luật hình sự, cũng như chế định lớn về tội phạm và chế định nhỏ về đồng phạm nói riêng. Đặc biệt, những luận điểm trong luận văn này tác giả
sư, Tiến sỹ khoa học Lê Văn Cảm, đó là: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Giáo trình sau đại học, từ trang 290 đến trang 439, Nhà xuất
hình sự thực định Việt Nam (Sách chuyên khảo từ trang 34 đến trang 201,
Ngồi ra, luận văn được nghiên cứu dựa trên các quan điểm của Dang và Nhà nước về tội phạm, về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như các thành tựu khoa học khác như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự và những luận điểm khoa học trong các cơng trình nghiên cứu,
<small>trong lĩnh vực tư pháp hình sự.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>5.2. Phương pháp luận</small>
<small>Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận</small>
của Triết học Mác — Lénin, trực tiếp sử dụng các phương pháp của triết học
và thực tiễn, phương pháp lich sử cụ thể, phương pháp phân tích và tổng hop.
<small>5.3. Phương pháp nghiên cứu</small>
<small>Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả sử dụng các phương phápnghiên cứu như: phương pháp phân tích - chứng minh, logic, phương pháp</small>
thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu,
<small>phương pháp lịch sử.</small>
<small>pháp đảm bảo tăng cường hiệu quả trong việc xét xử”, ngoài sử dụng các</small>
<small>phương pháp trên, tác giả còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn xét xử</small>
của Tòa án tại một số huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh Đắk Lắk; nghiên cứu Hiến pháp, BLHS, các văn bản pháp luật liên quan, các hồ sơ các vụ án;
<small>tham khảo các cơng trình khoa học trong nước có liên quan.</small>
đoạn năm 2018-2022” đi sâu vào nghiên cứu, phân tích nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận việc bảo vệ các quyền con người bằng các quy định về đồng phạm trong BLHS Việt Nam năm 2015 (được sửa đôi, bổ sung năm 2017).
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về mặt lý luận, pháp lý một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về áp dụng
<small>các quy định vê đông phạm nhăm tăng cường bảo vệ các quyên con người và</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">đưa ra các giải pháp hoan thiện BLHS Việt Nam năm 2015 (được sửa đổi, bố sung năm 2017).
băng quy định về đồng phạm trong BLHS Việt Nam năm 2015 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn năm 2018 đến năm 2022. Qua đó, xác định những tôn tai, hạn chế, nguyên nhân của chúng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện, cũng như các giải pháp đảm bảo tăng cường hiệu quả bảo vệ các quyền
con người trong việc xét xử về đồng phạm.
<small>Ngoài ra, Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập</small>
dụng chế định đồng phạm trên cơ sở bảo vệ các quyền con người.
Trong thực tiễn học thuật, Luận văn có thé được dùng làm tài liệu tham
<small>khảo cho các học viên cao học va nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình</small>
sự, tố tụng hình sự và Tội phạm hoc tại các cơ sở đào tạo luật trên cả nước. 7. Kết cầu của luận văn
Chương 2: Thực tiễn bảo vệ quyền con người bằng chế định đồng phạm theo Bộ luật Hình sự năm 2015 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn
<small>2018 -2022).</small>
<small>nhăm bảo vệ các quyên con người.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>CHƯƠNG 1</small>
HINH SU VIET NAM
1.1. Khái niệm đồng phạm, các hình thức đồng phạm theo pháp
<small>luật hình sự Việt Nam</small>
đồng phạm đã được luật hình sự Việt Nam quy định từ rất sớm. Trong thời kỳ từ sau Cách mang tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất,
luật hình sự Việt Nam mới chỉ xem xét đồng phạm ở một số khía cạnh trừng trị tội phạm và chưa quy định về khái niệm đồng phạm. Lần đầu tiên khái niệm đồng phạm chính thức được quy định tại khoản 1 Điều 17 BLHS năm
1999 sửa đôi khái niệm đồng phạm: “Đồng phạm là trường hợp có hai người
sửa đổi năm 2017 (được viết tắt là BLHS năm 2015) đã kế thừa toàn bộ định nghĩa của BLHS năm 1999 về đồng phạm: “Đồng phạm là trường hợp có hai
người trở lên cổ ý cùng thực hiện một tội phạm. ”
Trên cơ sở khái niệm đồng phạm được quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 và khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 cho thấy đồng phạm
Thứ nhất, đồng phạm địi hỏi phải có sự tham gia của hai người trở lên <small>vào việc thực hiện một hay nhiêu tội phạm; dâu hiệu vê sô lượng chủ thê là</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">van đề đáng lưu ý nhất trong vụ án đồng phạm. Những chủ thé này phải thỏa
Trong vụ án có nhiều người tham gia thực hiện, nhưng chỉ có một
phạm thì khơng thể coi là vụ án đồng phạm, mà được coi là phạm tội đơn lẻ. Những vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm, nếu có hai người
phạm thì khơng bị coi là người đồng phạm.
