Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (19.05 MB, 82 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
HÀ NỘI - 2023
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tổ tụng Hình sựMã số: 8380101.03</small>
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYÊN DUY HỮU HÀ NỘI - 2023
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>LỜI CAM ĐOAN</small>
<small>Tôi xin cam đoan nội dung trong Luận văn là cơng trình nghiên cứu</small>
của riêng tôi. Các kết quả mà Luận văn đưa ra chưa được công bố trong bat kỳ công trình nào khác. Các sỐ liệu, vi dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn hoc và đã thanh tốn tat cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
<small>Toi xin chân thành cảm ơn!</small>
NGƯỜI CAM ĐOAN
<small>Lê Thị Thu Hoài</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI VI PHAM QUY ĐỊNH VE KHAI THÁC, BAO VE RUNG VA LAM SAN
THEO QUY ĐỊNH CUA LUAT HINH SỰ...-- ---- 7
<small>1.1. Khái niệm tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và</small>
<small>E8): 8 ... 7</small>
<small>1.1.1. Khái niệm rừỪng... .- -. -- cv ng 71.1.2. Khái niệm lâm sản...-- - Ă 5c 3321111221111 1195111811151 xre 11</small>
<small>1.1.3. Khai niệm tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng va lâm san ... 12</small>
1.2. Đặc điểm của tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng
<small>Va TAM 1. 6 6663... 13</small>
<small>1.2.1. Hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản là</small>
<small>tội phạm khi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội ... 141.2.2. Chủ thé thực hiện hành vi phải thực hiện một cách có lỗi... 15</small>
<small>1.2.3. Hanh vi phải được quy định trong Bộ luật Hình sự và người vi</small>
<small>phạm phải chịu hình phat ...-- -- 5 5-5 32+ * + +evseeseeersrrerees 16</small>
1.3. Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định tội vi phạm quy định về
<small>khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trong Bộ luật hình sự... 17</small>
<small>1.3.1. Cơ sở của việc quy định tội này trong Bộ luật hình sự... 17</small>
1.3.2. Ý nghĩa của việc quy định tội vi phạm quy định về khai thác, bao
<small>vệ rừng và lâm sản trong Bộ luật hình sự ...-..-- ---- ---<- 19</small>
:4108897.9/9:i0/9) c1... ... 22
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">CHUONG 2: QUY ĐỊNH CUA BỘ LUAT HÌNH SỰ NĂM 2015 VE TOI VI PHAM QUY ĐỊNH VE KHAI THÁC, BẢO VE RUNG VÀ LAM SẢN... 25-2222 212211221211211211 211.111 111k. 2.1. Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về khai thác, bảo
<small>vệ rừng và lâm SAM ... -- - -- c 2S S* vs ng ren</small>
2.1.1. Dấu hiệu khách thể...----¿-2cc++c2xttttrxxtrrtrrtrrrrrrrrrrrrrrrrrek
<small>2.1.2. Dấu hiệu mặt khách quan...--- + ¿+£+£+E£+E++£++£++rxerxerxerseee2.1.3. Dau hiệu chủ thé của tội phạm...--- 2 22+ + 2+££+E+£E+£zEzxerxee</small>
2.1.4. Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm...- --- 5 «+ s+++ss>+ss+sss+
<small>2.2. Hình phạt đối với tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ</small>
<small>TUTE VA TAM SAN 8... ...</small>
<small>2.2.1. Hình phat tai khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình su năm 2015...</small>
<small>2.2.2. Hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015...</small>
<small>2.2.3. Hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015...</small>
<small>2.2.4. Hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật hình sựnăm 220 Ï Š...- - -- + k9 TH tt2.2.5. Hình phạt đối với pháp nhân thương mai ...--- 55+:</small>
2.3. Phan biệt một số tội có dấu hiệu pháp lý gần giống nhau với <small>tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản...</small>
2.3.1. Phân biệt với tội vi phạm quy định về quản lý rừng quy định tại Điều 233 Bộ luật hình sự năm 20 Ì 5...- - 2-5 s+E+£++E+EzEeztzxezez 2.3.2. Phan biệt với tội hủy hoại rừng quy định tại Điều 243 Bộ luật <small>hình sự năm 21 Š... --- E1 2210111 1111111999535 11 kg ve</small> 2.3.3. Phân biệt với tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên <small>nhiên quy định tại Điều 245Bộ luật hình sự năm 2015 ...</small>
<small>KET LUẬN CHƯNG 2...-¿- 6k St*kEEk+EEEESEEEEEEEEESEEEEEEEEEEEEEkrkerkrkrree</small> CHUONG 3: THỰC TIEN XÉT XỬ VÀ GIẢI PHAP TRONG VIỆC NANG CAO CHAT LƯỢNG VAN DỤNG PHAP LUẬT HÌNH SỰ VOI TOI VI PHAM QUY ĐỊNH VE KHAI THÁC, BAO VE RUNG VA LAM SAN TẠI TINH DAK LẮK...
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">3.1. Một số điểm về kinh tế - xã hội, địa lý dân cư của tỉnh Dak Lắk
<small>có liên quan đến Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ</small>
<small>YUNG VA TAM SAM 8n... ... 46</small>
3.2. Thue tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với Tội vi phạm quy
<small>định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trên địa bàn tỉnh</small>
<small>Đắk Lắk từ năm 2018 đến năm 2022...---..---ccccccccvc: 48</small>
3.2.1. Tinh hình xét xử đối với Tội danh nay của Tòa án nhân dân hai
cấp tỉnh Dak Lak từ năm 2018 đến năm 2022...---- 2 +: 48 3.2.2. Những ton tại, vướng mắC...---- ¿2+ 2+ £+EE+EE2EE£EEeEEerkerkerreee 59
<small>3.2.3. Những nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại, vướng mắc... 62</small>
3.3. Những giải pháp, đề xuất...--- 222cc eEererkerkerreres 64
<small>3.3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với Tội vi phạm quy</small>
định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản ... ...- - -- «+ «<++sxx++ 64 3.3.2. Nâng cao trình độ đội ngũ những người tiến hành tố tụng giải
quyết vụ án hình sự về Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ
<small>TUNG Va LAM SAN 0 ... 65</small>
<small>3.3.3. Nâng cao trình độ quan chúng nhân dân...--- 2 ¿5+ 67</small>
<small>3.3.4. Các giải pháp khác ... - -- c1 TH TH ng ngư, 68</small>
KET LUẬN CHUONG 3...-¿- -St+ESt+ESEE2EEEESEEEEEEEEESEEEEEEEEEEEEEkrkrrrrkrree 70 KẾT LUẬN ...--- 5-52 ©5222 2E12E1211215271271111121.211211211211211 2111111 cre. 71 DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO...- 2-2222 szttrxeed 73
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><small>DANH MỤC CAC BANG</small>
Số hiệu Tên bảng Trang
<small>Bảng3.I | Thực trạng xét xử sơ thâm Tội vi phạm quy định về</small>
<small>khai thác, bảo vệ rừng va lâm sản trên địa bàn tinh</small>
<small>Đắk Lắk từ năm 2018 đến năm 2022 49Bảng 3.2 | Thống kê chỉ tiết công tác xét xử Tội vi phạm quy định</small>
về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trong thực tiễn xét xử sơ thẩm trên địa ban tỉnh Đắk Lak từ 2018 —
<small>2022 50</small>
<small>Bang 3.3 | Bảng thống kê số liệu xét xử phúc thâm Tội vi phạm</small>
quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trên địa
<small>bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2018 đến năm 202255</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><small>MỞ ĐẦU</small>
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
<small>Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc bảo vệ mơitrường trong đó việc trồng rừng và bảo vệ rừng được Bác đặc biệt chú trọng.</small>
<small>Thực hiện tư tưởng của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọngviệc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ rừng nói riêng, đặc biệt là việc</small>
<small>kiện toàn hệ thống pháp luật đối với việc bảo vệ và phát triển rừng. Vào ngày11 tháng 6 năm 1992, Việt Nam đã ký Công ước khung về biến đổi khi hậu.Nối tiếp đó, vào năm 2004, Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển</small>
<small>rừng và sau đó thay thế bằng Luật Lâm nghiệp. Như vậy, có thể thấy Đảng vàNhà nước ta ngày càng coi trọng việc bảo vệ và phát triển rừng, các hành vi</small>
xâm hại rừng đều bị xử lý nghiêm minh.
<small>Các quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và LuậtLâm nghiệp năm 2017 đều xác định rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loàithực vật rừng, động vật rừng, nam, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố mơi</small>
trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số lồi cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đắt,
<small>núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác. Rừng là một</small>
<small>trong những tài nguyên quí báu mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nước ta,</small>
<small>tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên của nước ta ngày càng suy giảm. Theo Tổ</small>
chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO) thì năm 1947, tỉ lệ che phủ
<small>rừng của Việt Nam là 43 % nhưng chi 52 năm sau, tức là năm 1995, ty lệ chephủ rừng của Việt Nam giảm còn 27,2% (giảm 15,7% trong 52 năm). Vậy</small>
nên, có thời điểm, từ một đất nước rất nhiều rừng, Việt Nam trở thành nước có tỷ lệ đất rừng và trữ lượng gỗ bình quân đầu người thấp nhất trên toàn cau.
