Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI (ZEA MAYS L) CHỐNG CHỊU SÂU BỆNH TRONG VỤ HÈ THU 2016 TẠI QUẢNG NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.91 MB, 102 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

UBND TỈNH QUẢNG NAM

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM KHOA LÝ - HÓA - SINH </b>

<b>------ </b>

<b>TRẦN THỊ HỒNG HẠNH </b>

<b>KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI </b>

<i><b>(Zea mays L) CHỐNG CHỊU SÂU BỆNH </b></i>

<b>TRONG VỤ HÈ THU 2016 TẠI QUẢNG NAM </b>

<b>KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC </b>

<i>Quảng Nam, tháng 05 năm 2017 </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<small>`</small>

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM KHOA LÝ - HĨA - SINH </b>

<b>------KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC </b>

<b>Tên đề tài:</b>

<b>KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI </b>

<i><b>(Zea mays L) CHỐNG CHỊU SÂU BỆNH TRONG </b></i>

<b>VỤ HÈ THU 2016 TẠI QUẢNG NAM </b>

Sinh viên thực hiện:

<b>TRẦN THỊ HỒNG HẠNH </b>

MSSV : 2113012910

<b>CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT </b>

KHOÁ: 2013 – 2017 Cán bộ hướng dẫn:

<b>KS. Trần Văn Thuận </b>

MSGV: ...

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

- BGH trường ĐH Quảng Nam đã tạo điều kiện cho chúng tơi có thể hồn thành tốt vấn đề nghiên cứu.

- Cô ThS. Nguyễn Thị Trường, giảng viên Trường Đại học Quảng Nam, đã tận tình giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cho tôi trong thời gian thực hiện khóa luận.

- Các thầy cơ giáo trong Khoa Lý – Hóa – Sinh, trường Đại học Quảng Nam, những người đã truyền thụ cho tôi những kiến thức và phương pháp nghiên cứu quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường.

Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình và bạn bè những người luôn quan tâm giúp đỡ trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu vừa qua.

Xin chân thành cảm ơn!

<i>Quảng Nam, Tháng 5 năm 2017 </i>

<b> Sinh viên thực hiện </b>

<b> </b>

<b> Trần Thị Hồng Hạnh </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>LỜI CAM ĐOAN </b>

Tôi xin cam đoan kết quả trong bài nghiên cứu của tôi là trung thực do tôi nghiên cứu và kết quả này chưa từng được công bố.

Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong khóa luận này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

<i>Quảng Nam, tháng 5 năm 2017 </i>

<b> Sinh viên thực hiện khóa luận </b>

<b> Trần Thị Hồng Hạnh </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<i><b>7. FAO : Tổ chức nông lương thế giới </b></i>

8. NS : Năng suất

9. TCN : Trước công nguyên 10. TNHH : Trách nhiệm hữu hạn 11. BVTV : Bảo vệ thực vật

12. CIMMYT :Trung tâm cải tạo Ngơ và lúa mì Quốc tế 13. NSM : Ngày sau mọc

14. P : Trọng lượng

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>DANH MỤC CÁC BẢNG </b>

1.1 Thành phần dinh dưỡng có trong 100gr hạt bắp 9 1.2 Tình hình sản xuất ngơ trên thế giới giai đoạn 2000 – 2012 13 1.3 Tình hình sản xuất ngơ ở Việt Nam từ năm 2000 – 2012 16 1.4 Tình hình sản xuất ngơ ở Quảng Nam từ năm 2006 – 2015 18 1.5 Diễn biến khí hậu thời tiết vụ Hè Thu 2016 tại Quảng Nam 20

3.1 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các giống ngô ở các cơng thức thí nghiệm <sup>33 </sup>3.2 Chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các

3.3 Động thái ra lá của các giống ngơ lai thí nghiệm 44 3.4 Đặc trưng về hình thái của các giống ngơ thí nghiệm 48 3.5 Đặc trưng về bắp của các giống ngơ thí nghiệm 52 3.6 Thành phần sâu bệnh hại trên ruộng ngơ thí nghiệm 55 3.7 Mật độ sâu cắn lá trên các giống ngô thí nghiệm qua các kì

3.8 Tỷ lệ gây hại của sâu đục thân trên các giống ngơ thí nghiệm

3.9 Khả năng chống chịu điều kiện bất thuận của các giống ngô thí

3.10 <sup>Năng suất và Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô </sup>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ Hình/ </b>

1 Chiều cao cây của các giống ngơ lai thí nghiệm qua các

2 Động thái ra lá của các giống ngơ lai thí nghiệm qua các

3 Mật độ sâu cắn lá trên các giống ngơ thí nghiệm qua các

4 Diễn biến tỷ lệ gây hại của sâu đục thân trên các giống

5 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>MỤC LỤC</b>

I. MỞ ĐẦU ... 1

1.1. Lý do chọn đề tài ... 1

1.2. Mục tiêu của đề tài ... 2

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ... 2

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu... 2

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu ... 2

1.4. Phương pháp nghiên cứu ... 2

1.5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ... 2

1.6. Bố cục của đề tài ... 3

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ... 4

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ... 4

1.1. Nguồn gốc, vai trò và giá trị của cây ngô ... 4

1.1.1. Nguồn gốc của cây ngô ... 4

1.1.2. Phạm vi phân bố ... 5

1.1.3. Đặc điểm nông sinh học của cây ngô ... 6

1.1.3.1. Đặc điểm chung ... 6

1.1.3.2. Đặc điểm nông sinh học của các giống ngơ thí nghiệm ... 8

1.1.4. Giá trị của cây ngô ... 8

1.1.4.1. Giá trị dinh dưỡng ... 8

1.1.4.2. Giá trị kinh tế ... 9

1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngơ lai trên thế giới và Việt Nam ... 12