Thứ hai, những người đồng phạm đòi hỏi phải cùng chung hành động hay liên hiệp, phối hợp hành động của những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Nghĩa là, mỗi người đồng phạm phải có ít nhất một trong các <small>hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, hoặc là hành vi thực hành, hoặc</small>
là hành vi tổ chức, hoặc là hành vi giúp sức, hoặc là hành vi xúi giục.
Thứ ba, giữa hành vi phạm tội của mỗi người và hậu quả phạm tội
chung xảy ra nhất thiết phải có mối quan hệ nhân qua. Nghĩa là, dù trực tiếp
<small>ra hậu quả chung của vụ án.</small> Về mặt chủ quan
<small>trên hai mặt lý trí và ý chí như sau:</small> (i) Về lý trí
<small>cho xã hội của hành vi của minh.</small>
<small>khác cũng có hành vi nguy hiêm cho xã hội cùng với mình.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">Ba là, mỗi người đồng phạm thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội
<small>của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của những người cùng tham</small>
<small>gia phạm tội.</small>
hoặc lỗi cô ý gián tiếp [23, tr.28].
Thứ hai, về mục đích phạm tội trong đồng phạm: đối với những tội có mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, thì những người đồng phạm phải có
Dựa vào bản chất pháp lý của đồng phạm, qua các dấu hiệu khách quan và chủ quan của đồng phạm cho thấy khái niệm đồng phạm trong PLHS nước ta cịn có nhiều điểm hạn chế. Theo đó, sau đây là hai quan điểm nổi bật về
“dong phạm là hình thức phạm tội do có y được thực hiện với sự cổ ý cùng tham gia của từ 02 chủ thể phạm toi trở lên” [11, tr.721].
Trên cơ sở tham khảo quan điểm của các tác giả và qua các dấu hiệu cơ bản của đồng phạm thì theo quan điểm của tác giả khái niệm khoa học về
“Đồng phạm là hình thức phạm tội có từ hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cổ ý”.
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">1.1.2. Các hình thức đồng phạm
Việc phân tích khoa học các quy phạm pháp luật có liên quan đến đồng phạm và thực tiễn, đồng phạm có thể phân thành 03 hình thức đồng phạm: (1)
còn gọi là phạm tội có tơ chức [11, tr.422].
được hiểu “2à hình thức phạm tội khơng có sự thông mưu trước của những
<small>người cùng thực hiện tội phạm” [ I1, tr.422-423]. Lý luận luật hình sự và thực</small>
tiễn áp dụng pháp luật hình sự thì hình thức đồng phạm đơn giản có đặc điểm riêng về mặt khách quan và chủ quan với các dấu hiệu cơ bản sau:
bàn bạc cũng như sự phân công vai trò, mà tất cả đều tham gia với vai trò là người thực hành (đồng thực hanh), nghĩa là bang hành vi của mình (một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp) thực hiện tội phạm.
b) Đồng phạm phức tạp
Đồng phạm phức tạp là một trong các loại đồng phạm được chia theo
xúi giục, người giúp sức. Trong đồng phạm phức tạp, ngồi người giữ vai trị là người thực hành, là người trực tiếp thực hiện tội phạm cịn có những người khác tham gia giữ các vai trò khác nhau: tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức...
Lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự thì hình
<small>với các dâu hiệu cơ bản sau:</small>
<small>11</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Về mặt khách quan, những người đồng phạm có sự bàn bạc trước về
phân cơng vai trị, mặc dù sự bàn bạc và phân công này chưa cụ thê và đầy
trường hợp họ đều có vai trị là những người cùng thực hiện tội phạm bằng <small>chính hành vi của mình.</small>
quá trình bàn bạc kế hoạch và phân cơng vai trị đã tạo nên mối liên hệ ở một mức độ nhất định mặc dù có thể chưa chặt chẽ và bền vững đến mức như
c) Dong phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức)
cho thấy, phạm tội có tơ chức nếu hiểu một cách đầy đủ và tồn diện hơn đó là “hình thức phạm toi đặc biệt có sự cấu kết chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc cua các thành viên cùng một tổ
<small>chức tơi phạm” [11, tr.424].</small>
Hình thức đồng phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức) có đặc điểm riêng
biệt (phạm tội có tô chức) là:
- Trước khi phạm tội, thông thường đã hình thành một tổ chức tội phạm
<small>với các quy mơ lớn, nhỏ khác nhau của những người cùng có ý định phạm tội.</small>
- Tổ chức tội phạm đó thường tồn tại một khoảng thời gian đủ dài nhằm thực hiện nhiều tội phạm (hay phạm tội nhiều lần);
phạm và giữa những người đồng phạm có sự phân cơng vai trị rất cụ thé.
