Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

Luận văn thạc sĩ luật học: Người đại diện của đương sự theo pháp luật của pháp nhân trong tố tụng dân sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (18.19 MB, 79 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

BÙI THỊ HẢO

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG

DAN SU VIET NAM

HÀ NỘI - 2023

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

BÙI THỊ HẢO

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT

CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG

DAN SU VIET NAM

Chuyên ngành — : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự Mã số : 8380101.04

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGÔ HUY CƯƠNG

HÀ NỘI - 2023

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan tồn bộ nội dung Luận văn là kết quả nghiên cứu của

<small>cá nhân tơi. Qua q trình học tập và nghiên cứu của bản thân cùng với sự chỉ</small>

bảo của thầy hướng dẫn, tơi đã trang bị cho mình nhiều kiến thức khoa học dé

<small>hoàn thành Luận văn.</small>

Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bat cứ công trình nghiên cứu nao trước đây. Những nguồn tài liệu tham khảo đảm bảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp nhất.

Nếu có bắt kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình.

<small>Hà Nội, ngày.... tháng... năm 2023</small>

<small>HỌC VIÊN</small>

<small>Bùi Thị Hảo</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>MỤC LỤC</small>

LOL CAM ĐOAN... 55c 5c 21 21 22122112212110211211 011.111.1111 re i

BANG CHU VIET TẮTT...-- 2-5 + ©E£+E£+EE+EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEkerkerkerkres iv

LỜI MO DAU oececssscsscsssessssssessssssssssessssssecsuessecsuessssssessusssessusssessssssessuessessseeseseses 1

1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài...---- ¿©5252 ke EEEEEEE 212112211121 crk, | 2. Tình hình nghiên cứu dé tài...-- ¿2 25s x+E££E££E£E+£EE2EEerxerxerkrree 2

3. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên CỨU...-- -- 55555 + + + s++sex+s+ 2

<small>4. Phương pháp nghién CỨU...- 5 5 2 E111 E91 E911 911 kkskkervereve 3</small>

5. Kết cấu của luận văn...---:- - St St+EEE12E9E51115155111211511211221 1151121115 ze. 3 Chương 1: KHÁI QUAT VE NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUAT CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SU ...---5¿©7ccccccccvcxcerseee 4

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của người đại diện theo pháp luật của

đương sự trong tố tụng dân Sự...---¿- 2 + sex E21 EEEEE11211211 111111 4

1.1.1. Khái niệm người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tổ

<small>1051505010500... ... 4</small>

1.1.2. Đặc điểm của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tơ

<small>1.1.3. Vai trị của người đại diện theo pháp luật của đương sự ... 13</small>

1.2. Những nội dung pháp lý cần chú ý về người đại điện theo pháp luật.. 24 Kết luận Chương L...-- 2-2-5 SE+SE+2E£2EE2EE2EEEEEEEEE7E71521122121111 112 xe 31 Chuong 2: THUC TRANG PHAP LUAT VE NGUOI DAI DIEN THEO

PHAP LUAT CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ... 32 2.1. Tổng quan thực trang các qui định pháp luật về người đại diện theo

pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam...--- 32

<small>2.2. Phạm vi và thời han của người đại diện theo pháp luật của đương sự</small>

trong tố tụng đân Sự...---¿- ¿5+ ©++SE+SES2E2E12E127157171711211211211 1111 EE xe 47

<small>il</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

2.3 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự

2.4. Thay đổi, cham dứt quyền người dai diện theo pháp luật của đương sự

trong tố tụng dân Sự...--¿- ¿5s s+SE‡EEEE2E1211211571712121121121111 11 EExe 63 Kết luận Chương 2...---¿- 2-52 St +xSEE9EEEE1EE211191111211111111111. 11.1111 c0. 67

KET LUẬN CHƯNG... - 2 St SE EEEEEEEEEEEEEEEEEEEETEEEEEEEEESEEEESEErkrkrrkee 68 TÀI LIEU THAM KHẢO... 22-5252 ©S£2EE‡EE£2EE£EEESEEeEEerxerxeerxerrerrei 70

<small>iii</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<small>Đại diện theo pháp luật</small>

Đại diện theo ủy quyền

<small>Giao dich dân sựLuật doanh nghiệp</small>

<small>Người đại diện</small>

<small>Người được đại diện</small>

<small>Pháp nhân phi thương mạiPháp nhân thương mại</small>

<small>Quan hệ dân sự</small>

<small>Quan hệ pháp luật</small>

Tố tụng dân sự

<small>iv</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài

<small>Một người (cá nhân hoặc pháp nhân) phải tự mình tham gia quy trình</small>

TTDS dé thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự. Tuy nhiên có những trường hợp phố biến như đương sự chưa thành niên hoặc có khó khăn trong

nhận thức, mất năng lực hành vi dân sự..., đối với cá nhân, và đương sự chỉ có thé tham gia thơng qua người khác, hay đối với pháp nhân thì khơng thé

<small>khơng thơng qua người đại diện trong hoạt động. Vì vậy người đại diện theo</small>

pháp luật của đương sự trong TTDS là một vấn đề pháp lý đã được qui định trong pháp luật của mọi nước, nhưng trong thực tiễn tố tụng thì cịn khơng ít vướng mắc. Trong khi đó áp dụng đúng chế định đại diện theo pháp luật của đương sự trong TTDS là một vấn đề quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích

của cơng dân và góp phần tuân thủ đúng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Pháp luật Việt Nam, nhất là BLTTDS 2015 đã qui định khá cụ thể và chặt chẽ về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong hoạt động TTDS. Người đại diện trong TTDS bao gồm: người đại diện theo pháp luật và

theo ủy quyền. Người đại diện hiện nay có thê là cá nhân, pháp nhân theo quy định của BLTTDS. Như vậy việc xem xét tới tính hệ thống của pháp luật nói chung và tính hệ thống của các qui định riêng về TTDS là rất cần thiết trong thực tiễn TTDS. Về nguyên tắc luật nội dung quyết định luật thủ tục, nhưng

nhiều trường hợp bản thân luật nội dung có những bất cập lớn, thiếu tính thống nhất và bản thân luật tố tụng cũng có những mâu thuẫn với luật nội

dung. Từ đó nhiều rủi ro pháp lý có thé xảy ra khơng chi cho đương sự, mà

cho cả những người tiến hành tố tụng. Vì vậy học viên chọn đề tài “Người

đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” làm

<small>đê tài luận văn của học viên.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài này là một đề tài không phải mới xuất hiện, nhưng với thực trạng

<small>pháp luật, tư pháp và xã hội hiện nay ở Việt Nam mà chưa được nghiên cứu</small>

xử lý bao qt và đầy đủ, thì nó vẫn rất cần thiết tiếp tục nghiên cứu. Hiện

nay đã có một số cơng trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này:

Đề tài nghiên cứu của Tưởng Duy Lượng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà_Nội, 2014 với chuyên đề “Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử”,

Đề tài nghiên cứu Luận án tiến sỹ luật học của Tran Thị Quynh Châu.

Với chuyên đề “Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự”,

Bài viết của Nguyễn Thị Thu Hà, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật tháng 9 năm 2016 ky 341 với chuyên dé “Người đại diện của đương sự trong Bộ luật_ Tố tụng dân sự năm 2015”

Bài viết của Đỗ Văn Chỉnh trên Tạp chí Tịa án nhân dân, số 05/2008

với nội dung “Về người đại diện theo pháp luật trong vụ án ly hơn”

Bài viết của TS Nguyễn Hải An, Tạp chí Tịa án nhân dân với nội

dung “Một người có thê ủy quyền cho nhiều người tham gia tô tụng”

Bài viết của Nguyén Văn Dũng, viết trên tạp chí nghề luật, số 4/2006

với tiêu đề “Quyền của người đại diện của đương sự quy định tại Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự”.

Bài viết của Tưởng Duy Lượng, trên Tạp_ chí khoa học pháp lý số 1/2007 với nội dung “Một vài suy nghĩ về đại diện trong tố tụng dân sự”.

3. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hệ thống lý luận bao quát về đại điện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự và đưa ra những kiến nghị hoan thiện pháp luật và áp dụng pháp luật.