1.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngơ lai trên thế giới ... 12

1.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô lai ở Việt Nam ... 14

1.2.3. Tình hình sản xuất ngơ ở Quảng Nam ... 17

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

1.3. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài... 18

1.3.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ... 19

1.4. Diễn biến thời tiết khí hậu của tỉnh Quảng Nam vụ Hè Thu 2016 ... 19

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 22

2.1. Đối tượng nghiên cứu... 22

2.2. Phạm vi nghiên cứu ... 22

2.3. Nội dung nghiên cứu ... 22

2.4. Phương pháp nghiên cứu ... 22

2.4.1. Phương pháp thu thập thông tin ... 22

2.4.4. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu ... 24

2.4.4.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của các giống ngô thí nghiệm ... 24

2.4.4.2. Nghiên cứu diễn biến, mức độ gây hại của một số loài sâu bệnh hại chính và khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận trên các giống ngô thí nghiệm ... 27

2.4.4.3. Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngơ thí nghiệm ... 30

2.4.5. Thu thập số liệu khí tượng ... 30

2.4.6. Phương pháp xử lý các số liệu ... 31

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ... 32

3.1. Đặc điểm về sinh trưởng và phát triển của các giống ngơ thí nghiệm ... 32

3.1.1. Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngơ thí nghiệm ... 32

3.1.2. Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống ngơ lai thí nghiệm ... 37

3.1.3. Động thái ra lá của các giống ngơ lai thí nghiệm... 42

3.2. Đặc trưng về hình thái của các giống ngơ lai thí nghiệm ... 47

3.2.1. Đặc trưng về thân lá của các giống ngơ lai thí nghiệm ... 48

3.2.2. Đặc trưng về bắp của các giống ngơ lai thí nghiệm ... 52

3.3. Diễn biến, mức độ gây hại của một số loài sâu bệnh hại chính và khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận của các giống ngơ thí nghiệm ... 54

3.3.1. Thành phần và mức độ phổ biến của các loại sâu bệnh hại trên ruộng ngơ thí nghiệm ... 54

<i>3.3.1.1. Diễn biến mật độ sâu cắn lá ngô (Mythimna loreyi Duponchel) ... 55 </i>

<i>3.3.1.2. Diễn biến tỷ lệ hại của sâu đục thân ngô (Ostrinia nubilalis Hubner) ... 58 </i>

3.3.2. Khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận của các giống ngơ thí nghiệm ... 62

3.4. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai thí nghiệm ... 63

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ... 69

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

1

<b>I. MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài </b>

<i>Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế tồn </i>

cầu, góp phần ni sống 1/3 dân số trên thế giới. Ngày nay ngô đứng thứ 3 sau lúa mỳ và lúa nước về diện tích, đứng đầu về năng suất và sản lượng [14]. Ngô là cây trồng đã giúp loài người giải quyết nạn đói thường xuyên bị đe dọa [6].

Vào cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng về ngô lai đã tạo nên các thành tựu kỳ diệu ở các châu lục, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Ý. Đi đôi với việc áp dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống, những tiến bộ về kỹ thuật canh tác tiên tiến như cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, bảo vệ thực vật... cũng được áp dụng kịp thời để khai thác tối đa ưu thế của giống ngô lai. Ngô lai đã được coi là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong việc phát triển nơng nghiệp thế giới của thế kỷ XX.

Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác. Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: năm 2001 tổng diện tích ngơ là 730.000 ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2010, diện tích ngơ cả nước 1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn, diện tích ngơ của cả nước năm 2013 đạt khoảng 1,15 - 1,18 triệu ha và có xu hướng tăng.

Tuy nhiên, năng suất ngô ở nước ta vẫn chưa thật sự ổn định ở các vùng sinh thái, năng suất bình qn cịn thấp so với khu vực, giá thành ngô ở nước ta cao hơn nhiều so với các nước trên thế giới, nhu cầu ngô cho thức ăn chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng đủ, nhiều giống ngô đã bị thối hóa. Để góp phần làm giảm những hạn chế trên cần xác định đúng những giống ngô lai mới có năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của từng vùng, có khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Cần hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất với năng suất để có những hướng cụ thể từ khi chọn

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

2

vật liệu lai tạo giống đến sử dụng các biện pháp canh tác phù hợp, phát huy tối đa tiềm năng của từng giống, tại mỗi vùng sinh thái.

<i><b>Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn ở trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Khảo </b></i>

<i><b>nghiệm một số giống ngô lai (Zea mays L.) chống chịu sâu bệnh trong vụ Hè Thu 2016 tại Quảng Nam". </b></i>

<b>1.2. Mục tiêu của đề tài </b>

Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất phẩm chất và khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống ngơ lai, nhằm tìm ra các giống có triển vọng về khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao và có khả năng

<b>chống chịu sâu bệnh phục vụ sản xuất ngô ở Quảng Nam. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu </b>

<b>1.3.1. Đối tượng nghiên cứu </b>

- Các giống ngô thử nghiệm: 515, B268, 555, PAC139, B274, P4554, B1200, và CP333 là giống ngô đối chứng.

- Các loại sâu bệnh hại chính trên các giống ngơ thí nghiệm.

<b>1.3.2. Phạm vi nghiên cứu </b>

- Địa điểm: Trại giống Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. - Thời gian nghiên cứu: Vụ Hè Thu 2016, từ 7/2016 – 9/2016.