<small>Trong thập kỷ qua, Dang và Nhà nước đã có những nỗ lực đáng kétrong việc quản lý và bảo vệ rừng. Nước ta hiện là nước duy nhất trong khu</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><small>vực sông Mekong đã và đang báo cáo tăng trưởng liên tục trong độ tàn che</small>
<small>trong ba thập kỷ vừa qua. Tuy vậy, trên địa bàn cả nước nói chung và trên địa</small>
bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, tội phạm xâm phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng, cụ thể hơn là tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản có chiều hướng ngày càng gia tăng, tội phạm này diễn ra với tính
<small>chất, hậu quả nghiêm trọng, hành vi phạm tội ngày càng phức tạp, tinh vi, xảo</small>
<small>quyệt và khó lường hơn. Hành vi nay di ngược lại với chủ trương cua Dang,</small>
Nhà nước. Khơng những thế, cịn làm gia tăng diện tích đất trống, đồi trọc,
suy giảm khả năng điều tiết môi trường của rừng, giảm đa dạng sinh học... dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội.
<small>Pháp luật hình sự Việt Nam quy định như thế nào về hành vi khai thác,</small>
thế nào với những hành vi này, và làm cách nào để bảo vệ rừng và lâm sản khỏi những hành vi khai thác, tàng trữ, vận chuyên, mua bán trái phép?
<small>quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” trên địa bàn tỉnh Đắk Lắktrong những năm qua, nêu ra những thành tựu đạt được, đồng thời phát hiện</small>
một số tồn tại, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất một số
<small>giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự đối với loại tộinày. Đây cũng là lý do mà học viên chọn dé tài “Tội vi phạm quy định về khai</small>
<small>thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (Trên</small>
cơ sở thực tiễn xét xử tại tỉnh Dak Lak)” làm luận văn thạc sĩ của mình.
<small>2. Mục tiêu nghiên cứu</small>
<small>2.1. Mục tiêu tổng quát</small>
Thực hiện đề tài này, học viên mong muốn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn “Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">được quy định tại Điều 232 Bộ luật hình sự 2015. Trên cơ sở đó xây dựng hệ
<small>thống giải pháp hồn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh</small>
phòng, chống tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
<small>2.2. Mục tiêu cụ thể</small>
<small>- Lam rõ về mặt lý luận của tội phạm này theo quy định của Bộ luật</small>
<small>hình sự năm 2015.</small>
- Đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với “Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022, qua đó tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Đề xuất một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp
<small>luật hình sự đối với Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm</small>
sản trên địa bản tỉnh Đắk Lắk.
<small>3. Tính mới và những đóng góp của đề tài</small>
Luận văn là một cơng trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mặt lý luận,
<small>vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Cụ thé:</small>
<small>- Về mặt lý luận, luận văn tổng hợp các quan điểm khoa học về Tội viphạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, nghiên cứu làm sáng tỏ</small>
những vấn đề lý luận về tội này, qua đó nâng cao nhận thức, đặc biệt là đối
<small>với các cơ quan áp dụng pháp luật.</small>
<small>- Về mặt thực tiễn: những giải pháp đề xuất nêu trong luận văn sẽ góp</small>
phần nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, tránh bỏ lọt tội
<small>phạm và xử lý oan người vô tội, qua đó nâng cao hiệu quả cơng tác đấu tranhphịng, chống tội phạm nói chung.</small>
<small>- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những người học</small>
<small>tập, nghiên cứu, cho người làm công tác thực tiên và tât cả những ai quan tâm.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối twong nghiên cứu
<small>xét xử về Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy</small>
<small>định của Bộ luật hình sự năm 2015.</small>
<small>4.2. Pham vi nghién cứu</small>
Luận văn nghiên cứu thực tiễn xét xử Tội vi phạm quy định về khai thác,
<small>bảo vệ rừng và lâm sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2018 đến năm 2022.</small>
<small>5. Phương pháp nghiên cứu4.1. Cơ sở lý luận</small>
<small>Cơ sở lý luận của luận văn là những vấn đề khoa học nên tảng về Phầncác tội phạm Luật hình sự, cũng như chế định lớn về các tội xâm phạm trả tựquản lý kinh tế (Nói chung) và chế định nhỏ về tội vi phạm quy định về khaithác, bảo vệ rừng và lâm sản (Nói riêng) được thé hiện trong các ấn phâm khoa</small>
<small>học Luật hình sự như (Sách, báo pháp lý hình sự).4.2. Cơ sở phương pháp luận</small>
<small>Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa</small>
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về thi hành án hình sự, về đấu tranh phịng và chống tội phạm, cũng như các thành tựu khoa học khác như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật
<small>thi hành án hình sự và triết học, những luận điểm khoa học trong các cơngtrình nghiên cứu, sách chun khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một</small>
số nhà khoa học trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
<small>6. Tổng quan tình hình nghiên cứu</small>
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cơng tác đấu tranh phịng chống tội
<small>phạm về tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản trong</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>Luật hình sự Việt Nam, trong thời gian qua nhiều nhà nghiên cứu, các tácgiả cũng rất quan tâm tới van dé về tội phạm nói chung và Tội vi phạmquy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản trong Luật hình sự Việt</small>
<small>Nam nói riêng.</small>
<small>Trong đó đáng chú ý là những cơng trình sau:</small>
và giáo trình, sách chun ngành: Gido frình luật hình sự Việt Nam
<small>thứ nhất có sửa chữa, bỏ sung), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ ChíMinh, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hồ Chí Minh, 2022.</small>
<small>Về luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ: “Tội vi phạm các quy định về quản</small>
<small>ly rừng trong luật hình sự Việt Nam” — Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật </small>
<small>-trường Đại học Quốc gia Hà Nội của học viên cao học Nguyễn Thị Dung</small>
(2012); “Các tội xâm phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bản tỉnh Đắk Lắk) ”—
<small>Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - trường Đại học Quốc gia Hà Nội củahọc viên cao học Huynh Định Tình (2015); “Toi vi phạm các quy định về khaithác và bảo vệ rừng trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiên địa bàn</small>
tỉnh Hà Tĩnh) ” — Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - trường Đại học Quốc
<small>gia Hà Nội của học viên cao học Đào Đức Giang (2018).</small>
Các bài viết, đề tài khoa học: - Võ Ngọc Khánh Linh (2023), Hoàn
<small>thiện các quy định các tội danh pháp nhân thương mại phải chịu trách</small>
nhiệm hình sự, Tạp chí Kiém sát số 11. — Nguyễn Hà Thanh (2016), Mot số
<small>nội dung mới trong Bộ luật hình sự năm 2015, Trang thơng tin điện tử Ban</small>
<small>Nội chính trung ương.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">7. Kết cấu của luận văn
<small>Luận văn có kết cấu bao gồm phần mở đầu, nội dung luận văn, kếtluận, danh mục tải liệu tham khảo. Nội dung chính của Luận văn bao gom 03</small>
<small>chuong sau:</small>
Chương 1: Một số van dé chung về tội vi phạm quy định về khai thác,
<small>bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định của Luật hình sự</small>
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
Chương 3: Thực tiễn xét xử và giải pháp trong việc nâng cao chất lượng vận dụng pháp luật hình sự đối với tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><small>CHƯƠNG 1</small>
MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI VI PHAM QUY ĐỊNH
VE KHAI THAC, BAO VE RUNG VA LAM SAN THEO QUY DINH CUA LUAT HÌNH SỰ
<small>1.1. Khái niệm tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và</small>
<small>lâm sản</small>
<small>1.1.1. Khái niệm rừng</small>
<small>Định nghĩa về rừng cũng đa dạng như sự đa dạng về chủng loại, thànhphần loài, sản phẩm và dịch vụ mà nó cung cấp, v.v ... Các loại rừng rất khác</small>
<small>nhau, được xác định bởi các yếu tố bao gồm vĩ độ, nhiệt độ, chế độ mưa,thành phần đất và hoạt động của con người [30, tr.4].</small>
<small>Làm thế nào một khu rừng được xác định cũng phụ thuộc vào người</small>
<small>định nghĩa.</small>
<small>Theo các quan điểm của các nhà khoa học: Theo Morozov thì: Rừnglà một tổng thể các lồi cây thân gỗ có mối liên hệ lẫn nhau và chiếm mộtphạm vi không gian nhất định ở mặt đất cũng như trong khí quyên. Rừng bao</small>
phủ phần lớn bề mặt trái đất, tạo nên cảnh quan địa lý. Theo M.E. Tcachenco
<small>thì: Rừng phản ánh sự thay đổi, phát triển của thiên nhiên. Rừng là toàn bộcác cây thân gỗ, cây bụi, cây cỏ, các loài động vật và vi sinh vật sinh sống</small>
trong cùng một khu vực địa lý. Tổng thể này có mối quan hệ sinh học trong
<small>q trình phát triển, chúng ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng hoàn cảnh bênngồi. Theo nhà khoa học I.S. Mê-lê-khơp thì: rừng tự nhiên hình thành rấtphức tạp, rừng là một phần không thẻ thiếu của sinh quyên địa cầu [30, tr.5].</small>
Căn cứ theo nguồn gốc hình thành, rừng gồm rừng có sẵn trong tự
<small>nhiên và rừng con người trồng: Rừng tự nhiên là rừng có trong tự nhiên từ lâuđời hoặc là các khu rừng đã bị khai thác nhưng cây cối tự mọc lại một cách tự</small>
<small>nhiên hoặc một phân rừng là cây côi tự mọc lại và con người có trơng bơ sung</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>một phần. Rừng trồng là rừng có được do con người trồng, bao gồm rừng</small>
được con người trồng mới trên đất chưa có rừng trước đó; rừng được trồng lại sau khi con người khai thác rừng trồng đã có trước đó; rừng tái sinh sau khi bị con người khai thác rừng trồng.