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu lý luận pháp luật, quiđịnh của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan tới đề tài luận văn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<small>- Pham vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi các quiđịnh của pháp luật hiện hành từ năm 2015 trở lại đây.</small>

<small>4. Phương pháp nghiên cứu</small>

<small>Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lénin và tư</small>

tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật với các phương pháp như sau:

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ sự phát triển của chế

<small>định pháp luật được nghiên cứu tìm ra những những kinh nghiêm lịch sử liên</small>

quan dé dé tài luận van...;

<small>- Phương pháp phân tích qui phạm pháp luật và vu việc áp dung pháp luật</small>

được dụng trong luận văn để tìm hiểu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi

hành, pháp dụng pháp luật liên quan, đồng thời giải thích các quy tắc pháp luật trên nền tang lý thuyết liên quan;

- Phương pháp hệ thống pháp lý dùng để mô tả bức tranh khái quát của chế định năm trong hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống tổ tụng dân sự

<small>nói riêng;</small>

- Phương pháp so sánh pháp luật dé thấy sự tương đồng và khác biệt

<small>voi pháp luật nước ngồi từ đó học tập kinh nghiệm thích hợp của pháp luậtnước ngồi;</small>

- Phương pháp liệt kê, mô tả pháp lý dùng dé là rõ thực trang và nắm bắt các quy định hiện hành của pháp luật...

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận

<small>văn được chia thành các chương, mục như sau:</small>

Chương 1- Khái quát về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự

Chương 2 - Thực trạng pháp luật về người đại điện theo pháp luật củađương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<small>Chương 1</small>

KHÁI QUÁT VE NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUAT CUA

DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự

1.1.1. Khái niệm người đại diện theo pháp luật của đương sự trong to tung

<small>dân sự</small>

Chủ thé của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là những chủ thé đặc biệt, “là các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự”". Các quan hệ t6 tụng được chia thành ba loại khác nhau: (1) quan hệ chủ yếu là quan hệ giữa tòa án giải quyết vụ việc dân sự và đương sự (nguyên đơn và bị

đơn); (2) quan hệ giữa những người tham gia tố tụng khác với tòa án và

<small>những người khác được xem là quan hệ có tính cách phái sinh; (3) quan hệ có</small>

sự tham gia của những người tiễn hành tố tụng khác được xem là quan hệ phụ tro’. Như vậy người tham gia tố tụng với nhiều vai trị và vị trí pháp lý khác nhau trong quy trình tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong nhiều trường

hợp, trong tố tụng dân sự xuất hiện người đại diện của đương sự. Họ là một

loại chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.

Đương sự có thé có hai loại là (1) cơ quan, tổ chức hoặc (2) cá nhân mà có thé là nguyên đơn, bị đơn, hay người có quyền và nghĩa vụ liên quan (Điều 68, BLTTDS 2015). “Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia

tố tụng dé bảo vệ qun, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vé lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có qun, nghĩa

<small>vụ liên quan đên vụ việc dân sự”.</small>

<small>! Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trình bày và chế bản tại</small>

<small>Phịng biên tập sách và trị sự Tạp chí Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 33.</small>

<small>? Học viện Tư pháp, Giáo trình luật tơ tụng dân sự, Nxb. Cơng an nhân dân, 2007, tr. 106.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Đương sự là người có quyền tham gia tố tụng chủ động khi có yêu cầu

về quyền lợi, hoặc bị động khi bị cho là vi phạm quyền lợi của người khác

(thường là nguyên đơn). BLTTDS 2015 có quy định đương sự có quyền quyết

định việc khởi kiện, u cầu Tịa án có thầm quyền giải quyết vụ việc dân sự, bên cạnh đó cịn có quyền tại Điều 70, BLTTDS 2015. Như vậy, dé xác định tư cách

pháp lý của đương sự tại phiên tịa thì cần phải xác định được vụ án đó là dân sự

hay việc dân sự. Dấu hiệu pháp lý cơ bản nhất dé phân biệt hai khái niệm này đó

chính là có yếu tổ tranh chấp trong đó ra hay khơng.

“Ngun đơn dân sự, bị đơn dân sự vả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” là các đương sự, nhưng trong đó “Đương sự đầu tiên được quy định là nguyên đơn trong vụ án dân sự. Có nhiều trường hợp trở thành nguyên ”3. Nguyên đơn là người khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của

mình bị cho là bị vi phạm. “Cơ quan, tô chức do BLTTDS quy định khởi

kiện vụ án dân sự dé yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà

<small>nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn. BỊ đơn trong vụ án</small>

dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tô chức, cá nhân khác do BLTTDS quy định khởi kiện dé yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc của người mà

nguyên đơn có trách nhiệm chăm lo bị người đó vi phạm. Đối với người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi

kiện, không bị kiện, nhưng khi giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền

lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị với tòa án và được tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đó. Khi giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người khác mà

người này khơng có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tô tụng với tư cách người

<small>* Trần Anh Tuan (2017), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt</small>

<small>Nam năm 2015, Nhà xuât ban Tư pháp, tr.175.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

có qun lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tịa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng

tại phiên tịa với tư cách người có qun lợi, nghĩa vụ liên quan” dé có thé

bảo vệ quyền va lợi ích của họ kip thời và dé phiên toa xét xử được khách

quan, công bang.

Tuy nhiên, khi đương sự là những cá nhân có lý do khơng đáp ứng về năng lực hành vi, vị trí pháp lý, sức khỏe, có khó khăn về cơng việc, gặp những tình huống bất khả kháng về thiên tai, lũ lụt, hoặc chưa có sự hiểu biết, hiểu

khơng đủ về pháp luật phải có người thay họ dé tham gia tô tụng,... Người tham gia tố tụng dân sự như vậy được gọi là người đại diện của đương sự.

Đại diện là một quan hệ pháp luật mà theo đó một người (có thể là cơ

quan, tô chức) xác lập hay thực hiện một hành vi pháp lý trong phạm vi quyền hạn nhất định. “Người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của một

người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện?” BLDS 2015 định nghĩa tại Điều 139 như sau: “đại diện là việc một

<small>người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác</small>

<small>(sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong</small>

<small>phạm vi đại diện”.</small>

Vậy trong lĩnh vực TTDS thì đại diện cho đương sự được hiểu như sau

phù hợp với tính chất của hoạt động TTDS: “Người đại diện của đương sự là

người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố

tung dé bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp cho đương sự trước tòa án””

<small>Người đại diện của đương sự cũng được phân loại thành hai loại dại</small>

diện là (1) người đại điện theo pháp luật; và (2) người đại diện theo ủy quyền.

<small>* Võ Văn Tuan, “Quyền và nghĩa vụ của đơJơng sơi trong vụ án dân sự — Những bat cập cần khắc phục”, Tạp</small>

<small>chí Toa án, </small>

<small>[ (truy cập ngày 26/08/2020).</small>

<small>5 Trường đại học Luật Hà Nội (2008), Từ dién luật hoc, Nxb Giao thông vận tai</small>

<small>® Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trinh bày và chế bản tại</small>

<small>Phòng biên tập sách va tri sự Tạp chí Trường Đại học Luật Ha Nội, tr. I I8.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Tham gia với tư cách đương sự trước tịa án có thể là bất kỳ ai. Do đó

vấn đề xác định đại diện theo pháp luật của đương sự phụ thuộc vào từng

nhiều đạo luật khác nhau.

BLDS 2015 qui định tại Điều 136 và Điều 137, đại diện theo pháp luật

của cá nhân có thể là:

+ Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

<small>+ Người giám hộ đôi với người được giám hộ;</small>

<small>+ Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành</small>

vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định;

<small>+ Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định đượcngười người giám hộ;</small>

+ Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi

<small>dân sự;</small>

<small>và đại diện theo pháp luật của pháp nhân như:</small>

+ Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

+ Người có thâm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; + Người do Tòa án chỉ định trong q trình tố tụng tại Tịa án.