<b>1.4. Phương pháp nghiên cứu </b>

- Phương pháp thu thập thơng tin

- Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng - Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

3

<i><b>- Ý nghĩa thực tiễn: </b></i>

Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng ở địa phương trong việc tìm ra một số giống ngơ có năng suất cao, phẩm chất tốt thay thế giống ngơ lai địa phương đã bị thối hóa có năng suất thấp, chất lượng kém. Từ đó đưa vào sản xuất ở vùng nghiên cứu nhằm nâng cao thu nhập cho người dân.

Qua nghiên cứu đề tài đã giúp bản thân tiếp cận được với thực tiễn sản xuất và làm tăng năng lực nghiên cứu cho bản thân.

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

4

<b>II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU </b>

<b>CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Nguồn gốc, vai trò và giá trị của cây ngô </b>

<b>1.1.1. Nguồn gốc của cây ngô </b>

<i>Ngơ cịn gọi là bắp, tên khoa học là Zea mays L. Trong tiến Anh “maize” </i>

xuất phát từ tiếng Tây Ban Nha (maíz) là thuật ngữ trong tiếng Taino để chỉ lồi cây này, là từ thơng dụng Vương quốc Anh để chỉ cây ngô. Tại Hoa Kỳ, Canada và Australia, thuật ngữ hay được sử dụng là corn, là từ trước đây dùng để gọi cho một loại cây lương thực, hiện nay thuật ngữ này dùng để chỉ cây ngô, là dạng rút gọn của "Indian corn" là “cây lương thực của người Anh điêng”.Lịch sử nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khảo cổ, di truyền học, thực vật học, dân tộc học và địa lý học…quan tâm và đưa ra nhiều giả thuyết. Có giả thuyết cho là nguồn gốc cây ngô khoảng năm 5.500 tới 10.000 trước công nguyên (TCN). Những nghiên cứu về di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần hóa ngơ diễn ra vào khoảng

<i>năm 7000 TCN tại miền trung Mexico và tổ tiên của nó là loại cỏ teosinte hoang </i>

dại gần giống nhất với ngô ngày nay vẫn còn mọc trong lưu vực sông Balsas. Liên quan đến khảo cổ học, người ta cũng đã phát hiện các bắp ngơ có sớm nhất tại hang Guila Naquitz trong thung lũng Oaxaca, có niên đại vào khoảng năm 4.250 TCN, các bắp ngô cổ nhất trong các hang động gần Tehuacan, Puebla, có niên đại vào khoảng 2750 TCN. Một số giả thuyết cho rằng, có lẽ sớm nhất khoảng năm 1500 TCN, ngô bắt đầu phổ biến rộng và nhanh, ngô là lương thực chính của phần lớn các nền văn hóa tiền Columbus tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và khu vực Caribe. Với người dân bản xứ tại đây, ngô được suy tôn như bậc thần thánh và có tầm quan trọng về mặt tơn giáo do ảnh hưởng lớn của nó đối với đời sống của họ.

Giống ngơ lai có nguồn gốc từ nước ngoài đang được trồng nhiều ở Việt Nam. Việc gieo trồng ngô đã lan rộng từ Mexico vào tây nam Hoa Kỳ sau đó vào đơng bắc nước này cũng như đông nam Canada, làm biến đổi cảnh quan các vùng đất này do thổ dân châu Mỹ đã dọn sạch nhiều diện tích rừng và đồng cỏ để trồng ngơ. Ngơ lan truyền sang châu Âu và phần còn lại của thế giới sau khi

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

5

có tiếp xúc của người châu Âu với châu Mỹ. Ngô được đưa vào châu Âu đầu tiên ở Tây Ban Nha trong chuyến thám hiểm thứ hai của Columbus vào khoảng năm 1494. Người châu Âu đã nhận biết được giá trị của nó và nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Vào những năm đầu của thế kỷ XVI, bằng đường thủy các tàu của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia đã đưa cây ngô ra hầu hết các lục địa của thế giới cũ. Năm 1517, ngô xuất hiện ở Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Đức sau đó là Nam châu Âu và Bắc Phi. Năm 1521, ngô đến Đông Ấn Độ và quần đảo Indonesia. Vào khoảng năm 1575 ngô đến Trung Quốc.

Ở Việt Nam, các tài liệu tổng hợp được cho thấy ngô du nhập vào nước ta từ Trung Quốc vào. Theo nhà bác học Lê Quý Đôn nêu trong “Vân đài loại ngữ” thì khoảng cuối thế kỷ 17, Trần Thế Vinh người Sơn Tây đi sứ sang Trung Quốc thấy loại cây mới này nên đã mang về trồng và gọi là Ngọc Mễ. Cũng theo tài liệu khác cho rằng, cây ngô vào Việt Nam là từ Đông Dương và Miến Điện. Từ tập quán trồng ngô của đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên là chọc lỗ tra hạt cịn đồng bào vùng núi phía Bắc lại gieo hạt. Điều này cho thấy hai khuynh hướng trồng ngô khác nhau có thể là do hai con đường vào nước ta đã mang theo tập quán trồng ngô khác nhau [3].

Cho đến nay vẫn chưa tìm được bằng chứng cụ thể nào và chưa khẳng định được nguồn gốc, tổ tiên chính xác của ngơ. Những tranh luận về nguồn gốc của ngô vẫn đang tiếp diễn. Tuy nhiên điều quan trọng nhất là sự hình thành vơ số loài phụ, các thứ, nguồn dị hợp thể của cây, các dạng cây và biến dạng của chúng đã tạo ra cho nhân loại một loại cây ngũ cốc có giá trị bên cạnh lúa nước và lúa mỳ [5].