Theo quan điểm của các quốc gia trên thế giới
Châu Âu: Mỗi quốc gia trong Liên minh Châu Âu có định nghĩa riêng về rừng và Ủy ban Châu Âu đã xác định đất lâm nghiệp có ít nhất 20% tán cây (10% đối với các khu rừng Địa Trung Hai) và diện tích tối thiểu 0,5 ha. (1 ha. = 0,01 km”).
Liên bang Nga: Rừng bao gồm các vùng đất được bao phủ bởi các lồi cây có trữ lượng tương đối 0,4 trở lên và các nhóm ti khác có trữ lượng
<small>tương đối 0,3 trở lên; diện tích khai thác, diện tích bị cháy và đất rừng khácđang trong q trình tái sinh tự nhiên và trên đó số lượng và chất lượng của</small>
cây non được tái sinh hoặc bảo tồn tự nhiên trong quá trình thu hoạch không thấp hơn so với yêu cầu của hướng dan sử dung để chuyên nhượng các khu
<small>vực đó vào diện tích rừng; được bao phủ bởi cây bụi ở các vùng lãnh thé, trên</small>
đó các khu rừng cao khơng thể phát triển do điều kiện khí hậu tự nhiên [34].
phủ hơn 30% và chiều cao cây tối thiểu 5 mét.
<small>Hoa Kỳ: Đất lâm nghiệp, theo định nghĩa của Cơ quan Lâm nghiệpHoa Kỳ, bao gồm đất ít nhất 10 % trong số đó được trồng bởi các cây có kích</small>
thước bất kỳ, hoặc đất trước đây có lớp phủ như vậy sẽ được tái sinh tự nhiên hoặc nhân tạo. Dat rừng bao gồm các khu vực chuyên tiếp như các khu vực
<small>giữa đất rừng bị tàn phá nặng nề và khơng có rừng, có ít nhất 10% trữ lượngcây rừng và các khu vực rừng liền kề với đất đô thị và đất xây dung [35].</small>
Canada: Đất rừng - các khu vực đất đai nơi tán cây chiếm hơn 10%
<small>tổng diện tích và cây khi trưởng thành có thê phát triển đến độ cao hơn 5 mét.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>Không bao gồm đất đơ thị hoặc đất sử dụng cho mục đích nơng nghiệp. ii)Nói chung, một hệ sinh thái được đặc trưng bởi độ che phủ của cây nhiều hayít và dày đặc. Đặc biệt hơn, một quần xã thực vật chủ yếu là cây và các thảmthực vật gỗ khác, phát triển ít nhiều gần nhau.</small>
<small>Trung Quốc: Rừng có nghĩa là vùng đất có điện tích tối thiêu 0,67 ha.,</small>
tối thiêu tỷ lệ che phủ bao gồm 20% và chiều cao cây tối thiêu đạt 2m.
Nam Phi: Đất rừng là bất kỳ vùng đất nào được bao phủ bởi cây cối
<small>hoặc được quy định trong bất kỳ luật pháp nào, hoặc kế hoạch lâm nghiệpquốc gia hoặc địa phương, hoặc kế hoạch sử dụng đất làm đất rừng hoặc làmđất trồng rừng hoặc trồng rừng.</small>
Úc: Rừng là một vùng đất, kết hợp tat cả các thành phần sống và không
<small>sống, bị chi phối bởi cây thường có một thân và chiều cao cây đứng trưởngthành hoặc có khả năng trưởng thành vượt quá 2 mét, và với tầng phủ hiện tạihoặc tiềm năng của tầng tầng lớp phủ quá mức tương đương hoặc lớn hơn20%. Định nghĩa này bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng và các khu vực</small>
<small>của cây đôi khi được mô tả là rừng.</small>
<small>Ở Việt Nam, khái niệm rừng được quy định trong các văn bản</small>
<small>pháp luật</small>
<small>Khái niệm rừng được sử dụng thông dụng hiện nay được phát triển từđịnh nghĩa về rừng được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ và phát</small>
triển rừng 2004 (có hiệu lực ké từ ngày 01 tháng 4 năm 2005 và hết hiệu lực kê từ ngày 01 tháng 01 năm 2019). Theo Điều này thì rừng được hiểu là một
<small>hệ sinh thái hoàn chỉnh bao gồm cây gỗ, cây hoa, cây cỏ, đương xỉ, rêu, độngvật, vi sinh vật sinh song trén dat rung va cac yếu tố môi trường khác. Ở rung</small>
<small>Việt Nam thi cây thân 20, cây tre, cây nứa hoặc hệ thực vat ban dia là thành</small>
phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Việt Nam phân loại
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17"><small>rừng thành hai loại: rừng trồng và rừng tự nhiên. Đất rừng thì được chia đấtrừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.</small>
<small>Đề thuận tiện cho việc khai thác, bảo vệ và phát triển rừng, pháp luậtViệt Nam đã xác định và phân loại rừng bằng thơng tư số 34/2009/TT-BNNPTNT. Theo đó, một khu đất có cây cối được xác định là rừng khi đáp</small>
ứng được cả 03 tiêu chí: Một là: rừng là một hệ thống sinh thái hồn chỉnh, trong đó thành phần bắt buộc để xác định có phải là rừng khơng là các loài
<small>cây thân gỗ lâu năm, cây họ cau, cây họ dừa, những cây này phải có chiều caonhất của ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừngngập mặn ven biển), tre nứa,... Tuy vậy, khơng phải khu đất nào có các loài</small>
cây trên đều được coi là rừng mà chúng cịn phải có khả năng bảo vệ mơi
<small>trường, bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái, bảo vệ mơi trường sống vàbảo vệ cảnh quan. Ngồi ra, chức năng quan trọng nhất của rừng là cung cấpgỗ, lâm sản ngoài gỗ. Đối với các khu rừng mới trồng và các khu rừng mới táisinh sau khai thác rừng trồng thì phải có mật độ cây cối từ 1.000 cây/ha trở</small>
lên và cây gỗ mọc tại đây phải có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với lồi
<small>cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh. Đối với</small>
những khu đất mọc rải rác một số cây lâu năm nhưng mục đích của khu đất là
<small>ni trồng thủy sản, trồng cây nơng nghiệp thì khơng được coi là rừng. 2.</small>
<small>Mức độ che kín của tán cây của các lồi cây chính của khu rừng theo phương</small>
thăng đứng trên một đơn vị diện tích phải từ 0,1 trở lên. 3. Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là đải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên. Cây rừng trên các diện tích tập trung
<small>dưới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20 mét được gọi là cây phân tán.</small>
<small>Tuy nhiên, các định nghĩa hiện nay và định nghĩa được học viên sử</small>
<small>dụng trong luận văn này lấy theo Luật Lâm nghiệp (2017)</small>
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small>Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động</small>
vật rừng, nam, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố mơi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân go, tre, nứa, cây ho cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật
<small>đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ</small>
0,1 trở lên [20, Điều 2].
<small>1.1.2. Khai niệm lâm san</small>
Lâm sản là từ Hán Việt, chỉ các sản phẩm mà con người khai thác được
<small>từ rừng và từ hoạt động lâm nghiệp. Lâm có nghĩa là của rừng, trong khi sản</small>
nhắc đến sản phẩm được tìm kiếm từ rừng. Ví dụ như các loại 26, cac loai
<small>nam, than cây, lá cây dé làm thuốc. Lam sản được sử dụng trực tiếp trong đời</small>
sống hàng ngày hoặc làm hàng hóa mua bán trong lĩnh vực thương mai [32].