Đây là quy định có tính chất liệt kê tổng quát. Tuy nhiên luật chuyên ngành có thể quy định cụ thể hơn. Luật Doanh nghiệp 2020 tại Điều 12 quy định: Người đại điện theo pháp luật của một công ty hay thực thé kinh doanh khác phải là cá nhân có quyền đại diện cho cơng ty hay thực thé đó thực hiện

các quyền và các nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi pháp lý của công ty hay thực thê đó, đại diện cho cơng thy hay thực thể đó với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, hay với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hay là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tai, Tòa án, cũng như các

quyên, nghĩa vụ khác theo pháp luật. Như vậy tư cách đại diện trong TTDSđược quy định ngay trong luật nội dung. Tuy nhiên nếu luật tố tụng mà không

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

chú ý tới van dé đại điện theo pháp luật của đương sự thì gây khó khăn cho

vấn đề giải quyết vụ án. Chăng hạn: Bộ luật Hình sự 2015 khơng có quy định

khái qt về người đại diện nhưng lại có nhiều quy định liên quan đến người

đại diện. Nhưng người đại diện được tham gia tố tụng hình sự với địa vị pháp lý với tư cách người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền lợi

ich hợp pháp của người bi tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự

hoặc cũng có thê với tư cách là người đại diện của người tham gia tố tụng khác. Thực tế vẫn có trường hợp bị can, bị cáo, bị hại là người đưới 18 tuôi sống cơ nhỡ, không xác định được địa chỉ thường trú, tạm trú; bị hại là người có khó khăn nhận thức, làm chủ hành vi; người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự và khơng có người đại diện theo pháp luật thì cơ quan tiến hành tổ tung vẫn phải cử người đại điện cho cho các chủ thé nêu trên. “Thông

thường, cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các quy định của BLTTDS

dé cử người đại diện cho bi can, bi cáo, bi hại dưới 18 tuổi; bị hại là người bị

hại là người có khó khăn nhận thức, làm chủ hành vi; người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Điều này cũng dẫn đến những nhận thức khác nhau

giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định giai đoạn nào mới cử

người đại diện, việc cử người đại diện thực hiện như thé nao”

Người dai diện theo pháp luật khác với người đại diện theo ủy quyền ở

<small>căn cứ làm phát sinh ra quan hệ đại diện.</small>

Tuy nhiên để làm rõ người đại diện theo pháp luật khác với người đại diện theo ủy quyền của đương sự như thế nào cần làm rõ về người đại diện

theo ủy quyên như sau:

<small>- Căn cứ pháp sinh tư cách của người đại diện theo pháp luật và người</small>

đại diện theo ủy quyền là khác nhau dựa trên quy định của BLTTDS 2015,

<small>7 Dương Tan Thanh (2019), Người đại diện của ngojời tham gia tố tung là người đưới 18 tuổi trong tố tụng</small>

<small>hình sự, [ (truy cập ngày 08/09/2020).</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

người đại diện theo ủy quyền phát sinh tư cách dựa trên hợp đồng ủy quyên,

mang tính chủ động từ người được đại diện. “Người đại diện theo ủy quyền

theo quy định của BLDS 2015 là người đại diện theo ủy quyền trong tố tung

dân sự” (Điều 85, khoản 4). “Đại diện theo ủy quyền trong TTDS là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa bên đại diện và bên được đại diện thông qua văn bản ủy quyên, theo đó bên đại diện nhân danh và vì quyền lợi của bên

được đại diện thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi ủy quyên,

lợi ich hợp pháp cho bên được ủy quyền””. Việc ủy quyền trong TTDS được

pháp luật quy định tạo nên sự thuận lợi trong hoạt động tố tụng khi bản thân đương sự cần sự giúp đỡ, gặp phải những tình huống khách quan mà họ không thé tham gia tố tụng hoặc khi hồn tồn có khả năng tố tụng nhưng vẫn muốn có người thay mặt mình, đồng thời vẫn đảm bảo đúng với quy định

của pháp luật. Hình thức ủy quyền chính là căn cứ pháp lý để xác định về phạm vi của sự ủy quyền, xác định nghĩa vụ của người được ủy quyền trong

hoạt động ủy quyền, và đồng thời cũng xác định trách nhiệm pháp lý của người ủy quyền hoặc của người được ủy quyên khi tham gia vào các quan hệ

pháp luật TTDS”. Không phải bất kỳ lúc nào người tham gia tố tụng cũng

có quyền ủy quyên.

Riêng trong việc tranh chấp ly hôn, đương sự khơng được ủy quyền cho

người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Bởi vì, việc ly hơn liên quan đến

quyền nhân thân của mỗi cá nhân, được pháp luật bảo vệ và được quy định tại

những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Căn cứ Điều 39 BLTTDS 2015 về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình; Điều 51, LHN&GD 2014 quy

định về quyền yêu cầu giải quyết ly hơn,... Tuy nhiên, trotưng hợp Tịa án

<small>8 Trần Thị Hường, Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc</small>

<small>sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội.</small>

<small>? Nguyễn Minh Hang (2005), “Đại diện theo uy quyền — Từ pháp luật nội dung đến Tố tụng dân sự”, Nguồn</small>

<small>tin: Nghiên cứu lập pháp, [Đại diện theo uy quyền — Từ pháp luật nội dung đến Tố tụng dân sự(lapphap.vn)], (truy cập ngày 22/09/2020).</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2, Điều 51 của LHN&GD 2014 thì

cha, mẹ, người thân thích đó là người đại diện. Như vậy, ngoài quy định đối

<small>với việc ly hơn trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình đương sự khơng được ủy</small>

qun tố tụng thì khơng có quy định nào của pháp luật dân sự hiện tại hạn chế VIỆC Ủy quyền của đương sự cũng như việc khởi kiện vụ án dân sự.

- Người đại diện của đương sự theo ủy quyền sẽ thay đương sự tham

gia TTDS với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự trong nội

dung ủy quyền. Chính vì thế, đương sự ở trường hop này hồn tồn có năng

lực hành vi TTDS. Trên thực tế, có nhiều trường hợp với những lý do khách

quan, chủ quan khác nhau mà đương sự sẽ chọn việc ủy quyền quyên lợi của

mình để một người khác có thể thay mình thực hiện, do đó để bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp của đương sự BLTTDS 2015 quy định “Đương sự có quyền

ủy quyền cho luật sư hoặc người khác đại điện tham gia tơ tung bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình trong mọi việc, ngoại trừ việc ly hơn” (Điều 85,

<small>khoản 4).</small>

- Người đại điện theo ủy quyền bao gồm người đại diện là cá nhân,

người đại diện là pháp nhân. Người đại diện theo ủy quyền được xác lập dựa

trên văn bản ủy quyền giữa người đại diện va người được đại diện, văn bản ủy quyền có thé là giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền. BLDS 2005, cũng

như LCC 2006, LCC 2014 không quy định về hình thức giấy ủy quyền nhưng

trên thực tế giấy ủy quyền vẫn được sử dụng và cũng được công chứng, chứng thực như hợp đồng ủy quyền ”. Khi đương sự là pháp nhân thì việc

<small>tham gia TTDS được thực hiện qua người đại diện theo pháp luật của pháp</small>

nhân hoặc trong trường hợp có sự ủy quyền bằng văn cụ thê.

<small>'° Nguyễn Văn Phi (2018), “Trao đổi một số van dé về văn ban ủy quyền”, Nguồn tin: VKS ND TP Cần</small>

<small>Thơ, [ (truy cập ngày 22/09/2020).</small>

<small>10</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

1.1.2. Đặc điểm của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tổ

<small>tụng dân sự</small>

Quan hệ đại diện trong TTDS, chủ thể xác định là người đại diện và

người được đại diện. Theo quy định của BLTTDS 2015 tại Điều 85: “Người

đại diện trong TTDS bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện

theo ủy quyền. Người đại diện nói chung có thể là cá nhân hoặc pháp nhân

<small>theo quy định của Bộ luật Dân sự”. Người đại diện của đương sự trong TTDS</small>

có những đặc điểm sau về mặt pháp lý: + Về tư cách chủ thể

Chủ thể này được quy định theo BLTTDS 2015 có tư cách thay mặt

đương sự tham gia tố tụng khi được xác định và bảo vệ quyên, lợi ích hợp

<small>pháp của đương sự.</small>

Người tham gia tố tụng được hiểu bao gồm là cá nhân và pháp nhân có

đủ năng lực chủ thê theo quy định pháp luật.

+ Về quyên và nghĩa vụ của người đại diện trong TTDS

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện là sự phản ánh đúng như vậy

của người được đại diện. Người đại diện sẽ thay mặt đương sự, nên quyền và nghĩa vụ sẽ chịu ảnh hưởng từ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định

tại BLTTDS 2015. Phụ thuộc vào những trường hợp cụ thể mà người đại diện sẽ thực hiện nghĩa vụ tố tụng cho nguyên đơn hoặc bị đơn va cũng ảnh

hưởng đến việc chịu trách nhiệm một phần hoặc toan bộ. Người đại diện của

đương sự trong tô tụng dân sự là người thay mặt đương sự, nên đây được xem là người đóng vai trị trung gian cho đương sự kết nỗi với cơ quan tiễn hành tố

<small>tụng, cơ quan thi hành án dân sự.</small>

Do nam trong quan hệ pháp luật mang tính đặc thù nên người đại diện

trong TTDS cần được phân biệt và tránh sự nham lẫn đối với các quan hệ pháp luật khác, như trong dân sự, tranh chấp lao động, hành chính, thương

<small>II</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

mại,... Người đại diện của đương sự trong TTDS là chủ thé thay mặt đương

<small>sự tham gia quan hệ TTDS. Đây một lĩnh vực pháp luật đặc biệt mang tính</small>

chất ràng buộc pháp lý chỉ diễn ra khi có tranh chấp. Quan hệ TTDS tơn tại

khi có một bên là chủ thé - cơ quan tiễn hành tố tụng có thẩm quyền đứng ra

giải quyết vụ, việc dân sự cho các chủ thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với tranh chấp dân sự đó.