<b>1.1.2. Phạm vi phân bố </b>

Ở các trung tâm nông nghiệp sơ khai, bản địa cách biệt, các bộ lạc cổ xưa của nhân loại đã thuần hóa được các loại cây cốc. Nhiều cây cổ này hầu như khơng vượt qua ngồi giới hạn định cư của những dân tộc trồng chúng lần đầu tiên. Một số cây cổ khác có diện phân bố là những vùng nông nghiệp, nhân

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

6

chủng và văn hóa rất rộng, đó là cây lúa nước, lúa mì và ngô đã trở thành những cây trồng của thế giới.

Hiện nay diện phân bố của cây trồng này bao gồm tồn bộ trái đất, ngơ là cây nhiệt đới, nhưng nó là cây hàng năm, tránh được mùa đơng nên phổ biến rất xa ngồi vùng nhiệt đới và xâm nhập cả vùng ơn đới có mùa hè kéo dài và khá ấm dịu. Đặc biệt ngô đã xâm nhập sâu vào vùng Bắc bán cầu. Ở đây khí hậu lục địa nên nhiệt độ khá cao trong các tháng mùa hè. Ở bán cầu Bắc, giới hạn vùng trồng ngô lên đến 52<small>0</small> vĩ độ Bắc để lấy hạt, cịn để lấy thân xanh có thể trồng đến 46<small>0</small> vĩ độ Nam về độ cao so với mặt nước biển. Ở châu Âu ngô trồng được trên dãy Cacpat tới độ cao 700 m, ở châu Á tới 2000 m và châu Mỹ tới độ cao 3.500m. Tính đa dạng và khả năng thích nghi của ngơ có lẽ khơng có cây nào

<b>sánh kịp [1]. </b>

<b>1.1.3. Đặc điểm nông sinh học của cây ngô </b>

<i><b>1.1.3.1. Đặc điểm chung </b></i>

Cơ quan sinh dưỡng của ngô gồm rễ, thân và lá làm nhiệm vụ đời sống cá

<b>thể. Hạt được xem là cơ quan khởi đầu của cây. </b>

Sau khi gieo hạt, ngô phát triển thành mầm. Cây mầm chủ yếu sử dụng nguồn dinh dưỡng chứa trong nội nhũ hạt. Bộ phận phía trên hạt phát triển lên mặt đất gồm có trụ giữa lá mầm. Phần đỉnh trụ lá mầm có mấu bao lá mầm, từ đó phát sinh bao lá mầm và bên trong bao lá mầm là thân lá mầm. Trên trục của cây mầm, một đầu hình thành rễ cây mầm, sau đó phát triển thành rễ chính, từ rễ chính hình thành các rễ phụ. Ngơ là cây có rễ chùm tiêu biểu cho bộ rễ cây hòa thảo. Hệ rễ có ba loại: rễ mần, rễ đốt và rễ chân kiềng. Rễ đốt giúp cho cây hút nước và các chất dinh dưỡng. Rễ chân kiềng mọc xung quanh các đốt phần thân sát gốc trên mặt đất, rễ này giúp cây chống đỗ, đồng thời cũng tham gia vào hút nước và dinh dưỡng cho cây. Số lượng rễ, số lông rễ và chiều dài rễ khác nhau ở

<b>mỗi giống. </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

7

Thân ngô thường phát triển mạnh, thẳng cứng dạng bền chắc. Thân chia

<b>làm nhiều lóng, các lóng nằm giữa các đốt, các lóng dài và to dần từ dưới lên. </b>

Lá ngô mọc từ mắt trên đốt và mọc đối xứng xen kẽ nhau. Độ lớn và số lá ngô dao động từ 6 đến 22 lá, tùy thuộc vào giống và điều kiện tự nhiên. Lá ngô

<b>trưởng thành bao gồm các bộ phận: bẹ lá, phiến lá và thìa lá. </b>

Bắp ngơ phát sinh từ mầm nách lá trên thân, số mầm nách lá trên cây ngô nhiều, nhưng chỉ 1 - 3 mầm nách giữa thân phát triển thành bắp. Tùy thuộc vào giống, điều kiện sinh thái, chăm bón, mật độ, mùa vụ… mà tỷ lệ cây 2-3 bắp, số

<b>hạt trên bắp, vị trị đóng bắp, thời gian phun râu, trỗ cờ… có khác nhau. </b>

Hạt ngô thuộc loại quả dĩnh gồm 4 bộ phần chính: vỏ hạt, lớp alơron, bọc xung quanh, màu sắc vỏ tùy thuộc vào từng giống, nằm sau lớp vỏ hạt là lớp alơron bao bọc lấy nội nhũ và phôi. Nội nhũ là thành phần chính 70 - 80% trọng lượng hạt, thành phần chủ yếu là tình bột, ngồi ra cịn có protein, lipid, vitamin, khống và enzyme để nuôi phôi phát triển. Phôi ngô lớn (chiếm 8 - 15%) nên