<small>Khái niệm về lâm sản theo Luật Lâm nghiệp 2017:</small>
Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gom thực vật rừng, động
<small>vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả go, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩmsố, song, mây, tre, nứa đã chế biến [20, Điều 2, Khoản 16].</small>
Lâm sản được dé cập tới trong Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 là
<small>gỗ, các loài cây khai thác từ rừng, đặc biệt là các chủng loại cây được liệt kê</small>
<small>trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiém nhóm IIA và Danh mụcthực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA ban hành kèm Nghị định</small>
<small>06/2019/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 10/03/2019).</small>
Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, ngoài các loài thực vật bản địa, các cánh
<small>rừng vẫn giữ được nguyên vẹn một số thực vật cơ xưa, mang tính đặc hữu củaĐắk Lắk nói riêng và của Tây Nguyên nói chung. Các sản phẩm khai thác</small>
được trên thực tế rất đa dạng, ví dụ như: dược liệu, gỗ... Trong đó gỗ là lâm
<small>sản được nhiêu người ưa chuộng. Go có tính ứng dung cao trong cuộc sông</small>
<small>11</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>hang này, cũng là nguồn ngun liệu phổ biến trong ngành cơng nghiệp chế</small>
biến. Ngồi ra, với khí hậu nhiệt đới, các khu rừng ở Đắk Lắk có rất nhiều dược liệu quý hiếm rat được ưa chuộng như: đảng sâm, đương quy, son tra, ngũ vi tử, san nhâm, bo bo, nam linh chi, nắm lim xanh,... Với nguồn lâm sản đa dạng và phong phú như vậy, nếu biết khai thác đúng cách sẽ đem lại lợi
<small>nhuận kinh tế cao.</small>
1.1.3. Khái niệm tội vi phạm quy định về khai thác bảo vé rừng và
<small>lâm sản</small>
<small>Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản được quyđịnh trong Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 trên cơ sở Tội vi phạm các quy</small>
định về khai thác, bảo vệ rừng được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự
<small>năm 1999. Trong Bộ luật hình sự năm 2015, tội phạm nay đã được bồ sung</small>
cụm từ “và lâm sản” vào cuối tội danh.
Căn cứ Điều 8, Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015, tác giả đưa ra khái niệm Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng va lâm sản như sau: Toi
<small>vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản là hành vi nguy hiểmcho xã hội xâm phạm vào trật tự quản lý kinh tế, các quy định về quản lý và</small>
bảo vệ rừng được quy định tại Diéu 232 của Bộ luật hình sự do Người có
<small>năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhán thương mại thực hiện một cách</small>
<small>cố ý, bằng việc dùng mọi phương thức, thủ đoạn để vi phạm quy định về khaithác, bảo vệ rừng và lâm sản nhằm mục dich thu lời bat chính và bị ap dụng chế</small>
<small>tài hình sự theo quy định của pháp luật.</small>
<small>So với Bộ luật hình sự năm 1999 thì Bộ luật hình sự năm 2015 có sự</small>
<small>thay đổi đáng kể khi quy định về tội phạm này. Thứ nhất: Về dấu hiệu địnhtội, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định dau hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng”</small>
một cách chung chung đã ảnh hưởng nhất định đến q trình xử lí tội danh này trên thực tế. Bộ luật hình sự năm 2015 đã khắc phục hạn chế trên của Bộ
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><small>luật hình sự năm 1999, dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” đã được bỏ đi và</small>
thay vào đó,Bộ luật hình sự năm 2015 đã định lượng rất cụ thé dấu hiệu định tội và quy định rõ sự khác biệt về mức định lượng theo từng loại hành vi va đối tượng tác động. Thứ hai: về khung tăng nặng. Bộ luật hình sự năm 2015 đã có gắng phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như cá thể hóa hình phạt đối
<small>với hành vi phạm tội này. Đây là điểm tiến bộ của Bộ luật hình sự năm 2015</small>
<small>so với các Bộ luật hình sự trước đó. Theo đó Bộ luật hình sự năm 2015 đãquy định 02 khung tăng nặng (trong khi Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy</small>
<small>định 01 khung tăng nặng). Bên cạnh đó, các tình tiết định khung tăng nặng đã</small>
được định lượng với mức cụ thé, có sự kết nối với các dấu hiệu định tội được quy định tại câu thành tội phạm cơ bản; mức định lượng cũng có sự phân hóa
<small>rõ rệt đối với các tình tiết định khung tăng nặng (Khoản 2 Điều 175 Bộ luậthình sự năm 1999 quy định các tình tiết định khung tăng nặng “trường hợp rất</small>
<small>nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”). Ngoài ra, Bộ luật hình sự năm</small>
2015 cịn bổ sung một số tình tiết định khung tăng nặng khác như: mua bán,
<small>vận chuyên qua biên giới, phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm. Có thểnói, nội dung sửa đổi này thể hiện rõ rệt ngun tắc cá thể hóa trách nhiệm</small>
hình sự và cá thé hóa hình phạt, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tịa án quyết định hình phạt được chính xác, góp phần xử lí nghiêm minh tội vi phạm
<small>các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trên thực tế. Bên cạnh mặttích cực kế trên, cũng phải thấy rằng, cách thức mô tả nặng về liệt kê củaĐiều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 đã làm cho điều luật về hình thức trở nên</small>
nặng né, cồng kénh và khó theo dõi [24, tr.144].
1.2. Đặc điểm của tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và
<small>lâm sản</small>
Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản có các đặc
<small>điểm như sau:</small>
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">1.2.1. Hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
<small>là tội phạm khi có tính nguy hiểm đáng kế cho xã hội</small>
<small>Tội phạm, là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luậtHình sự — đây là đặc điểm đã được ghi nhận tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hìnhsự năm 2015. Khi một hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra thiệt hai đáng kếcho các khách thé được luật hình sự bảo vệ thì hành vi đó bị coi là tội phạm.Một tội phạm được xác định có nguy hiểm hay khơng được thể hiện ở hai vấn</small>
đề: chất lượng và sỐ lượng. Chất lượng được xác định dựa vào ý nghĩa và tầm
<small>quan trọng của khách thể, còn số lượng được xác định bằng thiệt hại do tội</small>
<small>phạm gây ra [ 14, tr.98].</small>
<small>Hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản đượcxác định là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Rừng cung cấp nhiều lâm sản có</small>
giá trị như: gỗ, các vị thuốc ... là nguồn thu nhập chính của rất nhiều người.
<small>Hiện nay, 20%-40% trên tổng thu nhập hàng năm của khoảng 25 triệu người</small>
Việt Nam có được là dựa vào lâm sản. Vai trò của rừng cũng được thể hiện
<small>ở vùng sâu vùng xa, vùng cao nơi người nghèo hoặc người dân tộc thiểu số</small>
chiếm 10% dân cư sống bên trong hoặc gần các khu rừng (diện tích xấp xỉ
<small>12 triệu hecta).</small>
<small>Theo Tổng cục Phịng chống thiên tai, mỗi năm nước ta xảy ra khoảng10-15 trận lũ quét, sạt lở đất, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống, thậm chítính mạng, tài sản của người dân, tác động tiêu cực đến các hoạt động sản</small>
xuất, kinh tế của đất nước.
<small>Vì vậy, hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sảnđã xâm hại đến nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước</small>
trong quản lý kinh tế, gây biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính, mơi trường môi sinh bị ô nhiễm, lũ lụt, cháy rừng. Hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản cũng là nguyên nhân gây mắt cân bằng sinh thái, bão, lũ quét, sạt lở đất...
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22"><small>1.2.2. Chủ thể thực hiện hành vi phải thực hiện một cách có lỗi</small>
<small>Hành vi pháp luật khác với hành vi khác là ở chỗ hành vi pháp luật bao</small>
giờ cũng là hành vi có ý thức, có ý chí - dấu hiệu tâm lý của hành vi pháp
<small>luật. Tội phạm là một dạng của hành vi pháp luật, do vậy, tội phạm phải là</small>
<small>hành vi có ý thức, có ý chí. Hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi làtội phạm, nếu hành vi đó được thực hiện một cách có ý thức, tức là có lỗi (có</small>
<small>ý hoặc vơ ý) [12, tr.1 19].</small>
<small>Trong khoa học luật hình sự, lỗi được hiểu là thái độ tâm lý của mộtngười đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện và đối với hậu</small>
qua do hành vi ấy gây ra thé hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Trong trường hợp chủ thé được tự do lựa chọn hành vi, quyết định xử sự giữa một bên là thực
<small>hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, một bên là xử sự phù hợp với đòi hỏi vàchuẩn mực xã hội nhưng vẫn lựa chọn thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã</small>
hội thì bị coi là có lỗi. Bản chất xã hội của lỗi thê hiện ở sự phủ định chủ quan của một người đối với các đòi hỏi và chuẩn mực của xã hội [4, tr.114].
<small>Với tu cách là một dấu hiệu độc lập của tội phạm, tính có lỗi của tộiphạm khang định một ngun tắc quan trọng của luật hình sự là khơng chấp</small>
<small>nhận việc quy tội khách quan, tức là buộc một người phải chịu trách nhiệm</small>
hình sự về hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không xem xét đến lỗi của họ.