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">Về mặt chủ quan, các dâu hiệu đặc trưng chung của đồng phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức) là:
- Theo TSKH.GS. Lê văn Cảm: “Sự có ý cùng liên kết về mặt ý thức
của họ chặt chẽ và bên vững hoặc rất chặt chẽ và rất bên vững ” [6, tr.22].
hình của hình thức phạm tội có tơ chức nên nó cũng đều có tất cả các dau hiệu đặc trưng khách quan và chủ quan của đồng phạm đặc biệt được phân
<small>tích như trên.</small>
tục, gây hậu quả nghiêm trọng, làm cho cuộc đấu tranh chống tội phạm trở nên khó khăn và tốn kém.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa bảo vệ các quyền con người bằng chế định đồng phạm đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam
<small>phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam</small>
một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu. Ở Việt Nam, nhận thức về vấn đề bảo vệ quyền con người ngày cảng được nhà nước
<small>quyên con người trong mọi lĩnh vực với sự giám sát chặt chẽ của lực lượng</small>
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">đông đảo quần chúng nhân dân. Sự nghiệp bảo vệ quyền con người đã trở
Luật hình sự được nhà nước sử dụng dé quy định những hành vi xâm
thé thực hiện hành vi phạm tội đó khi mà các chế tài pháp lý hay các quy tắc
phạm vi và nội dung của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự.
<small>Mặt khác, qua nghiên cứu tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm</small>
<small>hội hơn so với các vụ án phạm tội đơn lẽ. Việc pháp luật nhà nước ta ghi nhận</small>
chế định đồng phạm cũng chính là một hành động thé hiện sự bảo đảm về mặt nhà nước và pháp luật hình sự một cách trực tiếp và gián tiếp đến quyền con
hay quyền của những người đồng phạm trong vụ án hình sự như quyền được
<small>luật, không oan sai.</small>
năm vững nội dung, ban chất pháp lý chế định đồng phạm dé áp dụng đúng
về chế định đồng phạm một cách nghiêm chỉnh, thống nhất, minh bạch, đảm bảo tính bình dang, cơng bang, công minh, đồng thời ran đe giáo dục dé ngăn
<small>ngừa các hành vi phạm tội.</small>
Phạm vi bảo vệ quyền con người bằng chế định đồng phạm tuy có hẹp
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">nhận day đủ, chính xác về mặt kỹ thuật lập pháp theo các chuẩn mực quốc tế
nước ta dé làm cho các quy định về đồng phạm không những chỉ phù hợp với
pháp luật về các quy định đồng phạm một cách chính xác của các cơ quan bảo
<small>vệ pháp luật.</small>
Từ bản chất của nội dung bảo vệ các quyền con người băng chế định đồng phạm, có thé đưa ra khái niệm như sau: Bảo vệ các quyển con người bằng chế định đồng phạm là sự ghi nhận đây đủ, chính xác về mặt lập pháp
nhằm đảm bảo tính cơng bang, bình dang, nhân đạo và dân chủ vì con người trong các vụ án đồng phạm.
<small>phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam</small>
người bằng chế định đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam có các đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, đó là sự ghi nhận đầy đủ, chính xác về mặt lập pháp các quy định về đồng phạm. Khi chế định đồng phạm được pháp luật quốc gia ghi nhận
pháp và bảo vệ tối đa các quyền con người theo chuẩn mực quốc tế chung về nhân quyền bằng chính các quy định pháp luật về đồng phạm đó.