<b>cần chú trọng bảo quản [2]. </b>

Mỗi một giai đoạn sinh trường, cây ngô yêu cầu về giai đoạn sinh thái khác nhau. Trong điều kiện bảo đảm về ấm độ, oxy và nhiệt độ thích hợp cho cây ngơ nảy mầm nhanh sau khi gieo. Nhiệt độ tối thiểu cho hạt ngô nảy mầm từ 8-12<sup>0</sup>C, nhiệt độ tối đa cho hạt nảy mầm từ 40 - 45<small>0</small>C. Nhiệt độ tối thích từ 25 - 28<small>0</small>C. Ở các thời kỳ sinh trưởng khác nhau thì sự hút chất dinh dưỡng cũng như yêu cầu về dinh dưỡng của ngô cũng khác nhau: Ở thời kỳ đầu cây ngô hút chất dinh dưỡng chậm, thời kỳ từ 7 - 8 lá đến sau trổ 15 ngày toàn bộ các bộ phận trên mặt đất cũng như dưới mặt đất của cây ngô tăng trưởng nhanh, các cơ quan sinh trưởng, phát triển mạnh, lượng tinh bột và chất khô tăng nhanh. Đây là giai đoạn cây ngô hấp thu chất dinh dưỡng tối đa (bằng 70 - 90% dinh dưỡng cả vòng đời cây hút). Ở thời kỳ này nếu cây thiếu nước và chất dinh dưỡng sẽ làm giảm năng suất từ 10 - 20%. Trong các yếu tố dinh dưỡng thì đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng bậc nhất của cây ngô [6].

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

8

<i><b>1.1.3.2. Đặc điểm nông sinh học của các giống ngô thí nghiệm </b></i>

Giống đối chứng CP333 là giống ngơ lai kép (tên trong khảo nghiệm là H13V00) có nguồn gốc từ nước Thái Lan được chọn tạo từ tổ hợp lai AT080/AT003//AC014/AC007. Giống đã đưa vào sản xuất đại trà ở một số nước

<b>trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Việt Nam… </b>

Giống CP333 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín trung bình, từ 100 ngày. Với thời gian sinh trưởng ngắn tại phía Nam giống CP333 có thể tránh hạn tốt giai đoạn cuối vụ ở những vùng trồng ngơ nhờ nước trời, vì hạn cuối vụ xảy ra giống CP333 đã hoàn thành quá trình thụ phấn và vào chín; trong khi giống có thời gian sinh trưởng dài hơn thường gặp khó khăn giai đoạn này. Giống CP333 có hạt thuộc dạng bán răng ngựa, màu vàng cam. Ngồi ra giống ngơ lai CP333 phù hợp với cơ cấu cây trồng và mùa vụ ở nhiều vùng sản xuất ngô trong phạm vi cả nước.

90-Các giống ngô cịn lại trong thí nghiệm là P4554, 515, 555, PAC139, B274, B268, B1200 đang trong quá trình khảo nghiệm nên đặc điểm nơng sinh học của các giống đó chưa được công bố.

<b>1.1.4. Giá trị của cây ngô </b>

<i><b>1.1.4.1. Giá trị dinh dưỡng </b></i>

Hạt ngơ có thành phần dinh dưỡng phong phú gồm protein, vitamin, khoáng chất, chất xơ, chất béo, và giàu năng lượng (Bảng 1.1),… vì thế ngơ được sử dụng rất phổ biến để làm thực phẩm, thức ăn gia súc; ngồi ra, nó cịn được sử dụng trong rất nhiều sản phẩm công nghiệp như dược phẩm, nhựa, cao su, keo dán, sơn, vải, xà bông, pháo bông, nhuộm, sợi thủy tinh,… đặc biệt là sản xuất nhiên liệu sinh học trong những năm gần đây.

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

9

<i><b>Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng có trong 100 gr hạt bắp </b></i>

<b>Thành phần Khối lượng </b>

<b>Thành phần Khối lượng </b>

<b>Thành phần Khối lượng </b>

Năng lượng 86 kcal Alanine 0,295 g Threonine 0,129 g Carbonhydrates 18,7 g Proline 0,292 g Isoleucine 0,129 g Đường 6,26 g Aspartic acid 0,244 g Glycine 0,127 g Tinh bột 5,7 g Valine 0,185 g Tyrocine 0,123 g Protein 3,27 g Serine 0,153 g Histidine 0,089 g Chất xơ 2 g Phenylalanine 0,150 g Methionine 0,067 g Chất béo 1,35 g Lysine 0,137 g Cystine 0,026 g Glutamic acid 0,636 g Arginine 0,131 g Tryptophan 0,023 g

<b>nghiệp, thực phẩm, công nghệ y dược và công nghiệp nhẹ.  Ngô là nguồn cung cấp lương thực cho con người: </b>

Ngô là cây lương thực nuôi sống gần 1/3 số dân trên toàn thế giới, tất cả các nước trồng ngơ nói chung đều ăn ngơ ở mức độ khác nhau. Tồn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngơ làm lương thực cho người. Các nước Trung Mỹ, Nam Mỹ, Nam Á và châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính. Các nước Đông Nam Phi sử dụng 84% sản lượng ngô làm lương thực cho người. Tây Trung Phi 80%, Bắc Phi 42%, Tây Á 27%, Nam Á 75%, Đông Nam Á và Thái Bình

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

10

Dương 39%, Đông Á 30%, Trung Mỹ và Caribe 61%, Nam Mỹ 12%, Đông Âu và Liên Xô (cũ) 4%, các nước thị trường chung phát triển 14%. Vì vậy, trên

<b>phạm vi thế giới mà nói ngơ sẽ vẫn cịn là cây lương thực rất quan trọng. </b>

Ngơ có giá trị năng lượng tương đối cao khoảng 3,100 – 3,200 kalo ứng với 13 - 13,5 MJ năng lượng trao đổi trong 1 kg chất khô. Tuy nhiên, trong protein của ngô thiếu lizin và triptophan (2 axiamin không thay thế) so với nhu cầu con người. Vì thế, không nên chỉ ăn tồn ngơ mà nên ăn trộn với các loại lương thực khác hoặc các loại lương thực - thực phẩm khác như đậu đỗ, thịt,