<small>Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người đại diện tham gia</small>

tố tụng dé bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo “quy định của pháp luật hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ” (Điều 85, BLTTDS 2015)

Ngoài trường hợp người bị hạn chế quyền đại diện theo quy định tại

Điều 87, BLTTDS 2015 thì người đại diện TTDS của đương sự thường gặp

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

- Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của

<small>người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo</small>

pháp luật néu được Tòa án chỉ định.

Dù xuất phát từ những mục đích tố tụng khác nhau nhưng khi được

<small>tham gia TTDS người đại diện theo pháp luật của đương sự phải đảm bảo bảo</small>

vệ quyền lợi của người được đại diện.

Tuy nhiên để đảm bảo khách quan “cán bộ, cơng chức trong các cơ quan Tịa án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong TTDS, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại điện cho cơ quan

của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật” (Điều 87, BLTTDS

2015. Khi uỷ quyền đương sự có thé ủy quyền một phan hoặc tồn bộ quyền,

<small>nghĩa vụ của mình trong TTDS ở các giai đoạn thủ tục khởi kiện, thụ lý vụ án</small>

<small>12</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

dân sự, chuẩn bị xét xử, phiên tòa xét xử vụ án dân sự. Việc ủy quyền dựa

trên sự thỏa thuận là chủ yếu, mối quan hệ đại diện được xác lập hồn tồn tự

nguyện, bình đăng và theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền của đương sự là pháp

nhân xảy ra khi hết thời hạn ủy quyên theo văn ban ủy quyền, trường hợp

công việc ủy quyền đã được hoàn thành xong trước thời hạn ủy quyên, trường hợp người đại điện hủy bỏ việc ủy quyền của mình hoặc pháp nhân chấm dứt hoạt động. Đối với việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền mọi sự kiện pháp lý đều do ý chí chủ quan cả một trong hai bên nhận ủy quyền và ủy quyền hoàn

<small>toàn khơng có sự ràng buộc như quan hệ đại diện theo pháp luật.Người đại diện do Tòa án chỉ định</small>

Chế định người đại diện do Tịa án chỉ định khơng được quy định cụ

thê trong BLTTDS 2015. Theo quan điểm của tác giả người đại diện do tòa án chỉ định thực chất là người đại diện theo pháp luật. Việc ghi nhận quyền

đại điện do chỉ định từ cơ quan có thầm quyền ở đây là Tịa án được quy định:

“Khi tiến hành TTDS, nếu có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có

<small>khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà khơng có người đại diện hoặc</small>

<small>người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định</small>

tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tịa án phải chỉ định người đại diện dé tham gia tố tụng” (Điều 87, BLTTDS 2015).

<small>1.1.3. Vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự</small>

Chế định người đại diện vốn là quy định được áp dụng phô biến, nên trong TTDS cũng vậy. Việc có người đại điện của đương sự tham gia tố tụng dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự một cách kịp thời nhằm thực hiện đúng tinh thần nhân đạo và nền tang đạo đức của pháp

<small>luật Việt Nam. Với vai trò là người đại diện của đương sự trong TTDS, họ có</small>

<small>13</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

thể giúp cho người được đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương

sự, đồng thời giúp đỡ cho các tòa án giải quyết các vụ án dân sự được chính

xác, cơng bằng.

Vậy, người đại diện đóng vai trị quan trọng trong TTDS, có quyền

thay mặt đương sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người được đại diện, thực hiện nghĩa vụ tố tụng, đồng thời có tác dụng làm rõ những tình tiết để làm

sáng tỏ vụ việc dân sự. Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự có

<small>một vai trị và vị trí pháp lý riêng biệt do hoạt động đại diện của chính người</small>

này, do quyền lợi của đương sự được đại diện, và do tính chất của luật tố tụng dân sự quyết định.

Chế định người đại diện theo pháp luật của đương sự không thé tach rời pháp luật tố tụng dân sự. Do vậy nó có vai trị lớn như vai trị của pháp luật tố

<small>tụng dân sự.</small>

Pháp luật là công cụ pháp lý để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh

trong đời sống, đảm bảo được xã hội ôn định va phát triển. Trong quy định

pháp luật nói chung cũng như trong quy định TTDS việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức luôn được đặt lên hàng đầu, đây là những giá

trị tốt đẹp mà đất nước luôn muốn hướng đến. Người đại diện của đương sự vì thế giữ một vai trị khơng nhỏ trong những mục tiêu chung nêu trên, có ý

nghĩa quyết định khi đương sự cần sự giúp đỡ để hỗ trợ cho quyền lợi cá nhân, cơ quan cũng như các tổ chức ban ngành. Đánh giá được sự quan trọng

nêu trên mà chế định người đại điện của đương sự trong TTDS cần ngày càng

được hoàn thiện, khả định được giá tri cốt lõi của nó.

“Luật tố tụng dân sự Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự để

<small>bao đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng,</small>

<small>14</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

đúng đắn bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ich hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước”!!. Pháp luật tổ tụng dân sự của nước ta đóng một vai trị quan trọng góp phan thê chế

hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp trong tố

tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết và thi hành án dân sự một cách cơng minh, chính xác, kịp thời đúng tinh thần pháp chế nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Pháp luật TTDS luôn ln tơn trọng và bảo vệ quyền và lợi

ích chính đáng của các chủ thé tham gia tố tụng, mặc dù LTTDS điều chỉnh

mang tính chất mệnh lệnh đối với các quna hệ trong phạm vi điều chỉnh của

nó, đo d6 vai trò của cơ quan tiến hành tổ tụng, các cơ quan liên quan ra các quyết định có giá trị bắt buộc. Tuy nhiên LTTDS là luật hình thực để bảo đảm

<small>thực hiện luật nội dung là luật tư (dân sự, thương mại, lao động và hôn nhân</small>

và gia đình) mang tính chất thỏa thuận, tự định đoạt của các chủ thé.

<small>Trong quá trình tham gia hoạt động TTDS, người đại diện của đương</small>

sự đóng vai trị thay người được đại điện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, thực hiện nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật. Theo sự phát triển

tất yêu, những vẫn đề xã hội cũng ngày càng phức tạp dẫn đến các mối quan

hệ pháp luật trở nên đa dạng, đương sự phải tham gia vào hoạt động tô tụng dân sự do lý do cụ thé nhưng không thê hoặc khó có thể tham gia với nhiều ly

do như thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng, khơng có kiến thức nhất định về

pháp luật, xảy ra sự kiện bất khả kháng về sức khỏe, công việc, thiên tai, lũ

lụt, hạn hán, hỏa hoạn,... nên đương sự cần có người đại diện. Người đại diện

của đương sự thay mặt đương sự thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ cụ thể khi được giao quyền, việc đại diện theo pháp luật sẽ là giải pháp để họ hưởng được những quyền lợi mà họ đáng được nhận trong quá trình tiến hành tố tụng. Nếu chủ thể tham gia tố tụng là pháp nhân, những tổ chức thì việc

<small>!! Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, tr.11.</small>

<small>15</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

có người đại diện tham gia tố tụng là việc đương nhiên. Do đó, người

đại diện ln đóng vai trị quan trọng khơng thé thiếu trong quá trình tiến

hành tố tụng. Người đại điện cho đương sự xuất hiện với nhiều tư cách pháp

lý như người đại diện cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ

liên quan,... tùy thuộc vào việc họ tham gia tố tụng mà người đại diện cũng có quyền và nghĩa vụ nhất định. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện của

đương sự được kế thừa từ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định,

có thé tham gia các phiên họp, tham gia phiên tòa, cung cấp, sao chụp các tai

<small>liệu, chứng cứ trong vụ án dân sự,... Người đại diện của đương sự có vai trị</small>

quan trọng nên khi chọn người đại điện đương sự cần có sự liên kết cũng như có quyết định đúng đắn dé người đại diện có thé phát huy hết nguyện vọng, đảm bảo quyền, lợi ích của đương sự. Người đại diện của đương sự có trách

nhiệm xác định rõ phạm vi và quyền hạn của mình trách tình trạng làm trái

<small>với quy định của pháp luật.</small>

Khi tham gia tố tụng dân sự nói riêng, việc chủ động thực hiện các công tác liên hệ tới cơ quan tiến hành tố tụng là điều tất yếu. Quan hệ dân sự khi có tranh chấp lợi ích cần được giải quyết nên khi đương sự muốn chứng minh quyền khởi kiện vụ việc của mình cần chủ động thực hiện quyền

và nghĩa vụ chứng minh cho cơ quan có thâm quyền và đương sự tham gia trong vụ việc đặc biệt là bị đơn thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của