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Nam được hoàn thiện phù hợp với các văn bản quốc tế về nhân quyền trong
các quyền con người là các quyền tự nhiên, thiêng liêng vốn có của con người
văn bản quốc tế thuộc lĩnh vực hình sự của Liên hợp quốc. Sự ghi nhận quyền
hợp quốc, luôn tôn trọng và ghi nhận các điều ước quốc tế về nhân quyền. Do
Thứ ba, đó là việc thực thi, chấp hành và áp dụng các quy định pháp
quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong hoạt động tổ tụng hình sự. Việc quy
cách thống nhất, nghiêm chỉnh tránh sự tùy nghỉ của người tiễn hành tố tụng,
<small>tránh tình trạng áp dụng sai pháp luật.</small>
vì con người trong các vụ án đồng phạm. Đây chính là những quyền con người cơ bản và quan trọng nhất mà chế định đồng phạm theo pháp luật hình
<small>sự Việt Nam hướng tới bảo vệ.</small>
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">bố sung đã đánh dấu sự trưởng thành về mặt kỹ thuật lập pháp hình sự của
nước ta trong việc bảo vệ các quyền con người.
nước ta nhằm hướng tới việc khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, không kết tội oan và không để lọt tội phạm trong vụ án đồng phạm. Việc nhận thức đúng đắn bản chất pháp lý đồng phạm là cơ sở, tiền đề để áp dụng pháp
luật thống nhất và chính xác trong thực tiễn xét xử những vụ án đồng phạm, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự, đảm
<small>quan bảo vệ pháp luật và Tòa án.</small>
càng hoàn thiện nhằm đảm bảo việc thực thi, áp dụng các quy định về đồng phạm chính xác, đảm bảo tính cơng bằng, nghiêm minh bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự đối với các vụ án đồng phạm. Bỡi lẽ, Trong vụ án có đồng phạm có nhiều người tham gia, mỗi người
bảo tính cơng băng, nghiêm minh đối với người phạm tội.
Thứ ba, chê định đồng phạm vừa mang tinh rin đe, giáo dục, phòng ngừa chung đối với tội phạm, vừa mang tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Quyền con người là khách thé của tội phạm, bảo vệ quyền con nguoi Ở
nói chung và tội phạm đồng phạm nói riêng. Các quy định pháp luật về đồng
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">phạm là căn cứ pháp lý dé xử lý về hình sự đối với những trường hợp nhiều
cũng chính là bảo vệ quyền con người của người phạm tội. Như ta thấy, đồng phạm là một hình thức tội phạm mang tính nguy hiểm cao cho xã hội, thường gây ra hậu quả xấu, nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đối với xã hội. Vì vậy, những vụ án đồng phạm cần được nghiêm trị, đặc biệt là phải “nghiêm tri
ngừa chung đối với xã hội. Tuy nhiên, đối với những người đồng phạm có nhân thân tốt, tham gia với vai trị, vị trí thứ yếu cũng được pháp luật khoan hồng khi
đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam
trong Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) hay Hồng Việt luật lệ. Tuy
một số khía cạnh nhất định, vẫn chưa có quy định về khái niệm đồng phạm. Do ảnh hưởng của tư duy pháp luật châu Âu lục địa, nên trong các văn bản pháp luật hình sự ở thời kỳ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ nhất (Bộ luật Hình sự năm 1985)
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><small>sau: “những ke oa trữ các day điện thoại hay day điện tín cũng bị phạt như</small>
ngày 28/2/1946 truy tố các tội bắt cóc, tống tiền, ám sát quy định: “Những
<small>người tòng phạm hoặc oa trữ những tang vật của tội phạm trên cũng bị</small>
<small>phạt như chính phạm” [1, tr.104].</small>
Lần đầu tiên thuật ngữ “đồng phạm” xuất hiện trong Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ cơng quỹ:
“Người phạm tội cịn có thể bị xử, tịch thu nhiễu nhất là đến ba phan tư gia sản. Các đơng phạm và tịng phạm cũng bị phạt như trên” [1, tr.104]. Thuật
hình sự Pháp với nghĩa là đồng thực hành chứ không phải là đồng phạm theo <small>nghĩa hiện nay.</small>
<small>Pháp luật hình sự của Việt Nam ở giai đoạn từ sau Cách mạng tháng</small>
luật Hình sự năm 1985) có những quy định về đồng phạm. Tuy nhiên, các quy định về đồng phạm nói chung cịn hạn chế và chưa đầy đủ, chỉ tiết, chưa đưa ra được khái niệm đồng phạm. Song những quy phạm ban đầu nảy là tiền đề quan trọng dé các nhà lập pháp hậu bối xây dựng và hoàn chỉnh hơn chế định
BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của Việt Nam ra đời trên cơ sở của nền kinh tế bao cấp và thực tiễn của tình hình tội phạm thời kỳ đó — là lần pháp điển hóa pháp luật hình sự thứ nhất. BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn trực tiếp duy nhất của pháp luật hình sự Việt Nam.