<b>cá… [12]. </b>

<b> Ngô làm thực phẩm: </b>

Những năm gần đây ngơ cịn được sử dụng làm thực phẩm (bắp ngơ bao tử làm rau cao cấp, ngô đường lấy hạt làm nguyên liệu chế biến các mặt hàng có giá trị dinh dưỡng cao như sữa ngơ, ngơ ngọt đóng hộp, đóng lọ… Ngồi ra cịn được dùng để ăn tươi như ngơ nếp…). Ở nước ta, những năm gần đây, ngô rau cũng được sản xuất làm thức ăn cao cấp trong các nhà hàng, siêu thị, ngành hàng không và xuất khẩu... Trong mấy năm gần đây, các giống ngô ngọt được nhập nội từ Thái Lan, Đài Loan, Mỹ…đã trở thành một trong những thực phẩm quan trọng cho hiệu quả kinh tế cao như được dùng để ăn tươi, các chất xanh còn lại là nguồn

<b>thức ăn tốt cho chăn ni bị sữa và ni cá.  Ngơ làm thức ăn gia súc: </b>

Ngô là thức ăn gia súc giàu năng lượng, là thành phần quan trọng trong thức ăn hỗn hợp cho gia súc và gia cầm. Chính vì vậy, ngơ là thức ăn quan trọng nhất hiện nay cho gia súc, hầu như 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngơ. Ngồi việc cung cấp chất tinh, cây ngơ cịn là thức ăn xanh, ủ chua lí tưởng

<i><b>cho đại gia súc, đặc biệt là bò sữa. </b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

11

<b> Ngô cung cấp nguyên liệu cho cơng nghiệp: </b>

Ngơ chính là ngun liệu chính cho các nhà máy thức ăn gia súc tổng hợp, là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu, glucoza, bánh kẹo…Bột ngô là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp gia công bột và tinh

<b>bột ngơ thì sử dụng trong cơng nghiệp chế biến các loại đường. </b>

Người ta sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngành công

<b>nghiệp lương thực - thực phẩm, công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ.  Ngơ là nguồn hàng hóa xuất khẩu: </b>

Trên thế giới hàng năm lượng ngô xuất khẩu khoảng 70 triệu tấn. Đó là một nguồn lợi lớn của các nước xuất khẩu. Mỹ, Pháp, Achentina, Tung Quốc, Thái Lan là những nước xuất khẩu chính. Hiệu quả kinh tế 1 ha ngô ở Mỹ, Liên

<b>Xô, Trung Quốc bằng 1,4 - 1,5 lần lúa nước [15]. </b>

Trên thị trường quốc tế, ngô đứng đầu trong danh sách những mặt hàng có khối lượng hàng hố giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông lớn, thị trường tiêu thụ rộng, sự cạnh tranh giữa các nước có sản lượng ngơ hàng hoá cao ngày

<b>càng gay gắt, thu nhập ngoại tệ về ngô luôn luôn là nguồn lợi lớn đối với nhà nước.  Ngô làm nhiên liệu, chất đốt: </b>

Từ ngô sản xuất ra Ethanol là phụ gia của xăng được dùng ở hàm lượng thấp (10% hoặc ít hơn), xăng này làm nhiên liệu cho một số động cơ để gia tăng chỉ số octan, giảm ô nhiễm và giảm cả mức tiêu thụ xăng được gọi là “ nhiên liệu

<b>sinh học”. </b>

Ngồi ra cây ngơ sau khi thu hoạch mang phơi khô được dùng làm chất đốt

<b>để đun nấu trong gia đình ở vùng nơng thơn. </b>

Có thể nói ngơ là loại cây trồng có tiềm năng to lớn hiếm thấy trên cả hai quá trình tạo năng suất sơ cấp và năng suất thứ cấp, là nguồn cung cấp nguyên liệu quan

<b>trọng cho nhiều ngành cơng nghiệp sản xuất hàng hố của xã hội [4]. </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở một số nước đang phát triển bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 60 như Achentina, Braxin, Colombia, Chile, Mehico, Ấn Độ, Pak istan, Hylạp, Zimbab we , Kenya, Tanzania và mộ t vài nước ở Trun g Mỹ. Trong thời kỳ 1966 - 1990 có xấp xỉ 852 giống ngơ được tạo ra, trong đó 59% là giống thụ phấn tự do, 27% là giống lai quy ước, 10% là giống ngô lai không quy ước và 4% là các giống khác [20]. Từ con số trên cho thấy số giống lai ít hơn giống thụ phấn tự do. Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, tác dụng của giống lai chậm và không rõ lắm (trừ một số nước như Achentina, Braxin, Chilê, Thổ Nhĩ Kỳ, Zimbabwe, Kenya, Hylạp, Mehicô và Ấn Độ).

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

13

Ngô lai đang tiến triển tốt đẹp ở Trung Quốc. Có thể nói Trung Quốc là một cường quốc ngơ lai Châu Á, với diện tích 25 triệu ha, năng suất 4.9 tấn/ha, sản lượng ngô hàng năm trên 120 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Giống ngô lai được đưa vào Trung Quốc từ những năm 60, giống lai đơn đưa vào từ những năm cuối của thập kỷ này [20]. Năm 1992, có 27 giống ngơ lai được gieo trồng trên diện tích 100.000 ha. Hiện nay giống lai đơn chiếm trên 90% diện tích ngơ. Năng suất ngơ bình quân của Trung Quốc đã tăng từ 1,5 tấn/ha những năm 50 đến 4,9 tấn/ha năm 1999 [7].