<small>Bản thân chủ thé thực hiện hành vi phạm tội phải hiểu rằng, khi họ đã phạmtội thì sẽ bi nha nước áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất là hìnhphạt theo pháp luật hình sự. Mục đích hành động này của Nhà nước chủ yếu</small>
là để cải tạo, giáo dục người phạm tội, mục đích trừng trị chỉ là thứ yếu. Và
<small>nó chỉ đạt được khi Nhà nước xử sự cơng bằng, hình phạt được áp dụng đốiVỚI người tất cả những người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội [4, tr.1 15].</small>
Theo quy định của Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015, Tội vi phạm
<small>quy định vê khai thác, bảo vệ rừng va lâm sản được thực hiện bởi lôi cô ý,</small>
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><small>người phạm tội biết được hành vi khai thác trái phép rừng và lâm sản bị nhà</small>
nước cấm nhưng vẫn thực hiện nhằm thu lời bất chính. Như vậy, khi khai thác gỗ và lâm sản trái phép, chủ thé phạm tội có đầy đủ điều kiện và kha
<small>năng dé lựa chon một biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hộinhưng họ đã thực hiện hành vi này đã bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguyhiểm cho xã hội.</small>
<small>1.2.3. Hanh vi phái được quy định trong Bộ luật Hình sự và người viphạm phải chịu hình phạt</small>
<small>Hành vi thực hiện khơng đúng quy định của pháp luật nào cũng đều có</small>
<small>khả năng gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã</small>
hội, nhưng hành vi vi phạm pháp luật hình sự ln gây nguy hiểm cho xã hội
<small>ở mức độ cao hơn so với các loại vi phạm pháp luật dân sự, hành chính.</small>
<small>Hành vi nguy hiểm cho xã hội và có lỗi khơng thể coi là tội phạm,</small>
nếu ở thời điểm thực hiện hành vi đó khơng được luật hình sự quy định là tội phạm. Điều đó có nghĩa rằng hành vi nào đó bị coi là tội phạm, nếu nó
<small>có tính nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và phải được quy định trong pháp luật</small>
<small>hình sự [26, tr.213].</small>
<small>Việc khăng định tính trái pháp luật hình sự là một dấu hiệu bắt buộc</small>
của tội phạm, đồng thời, cũng có nghĩa là hồn tồn khơng chấp nhận việc áp
<small>dụng pháp luật tương tự trong lĩnh vực hình sự. Khi Bộ luật Hình sự chưa quy</small>
<small>định một hành vi nào đó là tội phạm, thì khơng thé truy cuu trach nhiém hinh</small>
<small>sự người thực hiện hành vi đó.</small>
Hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản chỉ
<small>được coi là tội phạm khi chu thé thực hiện một trong các hành vi được quyđịnh trong Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015. Đây là một dau hiệu bắt buộc</small>
của tội phạm, đồng thời, cũng có nghĩa là hồn tồn khơng chấp nhận việc áp
<small>dụng pháp luật tương tự trong lĩnh vực hình sự.</small>
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><small>Hình phạt không phải là nét riêng biệt của tội phạm mà là kết quảkhơng hay về mặt pháp lý của nó. Khi một hành vi phạm tội đã được thực</small>
hiện, thì chủ thé của hành vi phải chịu hình phạt là loại biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước [26, tr.97]. Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản được quy định tại Điều 232Bộ luật hình sự năm 2015, theo đó, hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản bị pháp luật hình sự cắm, nếu người hoặc pháp nhân thương mại vi phạm sẽ
<small>bi coi là tội phạm và phải chịu hình phat.</small>
<small>Hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, tùy</small>
<small>theo hậu quả mà bị áp dụng pháp luật xử lý hành chính hoặc pháp luật hình</small>
sự. Hình phạt chỉ được áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, có
<small>mức độ nguy hiểm cao cho xã hội.</small>
1.3. Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định tội vi phạm quy định về
<small>khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trong Bộ luật hình sự</small>
<small>1.3.1. Cơ sở của việc quy định tội này trong Bộ luật hình sw</small>
<small>Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa</small>
<small>được thành lập. Thời điểm này, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việcphịng chống tội phạm, dé 6n định tình hình an ninh chính trị, an tồn xã hội</small>
<small>va bảo vệ thành qua cách mạng, bảo vệ Dang, Nhà nước, bảo vệ tính mạng va</small>
<small>tài sản của Nhân dân nhưng vẫn chưa có Bộ luật hình sự. Ngun nhân của</small>
<small>việc nay là do hoàn cảnh lich sử, thời điểm này Nhà nước mới được thành lập</small>
nên nhiệm vụ cấp thiết nhất là củng cố chính quyền cách mạng, cùng với diệt trừ các loại tội phạm xâm hại về an ninh chính trị và một số tội phạm như:
<small>giết người, cướp của, hiếp dâm.... Từ năm 1945 đến trước năm 1985, Nhànước ta chưa quy định điều luật cụ thé về tội phạm vi phạm quy định về khai</small>
<small>thác, bảo vệ rừng và lâm sản.</small>
Cho đến năm 1985, Nhà nước đã cho ra đời Bộ luật hình sự. Nền kinh
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><small>tế nước ta ở những năm này đã có sự phát triển nhất định, nhu cầu của ngườidân về sử dụng tải nguyên rừng (chủ yếu là gỗ, được liệu quý) đã tăng lênnhiều so với trước kia. Điều này dẫn đến khơng kiểm sốt được việc khai thác</small>
<small>rừng của người dân. Việc khai thác rừng tràn lan, không quan tâm tới việc</small>
<small>phục hồi rừng tuy giúp phát triển về mặt kinh tế nhưng nó cũng gây cạn kiệt</small>
nguồn tài nguyên quý báu của nước ta và gián tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, thực tiễn đấu tranh phịng chống
<small>tội phạm này cho thấy việc áp dụng các biện pháp xử lý phi hình sự như xử</small>
<small>phạt hành chính chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa chưa tương xứng với tính</small>
<small>chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Người dân vẫn chỉthấy được lợi ích trước mắt mà không hiểu được lợi ích lâu dài của việc bảo</small>
vệ rừng. Vì vậy, cần phải phịng, chống tội phạm vi phạm quy định về khai
<small>thác và bảo vệ lâm sản bằng các biện pháp hình sự. Người phạm tội phải chịutrách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ đã được chứng</small>
<small>minh theo trình tự do pháp luật quy định, bị đưa ra xét xử và bị Tòa án kết ánbăng bản án kết tội. Bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với</small>
<small>người phạm tội là văn bản xác nhận chính thức người phạm tội “bi coi là có</small>
tội”. Bản án kết tội của Tịa án đối với người phạm tội thường gan liền với quyết định loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với người phạm tội. Có như vậy thì mới tạo ra công cụ dé khai thác, bảo vệ tai nguyên rừng một cách tốt nhất. Do đó, việc quy định tội phạm này trong Bộ luật hình sự là cần thiết dé đáp ứng thực tiễn, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và yêu cầu đấu
<small>tranh phòng, chống tội phạm.</small>
Điều này đã được áp dụng trên thực tế, Bộ luật hình sự năm 1985 đã
<small>quy định hình phạt đối với một số hành vi vi phạm việc quản lý và bảo vệrừng tại Điều 181. Điều luật nay gồm hai khoản, quy định về việc chủ thé là</small>
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><small>người có hành vi khai thác trái phép cây, săn trái phép chim, bắt trái phép thú</small>
<small>rừng đã bi xử lý hành chính mà cịn vi phạm, thi bi phạt cải tạo không giam</small>
<small>giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Trong trường hợpphạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì theo Điều luật này, Hội đồng xét xử có théxem xét phạt phạm tội từ hai năm đến mười năm tù. Tuy có quy định tại Bộ</small>
luật hình sự, tuy nhiên điều luật này vẫn quy định chung chung, chưa cụ thé.
Sau một thời gian dài áp dụng, Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1985 đã
<small>cho thay nhiều bat cập, cần được thay đồi, bổ sung. Dap ứng điều này, Bộ luậthình sự năm 1999 đã thay từ “quản lý” trong tên Điều 181 của Bộ luật hình sựnăm 1985 băng từ “khai thác” và điều chỉnh nội dung điều luật lẫn khunghình phạt. Điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999 đã bỏ hành vi săn bắt trái phépchim, thú và thêm hành vi vận chuyền, buôn bán gỗ trái phép. Ngồi mứchình phạt cũ, Điều 175 cịn quy định thêm về hình phạt tiền từ năm triệu đồngđến hai mươi triệu đồng.</small>
<small>Sau thời gian dài thực tiễn áp dụng, việc điều Điều 175 quy định chungchung về hành vi đã gây ra sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.Vì vậyBộ luật hình sự năm 2015 lại tiếp tục sửa đôi tên và nội dung của tộiphạm này. Điều 232Bộ luật hình sự năm 2015 giữ nguyên tên điều 175 cũ và</small>
thêm cụm từ “va lâm sản” vào cuối tội danh. Ngoài việc thay đổi tên điều
<small>luật,Bộ luật hình sự năm 2015 đã bỏ dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” và</small>
thay vào đó là định lượng rất cụ thể dấu hiệu định tội và quy định rõ sự khác biệt về mức định lượng theo từng loại hành vi và đối tượng tác động.