xây dựng được khái niệm đồng phạm là một thành tựu lớn trong kỹ thuật lập
pháp hình sự, có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">hoạt động lập pháp hình sự Việt Nam. Thuật ngữ “đồng phạm ” được sử dụng
chính xác hơn, vì “dong phạm” ở đây chỉ sự kiện đồng phạm, quan hệ đồng
<small>XÚI giuc, người giup sức.</small>
điểm về kỹ thuật lập pháp, như cụm từ “hai hoặc nhiều người ”, có sự lặp lại
<small>cụm từ “cùng thực hiện một tội phạm ” chi bao hàm hành vi của người thực</small>
hành, không bao hàm hành vi của những người đồng phạm khác như người tô
<small>chức, người xúi giục, những người khác chỉ tham gia vào việc thực hiện tộiphạm đó, do vậy, thuật ngữ phù hợp nên là “cờng tham gia vào việc thực hiện</small>
<small>tội phạm” [10, tr.5].</small>
Tại khoản 4 Điều 17 BLHS năm 1985 quy định:
Khi quyết định hình phạt, xét đến tính chất đồng phạm và mức độ
<small>nặng, giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự riêng cho người</small>
đồng phạm nao thì chỉ áp dụng đối với người đó.
Tuy nhà làm luật đã xác định rõ TNHS và việc quyết định hình phạt đối
tham gia vào việc cùng phạm tội của từng người đồng phạm, song về khía cạnh TNHS và quyết định hình phạt trong đồng phạm là chưa đảm bảo được nguyên tắc phân hóa và cá thé hóa TNHS tối đa.
Đề khắc phục những nhược điểm của BLHS năm 1985, năm 1999, Việt
BLHS mới (BLHS năm 1999) được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ VI thơng
<small>qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 01/07/2000.</small>
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">này là chính xác về mặt khoa học. Tuy nhiên, BLHS năm 1999 vẫn giữ nguyên hạn chế của BLHS năm 1985 như giữ nguyên cụm từ “càng thực hiện <small>mot toi phạm.</small>
Dinh nghĩa pháp lý về người thực hành, người tổ chức và người xúi
chung chung và trừu tượng. BLHS năm 1999 vẫn chưa có định nghĩa pháp lý
về các hình thức đồng phạm khác (ngồi hình thức phạm tội có tơ chức), về tổ
TNHS của những người đồng phạm khác.
BLHS năm 1999 đã có sự thay đổi nhỏ về mặt kỹ thuật lập pháp khi
Sự thay đổi này thé hiện quan điểm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trước hết cần tuân thủ các nguyên tắc, các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt nói chung, áp dụng cho các trường hợp phạm tội riêng lẻ đã nêu tại Chương này, đây là điểm tiến bộ của BLHS năm
<small>1999 so với BLHS năm 1985.</small>
nhận hành vi vượt quá của người thực hành quy định tại khoản 4 Điều 17: “Người đồng phạm không phải chịu TNHS về hành vi vượt quá của người thực hành”. Đây là một điểm mới và tích cực của BLHS năm 2015 khi đã
<small>21</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">đối với hành vi vượt quá của người thực hành mà pháp luật hình sự trước đây
các nguyên tắc nhân đạo, cá thé hóa va phân hóa tối đa TNHS của PLHS
Thứ nhất, tư tưởng bảo vệ các quyền con người thông qua việc phân biệt loại người đồng phạm
Một tội phạm có thé do một người thực hiện hoặc có thé do hai hay
người tham gia thực hiện vụ án có đồng phạm đó được gọi là những người đồng phạm. Dưới gốc độ khoa học luật hình sự thì người đồng phạm có thể được định nghĩa “là người có ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý với những người khác và đóng vai trị là người thực hành, người tổ chức,
đồng phạm và phân biệt những loại người đồng phạm dé xem xét vai trị, tính
<small>Trên cơ sở thực tiễn xây dựng PLHS, thực tiễn xét xử của Tòa án và</small>
phạm gồm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Đồng thời, các quy định này cũng mô tả các dấu hiệu pháp lý của từng loại người đồng phạm.
<small>(i) Người thực hành</small>
Tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985, khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 và khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015 quy định: “người thực hành là
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">người trực tiếp thực hiện tội phạm ”. Có hai trường hợp được coi là người trực
Trường hợp thứ nhất, người tự mình thực hiện hành vi khách quan
<small>người thực hành tức là người thực hành thực hiện tồn bộ hành vi được mơ tả</small>
trong cau thành tội phạm. Khi đó, hành vi phạm tội của người thực hành cũng giống như hành vi phạm tội của cá nhân nhưng phải kê đến vai trò của những người tham gia vụ án khác cùng đồng phạm. Trong trường hợp vụ án đồng phạm có nhiều người thực hành (gọi là những người đồng phạm) thì có thé
loại đồng phạm: đồng phạm đơn giản (gồm nhiều người thực hành) và đồng phạm phức tạp (có nhiều người thực hành và gồm nhiều người thực hành). người tham gia, có thé là người tơ chức, người xúi giục hoặc người hỗ trợ).