<small>mình. Vì vậy, người đại diện của đương sự cũng phải chủ động thực hiện các</small>

cơng tác liên quan đến q trình tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ich hợp

<small>pháp của người được đại diện một cách nhanh chóng, chính xác đúng với quy</small>

định pháp luật. Ngồi việc có mặt, tham dự các phiên tịa thì trong một sé giai

đoạn người dai diện có thể cung cấp các chứng cứ trong động chứng minh

quyền lợi của người được đại diện, phối hợp với các chủ thể khác, cơ quan

<small>có thâm quyên.</small>

<small>16</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

Đương sự được xem là chủ thể được đánh giá cao trong hoạt động

chứng minh, đối với người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự thì việc chứng minh trong tơ tụng dân sự là một trở ngại lớn đối với

VIỆC giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự. Bên cạnh đó khi cơ quan, tổ chức

khởi kiện tham gia tố tụng đều phải thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyên thì việc chứng minh càng cần có

sự hỗ trợ.

<small>Theo quy định của BLTTDS 2015 việc chứng minh được xem là nghĩa</small>

vụ nếu “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với minh phải thé hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” (Điều 91, khoản 2). Vì thế việc chứng minh trong trường hợp này nếu đương sự không tự thực hiện

được sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc của cơ quan tiến hành tố tụng.

Chứng minh trong tổ tụng dân sự là hoạt động tổ tụng của chủ thể tố tung, các hoạt động tố tụng trong q trình chứng minh được thực hiện có sự kết nối giữa đương sự, cơ quan tiễn hành tố tụng va các cơ quan quan khác.

Dù ở vị trí tố tụng là nguyên đơn hay bị đơn việc chứng minh là vô cùng cần thiết, BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 từng quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tổ tung dân sự của người được bảo vệ”. Căn cứ Điều 21 về quy định tại Điều 73 của BLTTDS tại

Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã

được sửa đôi, bố sung theo Luật sửa đôi, bé sung một số điều của LTTDS:

“Theo quy định tại khoản 2 Điều 73 của BLTTDS, thì cơ quan, tổ chức khởi kiện dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là dai

<small>17</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ. Trong

trường hợp này cơ quan, tô chức khởi kiện tham gia tố tụng đơiợc thực hiện

thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền của cơ quan, tổ chức đó”.

Về nguyên tắc, khi đã có quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà đương sự không thực hiện, hoặc thực hiện sai làm ảnh hưởng đến

công tác giải quyết vụ việc thì van có hậu quả pháp lý cụ thé.

Để có hướng giải quyết triệt dé cho các quy định về chứng minh

BLTTDS 2015 đã xây dựng Điều 91 “Nghĩa vụ chứng minh”. Nội dung cốt

<small>`b`</small>

lõi của quy định nhằm xác định rõ chứng minh trong tố tung dân sự thuộc về đương sự, “đương sự đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của người khác đối với mình có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu

cầu, phản đối yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp” '°.

Đây là hoạt động đầu tiên của Tòa án tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do

<small>nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện khi chưa thụ lý vụ án theo</small>

quy định. Người khởi kiện nộp kèm tài liệu, chứng cứ là việc củng cố lại quyền lợi của chính mình. Khi người khởi kiện nộp đơn mà có nộp tài liệu,

chứng cứ thì Tịa án phải tiễn hành thu thập và lập biên bản giao nhận chứng cứ như quy định tại các khoản 2,3 Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự. “Ngược lại, bị đơn cũng có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh sự phản đối u cầu của mình đối với đương sự phía bên kia”!”. Đây là việc đương sự phản đối chứng minh cho tịa án thấy bản thân khơng xâm phạm đến quyền lợi của đương sự có yêu cầu, dé có cơ sở, căn cứ bác bỏ yêu cầu

<small>mà bên kia đưa ra.</small>

<small>'? Nguyễn Thị Thu Hà, Bình luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân</small>

<small>sự năm 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội, [Bình luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minhtrong Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2015 (lapphap.vn)], (truy cập 25/08/2020).</small>

<small>3 Nguyễn Thị Thu Hà, Bình luận về nguyên tắc cung cap chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dan</small>

<small>sự năm 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội, [Bình luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minhtrong Bộ luật Tổ tung dân sự năm 2015 (lapphap.vn)], (truy cập 25/08/2020).</small>

<small>18</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Tuy thuộc vào tính chất của các quan hệ pháp luật nội dung sẽ ảnh

hưởng đến việc xây dựng các hướng giải quyết trong tố tụng dân sự. Nếu

đương sự khơng thể tự mình thực hiện nghĩa vụ tố tụng thì Tịa án sẽ xem

xét trường hợp khi cần thiết có người đại diện theo pháp luật. Với vai trò là người kết nối, người đại diện của đương sự sẽ giúp đương sự thực hiện quyền

và nghĩa vụ t6 tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ tố tụng tùy thuộc vào mục đích, tính chất tham gia tố tụng mà được người đại diện của đương sự thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Qua đó, việc giải quyết vụ việc dân

sự được thuận lợi, ngược lại khi quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự bị thay đổi do người đại diện của đương sự vì khơng thực hiện đúng hoặc khơng

thực hiện sẽ ảnh hưởng một cách trực tiếp đến quyền, lợi ích của

đương sự cũng như tiễn trình tố tụng dân sự. Việc có người đại diện, đương

sự khơng cần phải lo lắng do sự trở ngại chủ quan của mình làm ảnh hưởng

đến việc giải quyết vụ việc dân sự của cơ quan quan tiến hành tố tụng như tịa

án và qun, lợi ích hợp pháp của các chủ thé khác cùng tham gia tố tung dân

Đồng thời, người đại diện theo pháp luật của đương sự cần nắm rõ những quy định liên quan đến quyền dojgc biết thơng tin của những chủ thé

khác để có thể chủ động bảo vệ quyền và lợi ích của người được đại diện.

<small>“Khi đương sự giao nộp tải liệu, chứng cứ cho Tịa án thì họ phải sao gửi tài</small>

<small>liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của</small>

đương sự khác” (Điều 96, khoản 5, BLTTDS 2015) nhưng quy định về thời

hạn là bao lâu thì chưa cụ thể nên để kip thời năm bắt thông tin tai liệu,

chứng cứ quả là một điều khó khăn và khơng có sự kịp thời đối với quyền lợi

<small>của đương sự.</small>

<small>Người đại diện theo pháp luật đóng vai trị quan trọng trong q trình</small>

tiễn hành tố tụng nhất là đối với các cá nhân thuộc nhóm yếu thế về mặt pháp

<small>19</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

luật trong xã hội, họ là những chủ thể cần được bảo vệ. Theo quy định tại

Điều 85 BLTTDS năm 2015: “Người đại diện theo pháp luật theo quy định

của Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tổ tụng dân sự, trừ

trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật”.

“Đối với cá nhân các chủ thể được xem là người đại điện theo pháp

luật của đương sự bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người

giám hộ đối với người được giám hộ.” (Điều 136, BLTTDS 2015). Người đại

diện của đương sự đương nhiên được tham gia tổ tụng dân sự khi cơ quan

tiến hành tố tụng xét thay cần thiết.

Chế định người đại diện theo pháp luật là một công cụ mang tinh hợp hoàn cảnh để các đương sự chủ động thể hiện ý chí của người doge đại diện trong việc theo đuôi hoạt động tố tụng. Người đại diện theo pháp luật của

đương sự trong tố tụng dân sự sẽ đương nhiên được tham gia trong mọi hoạt

động tố tụng hoặc kê từ giai đoạn xác định người đại diện bởi quyết định chỉ định người đại điện của cơ quan có thẩm quyền khi xét thấy cần thiết. Từ nội

dung cốt lõi trong pháp luật về dân sự, trong tố tụng dân sự - hoạt động pháp lý nhằm giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động chế định người đại diện của đương

sự cũng vận hành một cách linh hoạt hướng đến việc thỏa nhu cầu, mong

muốn khách quan cho các đương sự.

Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự có những đặc điểm cần chú ý như sau:

+ Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tổ tung dân sự là

cá nhân hoặc pháp nhân có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

Đối với BLTTDS 2015 trường hợp người đại diện theo pháp luật được

bổ sung quy định “người đại diện là pháp nhân”. Day được xem là bước tiến trong việc xác định người đại diện trong tố tụng dân sự. Về mặt khoa học

<small>20</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

<small>pháp lý tuy có quy định nhưng việc xác định người đại diện theo pháp luật là</small>

pháp nhân trong hoạt động tố tụng vẫn chưa được áp dụng cũng như chưa

được cơ quan có thâm quyền thực hiện một cách rộng rãi, hiệu quả. Về nguyên

tac tố tụng, “đương sự là người từ đủ 18 tudi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi hành vi dân sự” (Điều 69,

khoản 3), thì sẽ tự mình tham gia tố tụng dân sự. Pháp luật tố tụng dân sự

cũng vạch định hướng giải quyết đối với việc một đương sự khơng thé tự

mình tham gia tố tụng khi thuộc trường hợp là người chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi,.... đó là quy định về người đại

diện của đương sự tham gia tô tung dân sự. Đối với người đại diện theo pháp luật là cá nhân thì phải đảm bao đầy đủ điều kiện về năng lực hành vi tô tụng

dân sự mới có thé làm người đại diện, bởi vì những cá nhân khi được đại diện thường rơi vào các trường hợp đặc biệt yếu thế nhưng phải tham gia tố tụng

dân sự, họ là người cần được bảo vệ hoặc nhờ vảo người đại diện để thực hiện nghĩa vụ tố tụng.

Điều kiện tiên quyết dé một cá nhân trở thành người đại điện theo pháp luật là cá nhân phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ. Quy định về năng lực lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự

được quy định tại Điều 69 BLTTDS 2015: “Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự”. Nếu năng lực pháp luật tố tụng dân sự là điều kiện

cần thì năng lực hành vi tố tụng dân sự là điều kiện đủ để một chủ thể có thể tham gia vào hoạt động tố tụng đặc biệt là người với vai trò của người đại

diện cho đương sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự là

yếu tố biến động nhất của năng lực chủ thể. Muốn bảo vệ được quyền, lợi ích

<small>hợp pháp của mình hoặc của người được đại diện, đương sự khơng nhữngphải có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình như việc tham</small>

<small>21</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

gia vào các quan hệ pháp luật khác mà cịn phải có sự hiểu biết sâu sắc về

pháp luật, trong đó có cả pháp luật tố tụng dân sự. Do vậy, thông thường cá

nhân chỉ được coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự khi đã từ đủ mười tám

tudi trở lên, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, không bi hạn chế năng lực

hành vi dân sự hoặc trường hợp pháp luật quy định khác. Đối với những

người chưa đủ mười tám tuổi, bị mất năng lực hành vi dân sự, bi han chế nang

lực hành vi dân sự thi khơng có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ, việc

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự này trước cơ quan tiến hành tố tụng phải được đảm nhận bởi người đại diện hợp pháp của họ. Trong quy định trường hợp: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động, giao dịch dân sự và có khả năng tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình” (Điều 69, khoản 6, BLTTDS

2015), thì đối với các vụ việc liên quan trên họ sẽ được xem là có năng lực hành vi dân sự được quyền tự mình tham gia tố tụng dân sự.

Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức, pháp nhân doanh nghiệp thì

việc xác định năng lực hành vi là cần thiết mà chỉ cần xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc người lãnh đạo của cơ quan, tơ chức đó.

Họ sẽ là người tham gia tố tụng dân sự trên danh nghĩa đại diện của pháp

+ Người đại diện theo pháp luật sẽ thay mặt đương sự bảo vệ quyền,

<small>lợi ích hợp pháp của đương sự, thực hiện nghĩa vụ theo quy định của phápluật</small>

Xuất phát từ khía cạnh ngơn ngữ học, “Bảo vệ được hiểu là chống lại

mọi sự xâm phạm dé giữ cho ln ln được ngun vẹn”, Theo đó,“nội

<small>dung của việc bảo vệ gôm hai hoạt động: một là, chông lại các hành vi xâm</small>

<small>4 Viên Ngôn ngữ học (2011), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb. Phương Đông, tr.34.</small>

<small>22</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

phạm; hai là, giữ gin cho luôn được nguyên vẹn”'Ÿ. “Trong tố tụng dân sự, dựa vào tính chất của từng loại quan hệ dân sự mà nhà lập pháp xây dựng thủ

tục phù hợp để giải quyết các quan hệ đó. Việc xây dựng các thủ tục tố tụng

phù hợp giúp cho việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp được nhanh chóng, hiệu quả

và tiết kiệm”'”. Các cá nhân được nêu là những đối tượng cần dojgc thay mặt tham gia tố tụng, vốn di họ là những cá nhân cần có sự giúp đỡ về mặt pháp

lý, khi tham gia tố tụng sẽ khơng tự mình bảo vệ quyền lợi của mình vì thế

người đại diện đóng vai trị quan trọng tạo nên sự bình dang trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Người đại diện được xem là người thay mặt đương sự thực hiện hoạt động tố tụng dé bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của đương sự. “Người đại điện theo pháp luật của đương sự có quyền xác lập,

<small>thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ</small>

trường hợp pháp luật có quy định khác” (Điều 134, BLTTDS 2015).

<small>Việc quy định người đại diện theo pháp luật của đương sự có ý</small>

nghĩa quan trọng, nhằm bảo đảm quyền được đại diện của đương sự. Khi

đương sự không thé tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì

<small>người đại diện sẽ đứng ra giúp họ.</small>

<small>Người đại diện theo pháp luật không thuộc các trường hợp không làm</small>

người đại diện theo pháp luật theo quy định của pháp luật: Theo đó, một số cá

nhân khơng được làm người đại diện theo pháp luật nhằm đảm bảo tính minh

bạch, cơng bằng trong hoạt động tố tụng bao gồm các chủ thể sau: “cán bộ; công chức trong các cơ quan Tịa án; Kiểm sát; Cơng an khơng được làm

người đại diện trong tô tụng dân, trừ trường hop họ tham gia tố tụng với tư

<small>cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện</small>

cho co quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật” (Điều

<small>'S Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Da Nẵng, tr.36</small>

<small>'5 Nguyễn Thị Thu Hà, Vũ Hoàng Anh, Nguyên tắc “Quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp</small>

<small>của đương sự”, Trường Dai học Luật Hà Nội, </small>

<small>[ (truy cập 25/08/2020).</small>

<small>23</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

87, khoản 3, BLTTDS 2015). Quy định cho thấy sự thống nhất về tư duy, ý chí pháp luật giữa hai chủ thé là người đại điện và người được đại diện tránh sự xung đột quyên lợi, khó tạo được sự khách quan, dân chủ, công bang.

Mỗi chủ thé khi tham gia hoạt động tố tụng dân sự đều có một vai trị

nhất định, người đại diện của đương sự nói chung cũng như người đại diện theo pháp luật nói riêng có vai trị phan ánh trong tổ tụng như sau:

- Người đại diện theo pháp luật thay mặt đương sự tham gia tố tụng dân sự, bảo vệ quyên, lợi ích pháp của đương sự, “nhất là trong trường hợp họ là người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực tố tụng dân sự”!”, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định đối với người đại diện theo pháp luật họ là người có quyền thay mặt đương sự thực hiện quyền khởi kiện vụ án ra cơ quan có thâm quyền đây được xem là sự khác biệt trong khi người đại diện theo ủy quyền chỉ có

thể tham gia hoạt động tố tụng từ khi vụ án đã được thu ly đúng trình tự trơjớc

đó. Người đại diện theo pháp luật ln được xem là chủ thể giúp người được đại diện có thé hưởng đầy đủ qun, lợi ích qua đó thê hiện tinh thần của pháp

luật Việt Nam ln bình dang, cơng tâm, bảo vệ quyền con người của mỗi

<small>công dân.</small>

- Khi tham gia tô tung dân sự người đại diện theo pháp luật của đương

sự nói riêng cũng như người đại diện nói chung đều góp phần hỗ trợ việc thực

hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng cho người được đại diện. Bên cạnh đó việc hỗ

trợ cho các chủ thể tham gia tố tụng như cơ quan tiến hành tố tụng sẽ kịp thời,

chính xác, đúng trình tự, và tinh thần minh bạch của pháp luật. Qua đó quyền lợi và nghĩa vụ của đương cũng được thực hiện chuẩn xác đúng tiễn độ.