Theo báo cáo của P.Trakoontiwakorn (1998), trong sản xuất ngô của Thái Lan từ những năm 1991 đến nay có 70% là giống lai đơn, giống lai đơn cải tiến và giống lai ba. Năm 1999, năng suất ngơ bình qn là 3,6 tấn/ha. Trong một vài năm tới Thái Lan sẽ trồng giống lai đơn ở diện rộng [18].

<i><b>Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngơ trên thế giới giai đoạn 2000 – 2012 </b></i>

<b>Năm <sup>Diện tích </sup></b><sub>(triệu ha) </sub> <b><sup>Năng suất </sup></b><sub>(tấn/ha) </sub> <b><sup>Sản lượng </sup></b><sub>(triệu tấn) </sub>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

14

Qua Bảng 1.2 cho thấy: giai đoạn 2000 – 2012 sản xuất ngô trên thế giới khơng ngừng tăng về diện tích, năng suất và sản lượng.

Về diện tích: diện tích ngơ thế giới từ năm 2000 đến 2012 theo chiều hướng tăng dần và tăng 40,38 triệu ha so với năm 2000.

Về năng suất: năng suất ngô 2000 – 2010 có chiều hướng tăng dần từ 4,809 tạ/ha lên 5,18 tạ/ha nhưng đến năm 2011 - 2012 lại có chiều hướng giảm

<b>xuống từ 5,16 tấn/ha giảm 4,92 tấn/ha. </b>

 Về sản lượng: ngô 2006 - 2011 cũng theo chiều hướng tăng từ 706,84 triệu tấn lên đến 888,01 triệu tấn năm 2011, nhưng đến năm 2012 lại có chiều hướng

<b>giảm xuống 872,08 triệu tấn. </b>

Để có được kết quả trên trước hết nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải tiến các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc biệt trong 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với cơng nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngơ đã góp phần đưa sản lượng ngơ thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước. Ngơ được trồng rộng rãi trên thế giới với một khối lượng lớn hàng năm nhiều hơn các loại hạt khác. Vào năm 2012 với 177,38 triệu ha ngô được trồng trên khắp thế giới và năng suất đạt 4,92 tấn/ha.

Như vậy với diện tích ngày càng mở rộng, năng suất và sản lượng ngô không ngừng tăng lên, cây ngô đã trở thành cây lương thực có vai trị quan trọng trong chiến lược sản xuất lương thực, thực phẩm của nhân loại. Vì vậy phải thâm canh tăng năng suất ngô mà trọng tâm là sử dụng các giống ngô lai năng suất cao phù hợp với từng vùng sinh thái nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy mạnh nghề trồng ngô thế giới lên một tầm cao mới.

<b>1.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngơ lai ở Việt Nam </b>

Ngay từ những năm 1972 – 1973, các nhà nghiên cứu ngô Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị cho chương trình tạo giống ngô lai và được tập trung cao độ từ năm 1990 đến nay. Năm 1992 – 1994, Viện Nghiên cứu Ngô đã lai tạo ra 5 giống

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

15

ngô lai không quy ước là: LS-3, LS-5, LS-6, LS-7, LS-8. Bộ giống ngô lai này gồm giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn, có năng suất từ 3 - 7 tấn/ha đã được mở rộng nhanh chóng trên phạm vi tồn quốc, mỗi năm diện tích gieo trồng trên 80.000 ha, tăng năng suất 1 tấn/ha so với giống thụ phấn tự do [10].

Từ những năm đầu thập kỷ 90, cơng tác tạo dịng thuần và giống lai được chú trọng. Tuy nhiên trong tập đồn dịng, phần lớn dòng thuần được tạo ra từ giống địa phương, giống thụ phấn tự do và quần thể, tuy có độ đồng đều cao nhưng sức sống yếu, năng suất thấp, một số giống lai được tạo ra nhưng khó có thể sản xuất hạt giống lai thương mại. Những năm gần đây, có sự đổi mới trong việc sử dụng ngồn nguyên liệu. Việc sử dụng nguồn nguyên liệu là giống lai, dạng F2 và Backcross (lai ngược) để rút dòng đã đạt hiệu quả cao hơn, tạo ra nhiều dịng ưu tú cho cơng tác tạo giống lai. Hàng loạt giống lai quy ước đã được tạo ra và đưa vào sản xuất như: LVN10, LVN5, LVN 12, LVN4 (giống lai đơn cải tiến), LVN 20, LVN 17, LVN 23 (ngô rau) [8]. Những giống lai này có tiềm năng năng suất từ 5-12 tấn/ha, không thua kém các giống ngô lai của các cơng ty nước ngồi và của Trung Quốc. Đặc biệt, giống lai LVN10 đã được trồng hàng trăm nghìn hecta mỗi năm trên khắp cả nước. Năm 1999, bốn giống ngô lai chín sớm và chín trung bình là LVN24, LVN25, LVN32, LVN33 được cho phép khu vực hố rộng (trong đó LVN33 là giống lai ba cải tiến). Như vậy chương trình tạo giống ngô lai của Việt Nam đã từng bước từ giống lai không quy ước đến lai kép, lai ba, lai đơn cải tiến và lai đơn. Những thành tích đó đã đưa chương trình ngơ lai của Việt Nam đứng trong hàng ngũ các nước tiên tiến ở Châu Á. Tỷ lệ diện tích trồng giống lai ở Việt Nam tăng từ 0,1% (1990) lên gần 82% (2008); đưa năng suất bình quân từ 1,5 tấn/ha (năm 1990) lên 3,98 tấn/ha (năm 2008); tổng sản lượng ngô từ trên 700.000 tấn (1990) lên 4.530.900 tấn (năm 2008) [21].