Trường hợp thứ hai: Người không trực tiếp thực hiện hành vi được mơ
<small>hợp này thì những người bị lợi dụng lại không phải chịu TNHS cùng với</small>
Trong thực tế thường có những người bị lợi dụng dé thực hiện tội
<small>phạm nhưng khơng có lỗi như: 1) Người khơng có năng lực TNHS (như</small>
than); 2) Người chưa đủ tuổi chịu TNHS; 3) Người không có lỗi hoặc chỉ
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Người hành động trong tình trạng bị cưỡng bức về thân thể hoặc tinh thần
<small>nên được loại trừ TNHS....</small>
có sáng kiến thành lập băng, nhóm tội phạm, đề ra âm mưu, vạch ra đường lối, phương hướng hoạt động của nhóm đồng phạm, đồng thời cũng kích động, thúc đây đồng bọn hoạt động [17, tr.48]. Người chủ mưu có thể trực tiếp điều khiển hoạt động của tổ chức nhưng cũng có thé khơng tham gia tổ chức phạm tội. Như vậy, người chủ mưu có thể được hiểu là “kẻ lập mưu kế
<small>cho hành động phạm pháp trong một nhóm người [27, tr.240].</small>
2) Người cầm đầu:
Theo Từ điển Tiếng Việt “Cầm dau” được hiểu là “nắm quyên điều khiển, chỉ huy một đám người, một tổ chức (thường là phi pháp)” [21. tr.166]. Trong đồng phạm, người cầm đầu là người đứng ra thành lập các băng, 6,
trách nhiệm, đôn đốc đồng bọn thực hiện tội phạm. Trong thực tiễn, có trường
<small>sau khi băng, nhóm tội phạm được hình thành, nhưng được tín nhiệm cử vào</small>
bộ phận lãnh đạo, điều khiến chung của tổ chức. Khi được cử vào bộ phận
hướng chính cho tổ chức phát triển, hoạt động, ...
Nhu vậy, người cầm đầu khác người chủ mưu là người cam đầu luôn
tiếp tham gia cũng có thê khơng tham gia tổ chức phạm tội.
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><small>3) Người chỉ huy:</small>
Theo Từ điển Tiếng Việt “Chi uy” được hiểu là “điểu khiển sự hoạt
phạm, người chỉ huy là người giữ vai trò trực tiếp điều khiển việc thực hiện hoạt động phạm tội cụ thể của các băng, 6, nhóm tội phạm; trực tiếp đơn đốc đồng bọn làm theo mệnh lệnh của mình hay theo kế hoạch phạm tội mà tơ
<small>chức đã vạch ra.</small>
<small>(iii) Người xúi giuc</small>
Dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử cho
thấy, Người xúi giục là người có hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đây người
<small>khác thực hiện tội phạm.</small>
Xúi giục được hiểu là hành vi tác động đến tư tưởng của người khác, khiến người đó xuất hiện ý định phạm tội và thúc day việc thực hiện ý định phạm tội. Tuy nhiên, không phải người nào có hành vi xúi giục đều là người
xúi giục mà hành vi đó cần thỏa mãn các điều kiện như:
1) Hành vi xúi giục phải trực tiếp nhằm vào một người (hoặc một sỐ người) nhất định. Ngược lại, khi một người kêu gọi, hô hào mà không hướng
<small>tới những người xác định thì khơng phải là hành vi xúi giục.</small>
2) Hành vi xúi giục phải cụ thể nhằm gây ra việc thực hiện tội phạm nhất định.
3) Sự xúi giục luôn được thé hiện dưới dạng hành động, có thể được thực hiện băng nhiều thủ đoạn như kích động, lơi kéo, cưỡng ép, dụ dỗ, lừa phinh.
4) Giữa hành vi của người xúi giục và người bị xúi giục có mối quan hệ
<small>nhân quả. Hành vi xúi giục là nguyên nhân dan đên việc người xúi giục thực</small>
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">hành vi xúi giục. Người xúi giục cũng có thê tham gia vào việc thực hiện tội phạm với người xúi giục nhưng cũng có thể khơng tham gia.
<small>người khác thực hiện hành vi phạm tội.</small>
6) Hành vi xúi giục được thực hiện băng lỗi có ý.