1.2. Những nội dung pháp lý cần chú ý về người đại diện theo pháp luật

Khi pháp nhân tham gia quan hệ tố tụng dân sự thông qua người đại diện,

thì phảo tuân thủ các quy tắc của pháp luật nói chung về người đại diện. Về

<small>! Trường Dai học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trinh bày và chế bản tại</small>

<small>Phòng biên tập sách va tri sự Tạp chi Trường Dai học Luật Hà Nội, tr. I I8.</small>

<small>24</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

<small>DDTPL của pháp nhân: BLDS năm 2015 không nêu khái nệm DDTPL của pháp</small>

nhân, mà chỉ quy định về người ĐDTPL của pháp nhân với nội dung như sau:

“Người ĐDTPL của pháp nhân bao gồm: người được pháp nhân chỉ định theo

điều lệ; người có thâm quyên đại diện theo quy định của pháp luật; người do Tòa

án chỉ định trong q trình tố tụng tại Tịa án. Một pháp nhân có thé có nhiều người DDTPL và một người đại điện có quyền đại điện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 BLDS” (Điều 137, BLDS 2015).

- Đối với “Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ”. Trường hợp

pháp luật quy định “pháp nhân phải có điều lệ” thì việc xác lập tư cách

ĐDTPL của pháp nhân được xác định theo điều lệ của pháp nhân ngay khi pháp nhân được hình thành. Trong điều lệ của pháp nhân đó phải chỉ định được ĐDTPL của pháp nhân. Bởi vì, điểm đ, khoản 2 Điều 77 BLDS năm 2015

quy định “điều lệ pháp nhân phải có người DDTPL”; hoặc Luật doanh nghiệp (LDN) năm 2020 quy định trong điều lệ của cơng ty phải có: “số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người ĐDTPL của doanh nghiệp; phân chia quyền và nghĩa vụ của người ĐDTPL trong trường hợp cơng ty có nhiều hơn một người ĐDTPL” (Điều 24, khoản 2, Luật Doanh nghiệp 2020).

<small>Thông thường, trong trường hợp người DDTPL của pháp nhân được quy</small>

định trong điều lệ chủ yếu là “người giữ chức vụ quản lý, điều hành pháp nhân”.

Sau khi cơ quan nhà nước có thâm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thì người ĐDTPL của cơng ty (là người quản lý, điều hành của

pháp nhân) nhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của công ty; đại điện công ty để “yêu cầu giải quyết việc dân sự với

tư cách nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước

Trọng tai hoặc Tịa án; người DDTPL của cơng ty cịn có thể thực hiện các

quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” như quy định tại khoản 1

Điều 12 LDN năm 2020.

<small>25</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

- Đối với “Người có thâm quyên đại diện theo quy định của pháp luật” là trường hợp người ĐDTPL của pháp nhân được cơ quan nhà nước có thâm quyền ra quyết định bổ nhiệm giữ chức danh “người DDTPL của pháp nhân”.

<small>Trong trường hop nay, người DDTPL của pháp nhân cũng chính là người</small>

đứng đầu pháp nhân.

Hoặc trường hợp pháp luật quy định “pháp nhân phải có điều lệ”, nhưng trong điều lệ khơng có quy định người ĐDTPL, thì pháp luật quy định một hoặc nhiều người là người ĐDTPL của pháp nhân. Hoặc trong trường

<small>hợp một người đã và đang làm người DDTPL của pháp nhân, khi NDD trước đó</small>

khơng đủ điều kiện tiếp tục làm người ĐDTPL cho pháp nhân đó, thì thành viên

<small>cịn lại là người DDTPL của pháp nhân, như quy định trong LDN năm 2020:</small>

“Đối với cơng ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành

viên là cá nhân làm người DDTPL sẽ được thay đơi cho đến khi có quyết định của pháp luật, Hội đồng thành viên, về người ĐDTPL của cơng ty”.

- Đối với “Người do Tịa án chỉ định trong q trình tố tụng tại Tịa

án”. Bên cạnh việc đại diện cho pháp nhân dé xác lập, giao dịch, thì người ĐDTPL cịn “đại diện cho pháp nhân” tham gia giải quyết tranh chấp trước các Trọng tài hoặc Tòa án với tư cách “nguyên đơn, bị đơn, người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan” như quy định tại khoản 1 Điều 12 LDN năm 2020. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015 cũng có quy định “người

<small>DDTPL theo quy định của BLDS là người DDTPL trong TTDS”.</small>

Khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015 quy định về các trường hợp không được làm người ĐDTPL: “nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với NĐĐD mà quyên và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyên va lợi

ích hợp pháp của NDDD; nếu ho đang là người DDTPL trong TTDS cho một

đương sự khác mà quyền và lợi ich hợp pháp của đương sự đó đối lập với

quyền và lợi ích hợp pháp của NDDD trong cùng một vụ việc”. Ngoài ra,

khoản 7 Điều 12 LDN năm 2020 cũng quy định Tịa án hoặc cơ quan có thấm

<small>26</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

quyên tiễn hành tố tụng khác có quyền “chỉ định người ĐDTPL tham gia tố

<small>tụng theo quy định của pháp luật”.</small>

Tác giả thấy rằng các quy định nêu trên là phù hợp thực tiễn khi người

ĐDTPL của pháp nhân không đủ điều kiện tham gia tố tụng trong vụ việc tranh chap. Dé dam bảo việc giải quyết đúng quy định của pháp luật, nếu như pháp nhân khơng có người ĐDTPL hoặc NDD khơng đủ điều kiện tham gia

tố tụng, khi thụ lý vụ việc dân sự, Tịa án có thé chỉ định NĐD của pháp nhân

tham gia tố tung tại Tòa án.

Từ quy định về pháp nhân, khái niệm về đại diện, quy định về đại diện

của pháp nhân và ĐDTPL của pháp nhân như đã được tác giả viện dẫn, phân

tích như nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm chung về người ĐDTPL của pháp

nhân như sau: ĐDTPL của pháp nhân là người được bổ nhiệm làm “người đứng đầu pháp nhân”, hoặc là người được “chỉ định” để thay mặt pháp nhân

xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của pháp nhân,

đại điện cho pháp nhân tham gia tố tụng khi Trọng tài hoặc Tòa án giải quyết

các vụ việc tranh chấp.

Pháp nhân có thé được coi là một thực thé pháp lý độc lập. Tuy nhiên,

tự bản thân pháp nhân khơng thé hành động do chính minh, mà chỉ có thé hành động thơng qua những con người cụ thé (những người quản ly)'*. Pháp nhân tham gia QHDS với tư cách là “một chủ thê độc lập như thể nhân” phải

<small>thông qua NDD. Với cách định nghĩa người DDTPL của pháp nhân như ở</small>

phần trên, thì người ĐDTPL của pháp nhân có các đặc điểm sau:

- Thứ nhất, người ĐDTPL của pháp nhân là cá nhân có đầy đủ năng lực

<small>pháp luật và năng lực hành vi dân sự.</small>

<small>!8 Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2011), Pháp nhân — Chủ thé quan hệ pháp luật dan sự, Luận văn thạc sĩ luật</small>

<small>27</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

Pháp nhân khi tham gia QHDS với tơi cách là “một chủ thé độc lập” thì

cũng có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi của mình. Theo

Điều 86 BLDS năm 2015. Còn đối với “năng lực hành vi của pháp nhân”

được thực hiện bằng hành vi của con người cu thể. Về tiêu chuẩn và điều kiện

của người ĐDTPL của pháp nhân đáp ứng về điều kiện “năng lực hành vi dan

sự” (là người đủ 18 tuổi trở lên, trừ trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi

dân sự, bị mắt năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận

thức, làm chủ hành vi) và các trường hợp không được quyên thành lập, quản

lý doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 17 LDN năm 2020 (ví dụ như Điểm đ quy

định “Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức,

làm chủ hành vi”), từ đó có thé hiểu chỉ có người đã thành niên, có “đủ năng lực hành vi dân sự” và “không bị hạn chế” năng lực pháp luật (bị cam đảm nhiệm chức vu, cắm làm những nghề, những công việc nhất định) mới đủ điều kiện ĐDTPL của pháp nhân. Bên cạnh đó, ngồi đặc điểm là “cá nhân có đầy

<small>đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi”, thì người ĐDTPL của pháp nhânphải là người có “trình độ chun mơn và năng lực phù hợp”, ví dụ như:</small>

“Tiêu chuẩn Giám đốc Sở Tư pháp phải có trình độ cử nhân luật trở lên, đang

<small>giữ ngạch chun viên chính hoặc tương đương trở lên, có thời gian công tác</small>

pháp luật từ đủ 05 năm trở lên và có ít nhất 03 năm đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo từ cấp trưởng phòng thuộc Sở hoặc tương đương trở lên...” (Thông tư số