1.3.2. Ý nghĩa của việc quy định tội vi phạm quy định về khai thác,
<small>bảo vệ rừng và lâm sản trong Bộ luật hình sự</small>
Đảng va Nhà nước ta coi rừng là một nguồn tài nguyên sinh vật vô
<small>cùng quan trọng bởi vi rừng có giá tri cao trong việc phát triên kinh tê. Bên</small>
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">cạnh đó, đảm bảo diện tích rừng là góp phan lớn trong việc bảo vệ mơi trường. Cụ thé: nếu diện tích rừng đủ lớn, rừng sẽ là nguồn cung cấp ô-xy déi dào cho bầu khí quyên và giữ lại lượng lớn khí Cacbonic do các hoạt động sản xuất của con người thải ra, thông qua chức năng này, Rừng đóng vai trị
<small>quan trọng trong việc thích nghỉ với biến đổi khí hậu. Ngồi ra, việc giữ được</small>
các cây lớn trong rừng giúp chống xói mịn và đảm bảo tuần hồn nước. Các
<small>khu rừng tự nhiên có một hệ sinh thái hồn chỉnh, chính hệ sinh thái này giúp</small>
tạo ra và duy trì độ phì nhiêu cho đất. Bộ rễ của các loại cây căm sâu xuống đất sẽ giữ đất chắc chắn, hạn chế những tác động tiêu cực của bão, lũ và hạn
<small>hán. Rừng còn là nơi sản sinh ra các lồi cây thân gỗ có giá trị, các lồi dược</small>
liệu q hiếm. Có thé thấy, rừng có giá trị lớn đối với cuộc sống. Tuy nhiên,
<small>cũng vì những giá trị mà rừng mang lại, người dân đã bỏ qua những lợi ích</small>
lâu dài của rừng. Những con người sống phụ thuộc vào khai thác rừng chỉ
<small>khai thác mà không quan tâm đến việc bảo vệ, phát triển rừng đúng cách, vì</small>
<small>vậy rừng đang bị tàn phá một cách nghiêm trọng.</small>
<small>Luật hình sự có chức năng bảo vệ các quan hệ quan trọng trong xã hội</small>
<small>trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và lợi ích hợp</small>
<small>pháp của con người khỏi sự xâm hại của tội phạm. Giáo dục mọi người tháiđộ tôn trọng pháp luật, không khoan nhượng với những người thực hiện hành</small>
<small>vi phạm tội. Luật hình sự thực hiện chức năng này bằng cách quy định nhữnghành vi nào nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và hình phạt đối với người thực</small>
<small>sự, đó cũng chính là các quan hệ pháp luật hình sự [12, tr.264].</small>
Việc quy định tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam nhằm phục vụ chủ trương của Đảng và
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Nhà nước là thu hoạch gỗ, lâm san dé phát trién kinh tế nhưng đồng thời đảm bảo điều kiện phục hồi rừng.
<small>Mặt khác, quy định tội này trong Bộ luật hình sự Việt Nam giúp cho</small>
việc khai thác rừng dé phat triển kinh tế một cách có kế hoạch, nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân về việc khai thác rừng nhưng phải đảm bảo rừng có thê tái sinh lại được. Trên cơ sở điều luật giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng Cơng an, Viện kiểm sát, Tịa án cân nhắc được hành vi, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội này khi đưa ra quyết định về mức độ giải quyết
<small>hình sự phù hợp.</small>
<small>21</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><small>KET LUẬN CHUONG 1</small>
Chương 1 của luận văn là hệ thống những van dé chung về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, được phân tích qua các khái niệm, đặc điểm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định tội vi phạm quy định về
<small>khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trong Bộ luật hình sự.</small>
Theo đó, chương này mơ tả khái niệm tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Chương này chỉ ra các căn cứ dé nhận biết hành vi nào có dấu hiệu là tội phạm. tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng
<small>và lâm sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm vao trật tự quản lý</small>
kinh tế, các quy định về quản lý và bảo vệ rừng được quy định tại Điều 232
<small>của Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân</small>
thương mại thực hiện một cách cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là
<small>vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọngnhằm mục đích thu lời bất chính và bị áp dụng chế tài hình sự theo quy định của</small>
pháp luật. Rừng và lâm sản là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của nước ta, việc ào ạt khai thác, phá vỡ quy hoạch, kế hoạch khiến cho rừng trở nên cạn kiệt, nhiều cánh rừng nguyên sinh không thé phục hồi, gây
<small>ảnh hưởng xấu đến mơi trường. Vì vậy tội vi phạm quy định về khai thác, bảo</small>
vệ rừng và lâm sản gây thiệt hại cho xã hội, cho môi trường và nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra, tội phạm này tác động tiêu cực tới môi trường sống của con người, nói cách khác, nó là nguyên nhân gián tiếp gây tác động xấu đến
<small>sức khỏe và cả tính mạng của con người.</small>
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30"><small>CHƯƠNG 2</small>
QUY ĐỊNH CUA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VE TOI VI PHAM QUY ĐỊNH VE KHAI THÁC, BAO VỆ RUNG VA LAM SAN
<small>2.1. Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ</small>
<small>rừng và lâm sản</small>
Xét về bản chất, tội phạm là hiện tượng tiêu cực trong xã hội, được đặc
<small>trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi và tính phải chịu hình phạtđược quy định trong Bộ luật Hình sự. Nếu nghiên cứu về mặt cấu trúc, mỗitội phạm đều hợp thành bởi bốn yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhautạo thành một thê thống nhất, đó là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặtchủ quan. Mặc dù mỗi tội phạm đều có cấu trúc chung của cầu thành tộiphạm; nhưng nội dung của cau thành của mỗi tội phạm cụ thé đều có nhữngdấu hiệu phản ánh bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó với nhữngnét đặc trưng, điển hình riêng. Một hành vi được xác định là tội phạm chỉ khinào bị mô tả những dấu hiệu của tội phạm và quy định chúng trong Bộ luật</small>
Hình sự và chỉ Nhà nước mới có quyền này [14, tr.162]. Một loại tội phạm chỉ được đặc trưng bởi một cấu thành tội phạm và một cau thành tội phạm chỉ
<small>đặc trưng cho một loại tội phạm, đó là dau hiệu đặc trưng thể hiện tính chất và</small>
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội đó. Chỉ dấu hiệu nào nói lên bản chất đặc trưng của loại tội để phân biệt nó với tội phạm khác mới được ghi nhận trong cấu thành tội phạm, đây chính là dấu hiệu đặc trưng của cấu thành tội
<small>phạm. Giống như các loại tội phạm khác, Tội vi phạm quy định về khai thác</small>
bảo vệ rừng và lâm sản cũng được hình thành bởi bốn yếu tố: quan hệ xã hội bị xâm hại (thuộc khách thé của tội phạm), độ tuổi va năng lực trách nhiệm
<small>hình sự (thuộc chủ thể của tội phạm), hành vi nguy hiểm cho xã hội (thuộc</small>
<small>mặt khách quan của tội phạm) và lỗi (thuộc mặt chủ quan của tội phạm). Vì</small>
<small>vậy, muốn làm sáng tỏ bản chất pháp lý của Tội vi phạm quy định về khai</small>
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">thác bảo vệ rừng và lâm sản thì phải nghiên cứu các dấu hiệu cấu thành của tội này. Có như vậy mới xác định được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
<small>hội của hành vi vi phạm va phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác.</small>
Việc nghiên cứu dấu hiệu pháp lý trong tiêu mục này nhằm bao đảm việc định
<small>tội danh và quyết định hình phạt được chính xác hơn trong thực tiễn và củng</small>
có hơn nữa về mặt lý luận.
2.1.1. Dấu hiệu khách thể
Về mặt lý luận, khách thé của tội phạm là những quan hệ xã hội được
<small>luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa sẽ gây thiệt hại</small>
<small>[26, tr. 146]. TheoBộ luật hình sự năm 2015, khách thé là những quan hệ xã</small>
hội được quy định tại Điều § của bộ luật này.
<small>Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản được quyđịnh tại Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 thuộc tội danh được quy định cụ</small>
thé tại mục 3, Chương XVIII - các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Khách thể của tội phạm này là các quy định của Nhà nước đảm bảo trật tự
<small>quản lý kinh tế, cụ thê là quy định của Nhà nước về quản lý, khai thác, bảo vệ</small>
<small>rừng và lâm sản. Quy định này được ghi nhận trong các văn bản quy phạm</small>
<small>pháp luật như Luật Lâm nghiệp 2017, Luật Đa dạng sinh học 2008; Thông tư</small>
04/2017/TT-BNNPTNT... và các Cơng ước quốc tế có liên quan.