Người xúi giục và người bị xúi giục có thể có cùng một động cơ, mục đích phạm tội nhưng cũng có thể có động cơ, mục đích khác nhau. Trong trường hợp, cấu thành tội phạm quy định động cơ, mục đích là dấu hiệu bắt
<small>buộc thì họ phải có cùng động cơ và mục đích phạm tội.(iv) Người giúp sức</small>
là người tạo điều kiện điều kiện thuận lợi có thể có là về tinh thần hoặc vật chất. Giúp sức về vật chất: Giúp sức về vật chất là hành vi cung cấp phương
về mặt kỹ thuật, chỉ điểm, dẫn đường, chứa chấp hay che giấu người phạm
phạm được thuận lợi, dễ dàng hơn.
hiện tội phạm; hứa trước sẽ che giấu người phạm tội, che giấu công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tiêu thụ tang vật do phạm tội mà có. Sự hỗ trợ về tinh thần được thé hiện dưới dạng hành vi phạm tội. Sự hứa hẹn trước có tác
dụng khuyến khích, củng cố quyết tâm phạm tội của người thực hành, do đó,
<small>mức độ hành vi của người giúp sức được coi là ít nguy hiém hon hành vi của</small>
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">người thực hành, người tô chức, người xúi giục nên người giúp sức không bị
Trong đồng phạm, mỗi người có vai trị tham gia khác nhau thể hiện quyết tâm phạm tội của tất cả người trong nhóm. Tuy nhiên, vụ án có đồng phạm có nhiều người tham gia, mỗi người tham gia ở mức độ khác nhau,
có người có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS khác nhau, cũng như nhân thân mỗi chủ thé cũng khác nhau. Dựa vào phân biệt loại người đồng
<small>toàn bộ tội phạm đã xảy ra</small>
Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm cơ bản của đồng phạm, vì trong đồng phạm, tội phạm được thực hiện là do sự nỗ lực hợp tác chung của tất cả những người đồng phạm. Hành vi của mỗi người là tiền đề, là điều kiện, là bộ phận cần thiết trong hoạt động chung đó.
theo cùng một điều luật và trong cùng phạm vi chế tài mà điều luật ấy quy định đối với hành vi mà họ đã cùng người thực hành thực hiện.
- Những người đồng phạm phải cùng chịu chung về những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc tình tiết tang nặng TNHS nếu họ đều biết, tức là đối với những tình tiết này họ cùng bàn bạc với nhau hoặc đều nhận thức và
<small>27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">phải thấy trước và có thê thấy trước tình tiết đó. Cụ thể như tình tiết phạm tội
- Những quy định có tính nguyên tắc chung cho tất cả các trường hợp
định có tính ngun tắc chung về tội phạm, về giai đoạn phạm tội, các quy định có tính nguyên tắc chung về hình phạt như: nguyên tắc xử lý, mục đích hình
(ii) Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với những người
đồng phạm khác nhau, đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết
<small>giảm nhẹ TNHS của mỗi người là khác nhau và được áp dụng riêng với người</small>
TNHS độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm.
<small>cả bọn cùng chung hành động, cùng chung ý định phạm tội, nên mức độ nguy</small>
- Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được áp dụng riêng với
TNHS: tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt; hoặc các tình tiết giảm nhẹ TNHS, như: Phạm tội lần đầu, là người
<small>tội do hồn cảnh đặc biệt khó khăn mà khơng do mình tự gây ra...</small>
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">đối với người đồng phạm nao thì người đó được hưởng. Nghĩa là, việc miễn TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này khơng loại trừ
- Riêng về hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức của những người đồng phạm khác mặc dù chưa dẫn đến việc phạm tội nhưng vẫn phải chịu TNHS ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội tùy thuộc quy định của điều luật về tội phạm cụ thê trên các cơ sở chung.
- Trong vụ án đồng phạm thì sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người đồng phạm này, khơng loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Cá thé hóa là việc tách biệt cá nhân này với
Từ khái niệm này, vận dụng vào quy định về cá thé hóa TNHS trong đồng phạm có thé nhận thấy, đây là việc tách biệt từng người một trong vụ án đồng phạm dé xem xét vị trí, vai trị của từng người trong vụ án, từ đó quyết định hình phạt cho phù hợp. Mặc dù cùng thực hiện một tội phạm nhưng tính chất và mức độ tham
phải xem xét tính chất, mức độ tham gia của từng người đồng phạm. Cá thê hóa TNHS trong đồng phạm là việc tách biệt từng người một trong vụ án đồng phạm
TNHS nhằm tạo ra sự cơng bằng, đánh giá đúng, chính xác dé quyết định hình phạt phủ hợp cho tất cả đồng phạm trong vụ án.