<small>10/2019/TT-BTP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy</small>

định về tiêu chuẩn chức danh Giám đốc, Phó Giám đốc Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.), hoặc người đại ĐDTPL của Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là Giám đốc

<small>thì phải có “trình độ chun mơn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của</small>

<small>28</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

công ty và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định” (Điều 64, Luật Doanh

<small>nghiệp 2020)...</small>

- Thứ hai, người ĐDTPL của pháp nhân là người được bổ nhiệm hoặc

<small>chỉ định theo quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào ý chí của NDD.</small>

<small>Pháp luật quy định người ĐDTPL của pháp nhân được hình thành trên</small>

cơ sở điều lệ của pháp nhân, theo quy định của pháp luật và theo chỉ định của

Tòa án. Một người được bổ nhiệm người ĐDTPL của một cơ quan Nhà nước,

hoặc được chỉ định trong điều lệ dé ĐDTPL của doanh nghiệp, hoặc Tòa án

chỉ định người DDTPL của pháp nhân dé tham gia giải quyết vụ việc dân sự

<small>thì việc hình thành tu cách đại diện trên không phụ thuộc vào ý chí của NDDmà do pháp luật quy định.</small>

<small>- Thứ ba, khi tham gia QHPL, người ĐDTPL của pháp nhân phải nhândanh pháp nhân và chịu sự rang buộc trong phạm vi đại diện, được giới hantheo quy định pháp luật.</small>

Quyền và nghĩa vụ của người ĐDTPL của pháp nhân được xác định

<small>theo các quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có liên quan.</small>

Việc xác lập quan hệ đại diện dựa trên “quy định pháp luật hoặc quyết định

của cơ quan nhà nước có thấm quyền”, nên việc thực hiện đại diện, hình thức đại diện, phạm vi đại diện đều do pháp luật quy định.

<small>- Thứ tư, phạm vi DDTPL của pháp nhân được xác định theo quy định</small>

<small>của pháp luật.</small>

Chủ thê được đại diện là pháp nhân “khơng thé tự mình xác lập và thực

<small>hiện giao dịch” cho chính mình xác lập nên pháp luật quy định hoặc cơ quan</small>

có thâm quyên chỉ định pháp nhân phải có người DDTPL và người đó có thé

<small>thực hiện mọi GDDS vì “lợi ích của pháp nhân” theo quy định pháp luật mà</small>

không bị hạn chế về phạm vi và thời hạn đại diện, nhưng với điều kiện là phải

<small>đem lại lợi ich cho pháp nhân. Người DDTUQ của pháp nhân có phạm vi</small>

<small>29</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

thực hiện đại diện trong nội dung ủy quyền của người ĐDTPL của pháp nhân

ủy quyền. Pháp nhân băng ý chí của mình dé quyết định phạm vi cho “người

thực hiện công việc ủy quyền phù hợp với yêu cầu của mình”, phạm vi đại

<small>diện hẹp hay rộng phụ thuộc vao ý chi của pháp nhân.</small>

<small>30</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

Kết luận Chương 1

Trong Chương 1, tác gia đề cập đến các quy định pháp luật làm tiền đề

để xây dựng lý luận cơ bản liên quan đến người đại điện theo pháp luật của

đương sự trong tố tụng dân sự.

Tìm hiểu về khái niệm người đại diện theo pháp luật của đương sự trong t6 tung dân sự: “Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự là người thay mặt đương sự người tham gia tố tụng dân sự, để bảo

vệ quyền, lợi ich hợp pháp cho đương sự theo quy định của pháp luật”. Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự được xác định với các đặc điểm sau: Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật là pháp nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự . Thứ hai, người đại diện theo pháp luật sẽ đảm nhận nhiệm vụ thay đương sự trong hoạt động tố tụng để đảm bảo về

quyền va lợi ích hợp pháp của đương sự, thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Thứ ba, người đại diện theo pháp luật không bị hạn chế làm đại diện tố tụng. Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng người đại diện theo pháp luật sẽ hỗ trợ cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, việc dân sự đúng tiến độ, hạn chế việc trì trệ khi đương sự vốn khơng có khả năng

tự giải quyết các van đề tơ tụng.

Từ những luận giải về chế định người đại diện theo pháp luật tạo nên nền tang dé Chương 2 của luận văn phân tích những quy định xoay quanh người đại diện theo pháp luật. Mặc khác, nhìn nhận những vấn đề khi áp dụng

chế định người đại điện theo pháp luật của đương sự trong thực tế của các cơ quan có thâm quyền, cách áp dụng quy định của người dân.

<small>31</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

<small>Chương 2</small>

THUC TRẠNG PHÁP LUAT VE NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO

PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TÓ TỤNG DÂN SỰ

2.1. Tổng quan thực trạng các qui định pháp luật về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Chi thể trong việc đại diện theo pháp luật của đương sự trong to tụng

<small>dân sự.</small>

Trong mối quan hệ tố tụng dân sự luôn ton tại ba thành phan: chu thé,

khách thé, nội dung của quan hệ. Chủ thé là yêu tố quan trong trong từng mối quan hệ pháp luật, chủ thể cũng là nhân tố cấu thành quan hệ tố tụng dân sự.

Xuất phat từ mục đích quyền lợi và tư cách, vị trí pháp ly mà chủ thé trong quan hệ dân sự có thể chia thành các loại khác nhau. Các chủ thể được quy định như cơ quan tiễn hành tố tụng, đương sự, người làm chứng, người phiên dịch,... thì người đại diện của đương sự cũng là một chủ thé tham gia dé bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không thê thiếu trong một số trường hợp. Đây được xem là cá thể có quyền được bảo vệ hoặc thực hiện nghĩa vụ dé dat được những gia tri nhat dinh. Tinh phức tap của xã hội dẫn đến tính đa dạng trong quan hệ pháp luật, đối với quan hệ pháp luật trong lĩnh

vực tố tụng mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều đóng vai trị quan trọng, với mục đích cuối cùng là hướng đến việc thực hiện những quy tắc phù hợp với

<small>những gì pháp luật quy định.</small>

Chủ thể trong quan hệ đại diện liên quan đến tố tụng dân sự bao gồm

<small>người đại diện và người được đại diện. Theo quy định người đại diện của</small>

đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân hoặc pháp nhân khi đáp ứng đủ điều

<small>kiện theo quy định của pháp luật.</small>

<small>32</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

Người được đại điện cũng rất đa dạng, phân định trong từng trường hợp

nhất định. Người đại diện trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được quy

định tại Điều 33 Đại diện ngoài tố tụng:

Các văn bản quy phạm trong lĩnh vực tổ tung dân sự đã xây dựng chế

định người đại điện nhằm mục đích hồn thiện quyền và lợi ích hợp pháp cho

đương sự cần được bảo vệ, pháp luật chỉ chủ thể đại điện cho đương sự là

“người” — chủ thé trong quan hệ đại diện tham gia tố tụng dân sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân có năng lực chủ thé dé đủ điều kiện tham gia tố tụng.

Bằng việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cho đương sự một cách đúng quy định

người đại điện theo pháp luật của đương sự sẽ góp phan tạo nên sự vận động của hoạt động tổ tụng, khơng làm gián đoạn cũng như gây khó khăn trong quá trình giải quyết vu án, việc dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng.

Năng lực hành vi tổ tụng dân sự của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong to tung dân sự

Chủ thê tham gia ln phải có điều kiện nhất định khi muốn xác lập một

quan hệ pháp luật có định. Khi đó, chủ thé ở đây là người đại diện cần phải thỏa

hai điều kiện tiên quyết về năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự

đây được gọi là năng lực của chủ thê (Điều 21, khoản 1, BLDS 2015).

Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của người đại diện dựa trên quy định

của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, “Là khả năng có các quyên, nghĩa vụ trong

tố tụng dân sự do pháp luật quy định” (Điều 136, BLDS). Năng lực pháp luật tố

tụng dân sự không xuất hiện từ khi người đó sinh ra mà chỉ xuất hiện khi đến độ tuổi nhất định và với khả năng nhận thức hành vi.

<small>Đương sự nào cũng có năng lực pháp luật như nhau nhưng khơng phải</small>

đương sự nào cũng có năng lực hành vi như nhau. Năng lực hành vi tố tung dân sự được xác định theo tiêu chí độ tuổi và khả năng nhận thức. Theo quy

<small>33</small>

</div>

×