<small>giá trị về khoa học, mơi trường hoặc kinh tế. Việc xác định đúng đối tượng</small>
tác động và khách thể trực tiếp của Tội phạm này góp phần vào việc định tội danh, sẽ khơng có tội phạm nếu như hành vi phạm tội không xâm phạm đến
<small>quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.</small>
<small>2.1.2. Dấu hiệu mặt khách quan</small>
<small>Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bênngoài thế giới khách quan [26, tr.213]. Trong cau thành tội phạm, dấu hiệu bắt</small>
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><small>buộc của mặt khách quan là hành vi khách quan. Các biểu hiện khác của mặt</small>
<small>khách quan như: hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn</small>
<small>cảnh, địa điểm phạm tội khơng phải là dấu hiệu bắt buộc và chỉ có ở một sốcầu thành tội phạm nhất định.</small>
<small>Có thê hiểu mặt khách quan của tội phạm là mặt ngoài cua tội phạm,</small>
gồm các biểu hiện của tội phạm xảy ra, nhìn nhận được ở thế giới khách
<small>quan [26, tr.214].</small>
<small>về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Hiện nay, nước ta có khoảng 12.000loại cây khác nhau và có rừng đặc dụng, rừng phịng hộ và rừng sản xuất.</small>
<small>Bên cạnh hành vi thì hậu quả là dau hiệu cau thành cơ bản của tội phạmnay. Nếu có hành vi khai thác trái phép rừng và lâm sản nhưng chưa gây hậuquả như Điều luật đã liệt kê thì chủ thé vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính.Tuy nhiên, nếu chủ thể vi phạm thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính</small>
hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích thì phải chịu mức
<small>hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 232.</small>
<small>Hành vi khách quan của tội phạm này gồm các hành vi khai thác trái</small>
<small>phép hoặc vượt phép gỗ thông thường hoặc gỗ quý thuộc Danh mục thực</small>
vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA, Nhóm IA. Ngồi
<small>gỗ, thì hành vi khai thác trái phép cây rừng có giá trị hoặc cây rừng thuộc</small>
<small>cũng là hành vi khách quan của tội phạm nay. Tuy khơng có hành vi khai</small>
trái phép gỗ hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngồi hoặc cây rừng có giá trị
<small>thì cũng là hành vi khách quan của tội vi phạm quy định về khai thác, bảo</small>
<small>vệ rừng và lâm sản.</small>
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">2.1.3. Về mặt chủ thể của tội phạm
“Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc
<small>pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm toi” [26, tr.243].</small>
<small>Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 thì chủ thé của tội phạm</small>
<small>này là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mai.</small>
<small>Bộ luật hình sự năm 1999 và các bộ luật hình sự trước đó khơng quy định</small>
<small>pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cho nên đây là quyđịnh hoàn toàn mới, mang tính đột phá của Bộ luật hình sự năm 2015. Chủ</small>
<small>thể của tội phạm là cá nhân được ghi nhận ở pháp luật hình sự của tất cả cácquốc gia trên thế giới. Pháp luật hình sự Việt Nam đã xác định cơ sở truy cứu</small>
trách nhiệm hình sự là con người cụ thể khi thỏa mãn các điều kiện do pháp
<small>luật quy định, các điều kiện đó là: (1) có năng lực trách nhiệm hình sự; và (2)</small>
đạt độ tuổi nhất định theo luật định.
<small>Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức hành vi có tính</small>
nguy hiểm cho xã hội hay không va khả năng điều khiển hành vi ấy của người
<small>phạm tội. Pháp luật hình sự khơng quy định một người có năng lực trách</small>
<small>nhiệm hình sự là như thế nào, tuy nhiên, các quy định trong Bộ luật Hình sự</small>
năm 2015 xác định các điều kiện để có năng lực trách nhiệm hình sự [10, tr.92]. Điều kiện thứ nhất, người thực hiện hành vi phạm tội phải đạt độ tuổi
<small>theo quy định của pháp luật hình sự. Pháp luật hình sự ghi nhận độ tuổi cụ thêđể một người khi thực hiện hành vi họ nhận thức được tính nguy hiểm của</small>
hành vi đó, cũng như hậu quả xảy ra (hoặc có thể xảy ra) và điều khiển được hành vi của mình theo đúng yêu cầu của xã hội, của pháp luật. Điều kiện thứ
<small>hai, người thực hiện hành vi phạm tội khi đạt độ tuổi theo luật định họ khôngbị mắc các căn bệnh làm mat khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển</small>
hành vi của mình. Các căn bệnh đó được pháp luật hình sự quy định cụ thê.
Luật hình sự Việt Nam quy định độ ti tối thiêu chịu trách nhiệm hình
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><small>sự là trịn 14 tuổi. Tuy nhiên, có những quy định về điều kiện để áp dụngtrách nhiệm hình sự, cụ thể: Đối với người từ đủ 16 tudi trở lên “phải chịu</small>
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Căn cứ vào tình hình phát triển chung về thé chất và tâm sinh lý của người Việt Nam, người từ đủ 16 tuổi trở lên là người đã nhận thức được tính nguy hiểm của mọi hành vi mà mình thực hiện cũng như khả năng điều khiển được hành vi ấy, do đó, phải chịu trách nhiệm hình sự về
<small>moi tội phạm mà mình gây ra. Tuy nhiên, dé xác định tính phù hợp và linh</small>
hoạt trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở một số tội phạm cụ thể, pháp
<small>luật hình sự có quy định riêng ở một số tội phạm, mà độ tuổi cụ thé được đề</small>
cập trong cau thành cơ bản của tội phạm ấy. Cá nhân đủ 16 tuôi trở lên mới
<small>là chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về khai</small>
<small>thác, bảo vệ rừng va lâm sản.</small>
<small>Pháp nhân thương mại phạm tội chỉ phải chịu hậu quả pháp lý theo</small>
<small>quy định của pháp luật hình sự khi hành vi phạm tội được thực hiện nhândanh pháp nhân thương mại, hành vi đó vì lợi ích của pháp nhân thương</small>
<small>mại, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp</small>
thuận của pháp nhân thương mại, và phải chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự [12, tr.289]. Người có thâm quyền nhân danh pháp nhân dưới
<small>hoặc cá nhân là thành viên của pháp nhân thương mại được giao thực hiện</small>
cơng việc do pháp nhân giao, đó có thể là Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị... Dé biết được người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy
<small>quyên thì phải dựa vào các hình thức, như căn cứ vào quy định của văn bảnpháp luật; dựa vào các hình thức khác như việc pháp nhân sử dụng con dấu,</small>
việc sử dụng nguồn vốn, văn bản và hình thức ủy quyền với một thời gian và phạm vi nội dung ủy quyền nhất định nào đó, hoặc thơng qua Điều lệ, biên
<small>27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">bản họp của pháp nhân... Các hình thức này có thể chứng minh cho hành vi
<small>nhân danh pháp nhân trong giao dịch dân sự, giao dịch thương mại và các</small>
<small>hành vi kinh doanh của pháp nhân. Đó là mục đích phạm tội của pháp nhân,</small>
cụ thê là những lợi ích vật chất mà pháp nhân được hưởng một cách trái pháp
<small>luật. Ví dụ như: khơng phải nộp thuế (hành vi trốn thuế), không phải chỉ một</small>
khoản tiền dé đóng bảo hiểm bắt buộc cho người lao động (hành vi trốn đóng bảo hiểm), thu được một khoản tiền do hoàn thuế (hành vi lừa đảo chiếm đoạt thuế giá trị gia tăng). Tuy nhiên các hành vi phạm tội của pháp nhân phải là vì
<small>mang lại lợi ích chung của pháp nhân, chứ khơng phải là lợi ích của cá nhân</small>
<small>nào đó của pháp nhân. Bộ luật Hình sự năm 2015 khơng quy định rõ lợi ích</small>
của pháp nhân là lợi ích cụ thể nào, là lợi ích vật chất hay lợi ích về mặt tỉnh
<small>thần. Ví dụ, bằng phương pháp, thủ đoạn trong hành vi quảng cáo gian dối</small>
để tăng uy tín thương hiệu của pháp nhân. Giải thích thêm về lợi ích của pháp nhân, cịn có quan điểm cho rằng: lợi ích mà hành vi phạm tội mang lại cho pháp nhân có thể là một phần hoặc tồn bộ; có thể đã thu được hoặc
<small>chưa thu được trên thực tế. Để chứng minh có hay khơng hành vi phạm tội</small>
đã diễn ra có sự chỉ đạo của người đứng đầu pháp nhân hoặc là ban lãnh đạo của pháp nhân (người đại diện) thì cần phải chứng minh yếu tố lỗi trong mặt
<small>chủ quan của tội phạm.</small>
<small>2.1.4. Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm</small>
<small>mục đích phạm tội” [26, tr.213 |.</small>
<small>Một người thực hiện hành vi bi coi là tội phạm chỉ khi hành vi đó thểhiện đầy đủ ý chí và lý trí của người phạm tội. Vì thế, mặt chủ quan luôn phụ</small>
thuộc vào mặt khách quan của tội phạm. Việc chứng minh diễn biến trạng thái
<small>tâm lý bên trong của người phạm tội thông qua những biểu hiện ra bên</small>
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>ngồi, hay nói cách khác, giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của tội</small>
động phức tạp, đặc biệt là chứng minh tâm lý người phạm tội đối với tội phạm mà họ thực hiện. Trạng thái tâm lý thuộc về ý thức chủ quan bên trong
của người phạm tội và có vai trò pháp lý rất quan trọng đối với việc xác định tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cầu thành nên tội phạm, trong đó yếu tố lỗi trong mặt chủ quan là yếu tố bắt buộc phải có trong mọi tội phạm và là cơ sở dé truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như
<small>xác định tội danh [26, tr.215].</small>
<small>Lỗi của chủ thê thực hiện hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo</small>
vệ rừng va lâm sản là lỗi cố ý trực tiếp, tức là chủ thể phạm tội nhận thức rõ