Nội dung cá thê hóa TNHS trong đồng phạm được thê hiện:
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><small>chức năng, nhiệm vụ, tác dụng của họ trong hoạt động phạm tội chung.</small> Lam sáng tỏ tính chất tham gia vào việc cùng chung phạm tội, có nghĩa là
<small>phải xác định được người phạm tội đó là ai, họ là người giữ vai trị thực</small>
hành, tơ chức, xúi giục hay là giúp sức. Thông thường người giữ vai trò tổ
hơn những đối tượng đồng phạm khác.
Thứ hai, đánh giá tính chất của hành vi phạm tội dé cá thé hóa TNHS trong đồng phạm. Chúng ta phải xem xét, cân nhắc lỗi, mục đích, động cơ của
<small>người phạm tội; phương tiện phạm tội; thủ đoạn phạm tội; thời gian và địa</small>
điểm phạm tội; khách thể xâm hại. ..của từng người đồng phạm.
Thứ ba, khi cá thể hóa TNHS trong đồng phạm căn cứ vào mức độ
<small>tham gia của người phạm tội. Mức độ tham gia chính là khả năng tham gia</small>
sánh với hành vi phạm tội của những đồng phạm khác.
Thứ tw, khi cá thé hóa TNHS có thé căn cứ vào các loại tội phạm mà đồng phạm thực hiện tập trung vào các nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức
<small>phạm tội căn cứ vào hành vi phạm tội.</small>
Việc cá thé hóa TNHS trong đồng phạm là quy định phù hợp trong điều
<small>tra, truy tô, xét xử các vụ án đông phạm. Tuy nhiên, việc vận dụng nguyên tặc</small>
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">do Bộ luật Hình sự quy định địi hỏi sự đánh giá khách quan, tồn diện và đầy
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">Qua nghiên cứu tại Chương 1, tác giả đi đến một số kết luận dưới đây:
phân tích khoa học các quy phạm pháp luật có liên quan đến đồng phạm và thực tiễn, đồng phạm có thể phân thành 03 hình thức đồng phạm: (1) đồng phạm đơn giản, (2) đồng phạm phức tạp, (3) đồng phạm đặc biệt hay cịn
gọi là phạm tội có tơ chức.
<small>Thứ hai, tác giả đã phân tích, đưa ra khái niệm pháp lý bảo vệ các</small>
chế định đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Thứ ba, bảo vệ các quyền con người băng chế định đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam được thể hiện như sau: một là, chế định đồng
chung về nhân quyền; hai là, thông qua việc phân biệt loại người đồng phạm và đưa ra các nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm để xác định vai trị, tính chất, mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm trong vụ
cơng bằng, đánh giá đúng, chính xác để quyết định hình phạt phù hợp cho tất cả đồng phạm trong vụ án.
<small>32</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40"><small>CHƯƠNG 2</small>
THUC TIEN BAO VỆ QUYEN CON NGƯỜI BANG
2.1. Chế định đồng phạm trong BLHS năm 2015, sửa đổi, bỗ sung <small>năm 2017</small>
Thứ nhất, khái niệm đồng phạm
vẫn giữ nguyên những điểm hạn chế của BLHS năm 1999 đối với định nghĩa pháp lý của đồng phạm, khi quy định đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng nhau thực hiện tội phạm (khoản 1 Điều 17). Khái niệm pháp lý về đồng phạm trong BLHS năm 2015 chưa chặt chẽ về mặt lập pháp, chưa
mới chỉ đề cập hành vi đồng phạm của người thực hành mà chưa đề cập hành
<small>tội phạm như người thực hành mà hành vi của họ chính xác là “cùng tham gia</small>
<small>vào việc ” thực hiện tội phạm, hay cụm từ “cùng thuc hiện một toi phạm ””</small>
Thực tiễn xét xử cho thấy trong đồng phạm cùng thực hiện tội phạm ở đây có thé là một tội phạm hoặc có thé nhiều tội phạm. Do vậy, việc sử dụng cum tir
<small>“cùng thực hiện một tội phạm ” là chưa chính xác.</small>
<small>Ngồi ra, thuật ngữ “trường hợp” được sử dụng với ngoại diên quá</small>
rộng. Việc dua ra khái niệm là một thao tác lôgIc nham vạch ra nội ham của
hơn bao hàm cả ngoại diên đồng phạm. Khái niệm rộng hơn chính là hình thức phạm tội, bởi vì hình thức phạm tội có thể do một người thực hiện, hoặc
<small>33</small>
</div>