<small>hành vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản là trái pháp luật,là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Bộ luật hình sự năm 2015khơng quy định động cơ và mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu</small>
thành Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Do đó,
<small>đích tội phạm rất quan trọng. Ngược lại, việc xem xét động cơ và mục đíchphạm tội lại khơng có nhiều ý nghĩa khi định tội danh.</small>
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý vơ cùng nghiêm khắc của
<small>Nhà nước, hậu quả của trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội là rấtnặng nề. Vi vậy, việc nghiên cứu khái niệm và những yếu tố cau thành Tội viphạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản là hết sức quan trọng dé</small>
<small>làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự và phân biệt giữa tội vi phạm quy</small>
<small>định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản với các tội phạm khác. Chỉ có</small>
nghiên cứu kỹ các yếu tố của cấu thành tội phạm mới xác định được hành
<small>vi khai thác trái phép gỗ và lâm sản là tội phạm hay là hành vi vi phạm</small>
hành chính. Từ đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để định tội danh và quyết
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><small>định hình phạt đúng, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Mặt khác,</small>
từ những nghiên cứu, xem xét về khái niệm, cấu thành tội phạm của Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, cơ quan Nhà nước có
<small>cơ sở lý luận dé đưa ra các phương pháp phòng ngừa phù hợp, hiệu quả với</small>
<small>loại tội phạm này.</small>
<small>2.2. Hình phạt đối với tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ</small>
<small>rừng và lâm sản</small>
Trong pháp luật hình sự, hình phạt là biện pháp dùng quyền lực nhà nước buộc người có liên quan trong vụ án hình sự phải tuân theo quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyền [22, tr.59]. Hình phạt được coi là một cơng cụ hữu hiệu để phịng ngừa tội phạm. Khi giải quyết các vụ án về tội vi
<small>phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, Hội đồng xét xử phải</small>
căn cứ vào Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 để đưa ra hình phạt cụ thể. Điều luật này quy định 03 khung hình phạt đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (so với Điều 175
<small>của Bộ luật hình sự cũ thì Điều 232 hơn 01 khung hình phạt, tăng số tiền phạt,</small>
<small>và thêm hình phạt của pháp nhân thương mại).</small>
Về nguyên tắc, đối với mỗi tội phạm đã thực hiện thì chủ thể chỉ bị áp
<small>dụng một loại hình phạt chính [22, tr.118]. Trong trường hợp chủ thể phạmnhiều tội thì Tịa án phải quyết định hình phạt chính đối với từng tội, sau đótổng hợp thành hình phạt chung. Trong tội này, hình phạt chính đối với cánhân gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ va hình phạt tù có thời han. Đốivới pháp nhân thương mại phạm tội thì có thể bị áp dụng hình phạt chính làphạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn.</small>
<small>Về mức hình phạt, so với Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự</small>
năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng phạt tiền; phạt tiền được quy định đối với cả Khoản 1, Khoản 2 của Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 (trong khi
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><small>Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định phạt tiền ở Khoản 1 Điều 175). Bên</small>
cạnh đó, mức phạt tiền được quy định ở Khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 được nâng lên so với quy định tương ứng của Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999. Trong Bộ luật hình sự năm 2015, phạt tiền với tính
<small>chat là hình phạt bổ sung cũng được nâng mức tiền phạt cả về mức tối thiêu</small>
và toi đa so với quy định tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1999. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do sự thay đổi về chính sách hình sự của Bộ Chính trị. Theo tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải
<small>cách tư pháp thì pháp luật hình sự nước ta giai đoạn nay sẽ giảm bớt các hình</small>
<small>phạt nghiêm khắc và tăng các hình phạt khơng tước quyền tự do của công dân</small>
như phạt tiền, cải tạo không giam giữ.
<small>2.2.1. Hình phạt tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015</small>
<small>Theo khoản nay, nếu chủ thé phạm tội có các hành vi khai thác gỗ, lâm</small>
sản ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng khi chưa được cấp giấy phép hoặc giấy phép đã hết hạn, hoặc có giấy phép nhưng khi khai thác lại
không đúng khu vực cho phép hoặc khai thác gỗ rừng khơng có dấu búa bài mà theo quy định là phải có dấu búa bài thì chủ thể phạm tội bị phạt tiền từ
50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài việc khai thác thì hành vi
<small>tang trữ, vận chuyển, mua bán trái phép gỗ, lâm sản cũng thuộc tội nay. Ởđây, cần ghi nhớ nếu gỗ thơng thường thì khoản nảy có quy định mức khaithác cao hơn gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,hiếm Nhóm IA, HA. Trong trường hợp khai thác trái phép gỗ hoặc thực vậtrừng ngồi gỗ nhưng có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại cácđiểm a đến điểm | thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật xử phathành chính. Tuy nhiên, nếu khai thác trái phép dưới định mức nhưng đã bị xửphạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc</small>
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà cịn vi phạm thì vẫn bị xử lý</small>
<small>trách nhiệm hình sự theo khoản này.</small>
<small>Nghiên cứu kĩ Điều 232 cho thấy chính sách bảo vệ rừng của Nhànước ta. Cụ thể: rừng đặc dụng dùng dé bảo tồn hệ sinh thái nên chỉ cầnchủ thé có hành vi khai thác trái phép trên 1 mét khối gỗ quý là đã bị truy</small>
cứu trách nhiệm hình sự, định mức này ở rừng phòng hộ là 05 mét khối và rừng sản xuất là 07 mét khối. Tương tự vậy, thì rừng tự nhiên được Nhà
<small>nước ưu tiên bảo vệ hơn rừng trồng. Đối với gỗ thường, nếu chủ thể cóhành vi khai thác trái phép trên 10 mét khối gỗ mọc ở rừng sản xuất nhưng</small>
<small>là rừng tự nhiên là đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Định mức này ở</small>
<small>rừng trồng là 20 mét khối.</small>
<small>Nhà nước ta đang điều chỉnh pháp luật hình sự theo hướng nội luậthóa và bảo đảm thực hiện các công ước quốc tế. Vì vậy, nếu chủ thể khơngkhai thác nhưng có hành vi tàng trữ, vận chuyền, mua bán trái phép gỗ cónguồn gốc từ nước ngồi thuộc phụ lục I Cơng ước về bn bán quốc tế</small>
các lồi động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thì cũng bị truy cứu trách
<small>nhiệm hình sự.</small>
Vì tính chất mức độ của chủ thê khi vi phạm những quy định tại khoản
<small>1 Điều 232 là ít nghiêm trọng, nên khoản này có quy định về hình phạt tiền, là</small>
hình phạt tước của chủ thé phạm tội một khoản tiền nhất định để sung công
<small>quỹ nhà nước. Khi áp dụng hình phạt tiền, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào</small>
tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội để quyết định số tiền cụ thể trong hạn mức từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Trong trường hợp chủ thể tội phạm đã bị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính thì sẽ khơng bị phạt bổ sung là phạt tiền nữa.
<small>32</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">Nếu xét thấy cần áp dụng hình phạt nặng hơn hình phạt tiền, nhưng nhẹ
<small>hơn hình phạt tù có thời hạn thì Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng hình phạt</small>
cải tạo khơng giam giữ đối với người phạm tội. Theo đó, người bị phạt cải tạo
<small>khơng giam giữ không bị cách ly khỏi xã hội nhưng phải chịu sự giám sát của</small>
cơ quan, tô chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong tội này, Hội đồng xét xử có thể áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ tối đa là 03 năm đối với chủ thé phạm tội.
Hình phạt nặng nhất quy định trong khoản này là tù có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Chủ thể phạm tội có thé bị tước quyền tự do và bị giam
<small>giữ, cải tạo dưới sự giám sát của các cơ sở giam giữ như: trại giam, trại tạmgiam, nhà tạm git.</small>
<small>Khoản nay cũng quy định rõ định lượng gỗ, lâm sản cụ thé, chỉ khi nào</small>
chủ thé khai thác trái phép số lượng trong mức quy định thi mới bị truy cứu
<small>trách nhiệm hình sự. Cần lưu ý là các hành vi của chủ thé phải không thuộc</small>
<small>trường hợp quy định tại Tội hủy hoại rừng.</small>
<small>2.2.2. Hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015</small>
Nếu quy định tại khoản 1 Điều 232 mang tính chất định tội thì các quy
<small>định tại khoản 2 Điều 232 mang tính chất định khung hình phạt. Có nghĩa là</small>
Hội đồng xét xử đã xác định hành vi của một chủ thẻ là phạm tội vi phạm quy
<small>định về bảo vệ rừng và lâm sản nhưng hậu quả gây ra cao hơn mức quy địnhtại khoản 1, thi mới xem xét đến khoản 2 dé xác định hình phạt.</small>
<small>Hình phạt được quy định tại khoản này cao hơn, có tính chất răn đe hơnnên hình phạt cải tao khơng giam giữ khơng cịn được áp dụng cho chủ théphạm tội thuộc khoản 2 Điều này nữa. Khi bị áp dụng hình phạt tiền, mức tiềnphạt mà chủ thê phạm tội phải chịu cũng cao hơn. Tùy theo hậu quả xảy ra mà</small>
Hội đồng xét xử quyết định mức phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng. Mức phạt tù tại khoản này cũng nặng hơn khoản 1, theo
<small>33</small>
</div>