Hiện nay, những giống ngô lai Việt Nam chiếm trên 50% thị phần ngơ lai trên tồn quốc (khoảng gần 200.000 ha) làm tăng năng suất ngô rõ rệt. Mỗi năm Việt Nam có khả năng sản xuất 4000 – 5000 tấn hạt giống lai chất lượng cao, đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất trong nước [11].

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

16

Để đưa ngành sản xuất ngô của Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến và đạt năng suất trung bình của thế giới cần phải đẩy mạnh công tác tạo giống ngơ lai, khơng ngừng mở rộng diện tích trồng giống ngô lai và tăng cường đầu tư thâm canh.

<i><b>Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngơ ở Việt Nam năm 2000 - 2012 </b></i>

<b>Năm <sup>Diện tích </sup>(nghìn ha) </b>

<b>Năng suất (tạ/ha) </b>

<b>Sản lượng (nghìn tấn) </b>

Qua Bảng 1.3 cho thấy:

 Về diện tích: Từ năm 2000 - 2008 diện tích trồng ngơ ở nước ta đã tăng từ 730.2 nghìn ha lên 1.440,2 nghìn ha (cao nhất), nhưng đến năm 2012 chỉ cịn 1.118,3 nghìn ha, có chiều hướng giảm xuống.

 Về năng suất: năng suất ngơ 2000 – 2012 có chiều hướng tăng dần từ 27,5 tạ/ha lên 43,0 tạ/ha.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

17

 Về sản lượng: sản lượng ngô từ năm 2000 – 2011 có chiều hướng tăng từ 2.005,9 tăng lên 4.835,6 nghìn tấn. Tuy nhiên, năm 2012 thì giảm xuống cịn 4.803,1 nghìn.

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái nhiệt đới thấp, dựa vào điều kiện đất đai, khí hậu, Việt Nam được chia thành 8 vùng trồng ngơ chính: vùng núi Đơng Bắc, vùng núi Tây Bắc, đồng bằng và trung du Bắc bộ, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Duyên hải Miền Trung, vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu

<i>Long. </i>

<b>1.2.3. Tình hình sản xuất ngơ ở Quảng Nam </b>

Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam, Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438,37 km<sup>2</sup>, trong đó đất nơng nghiệp là 7.987,90 km<small>2</small>, đất phi nông nghiệp là 877,65 km<small>2</small>, đất chưa qua sử dụng là 1.572,82 km<small>2 </small>[22].

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành 3 vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển.

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình đạt 25,4<small>o</small>C, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000 – 2.500 mm, tập trung vào các tháng 9-10-11. Hệ thống sông ngòi tự nhiên dài khoảng 900km phân bố khá đều trong toàn tỉnh với 2 hệ thống sơng chính là sơng Thu Bồn và sông Tam Kỳ. Đường bờ biển dài 125km. Quảng Nam có vùng khí hậu khắc nghiệt, mùa khô kéo dài, gây ra hạn hán; mùa mưa ngắn, lại thường xuất hiện bão lũ gây ra tình trạng sa bồi, thủy phá nghiêm trọng. Đó chính là những trở lực thường gây ra khó khăn cho sản xuất nơng nghiệp của địa phương.

Ở Quảng Nam cây ngô được trồng nhiều nơi từ đồng bằng đến miền núi và có thể trồng nhiều vụ trong năm đối với giống ngô lai và giống ngô địa phương.

Về giống, tập trung chú ý tập đồn giống ngơ lai có tiềm năng cho năng suất cao, có thời gian sinh trưởng phù hợp để gieo trồng: LVN10, VN2, LVN8960, C919,…

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

18

<i><b>Bảng 1.4. Tình hình sản xuất ngơ tỉnh Quảng Nam từ năm 2006 – 2015 </b></i>

<b>Năm Diện tích (1000 ha) Sản lượng (tấn) </b>

<i>“Nguồn: www.qso.gov.vn, niên giám thống kê Quảng Nam 2015” </i>

Qua bảng trên ta thấy, diện tích trồng ngơ của tỉnh Quảng Nam có chiều hướng tăng qua các năm. Diện tích trồng ngơ tăng là do tỉnh có chủ trương phát triển cây ngơ, cịn các loại cây trồng khác cũng được chú trong phát triển, nhưng chủ yếu vẫn là cây lúa và cây ngơ, ngồi ra trên địa bàn tỉnh chưa có nhiều các khu cơng nghiệp phát triển nên diện tích gieo trồng ít bị xâm lấn.

<b>1.3. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1.3.1. Cơ sở khoa học của đề tài </b>

Chọn giống cây trồng là một khâu kỹ thuật quan trọng trong sản suất nông nghiệp. Đó là tiền đề cho hệ thống thâm canh trồng trọt, để tạo ra những nơng

<b>sản có sản lượng cây trồng cao. </b>

Cho đến nay, các hoạt động khoa học công nghệ đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng trong việc chọn tạo những giống cây trơng mới có nhiều đặc điểm tốt như: tiềm năng năng suất cao, tạo ra chất lượng nông sản tốt và đặc biệt là

<b>khả năng chống chịu được sâu bệnh hại. </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

19

Giống cùng với phân bón và chế độ tưới tiêu đã làm nên cuộc “cách mạng xanh” ở một số nước trên thế giới, giúp các nước đó giải quyết được vấn đề

<b>lương thực trong đó có những nước trước đây vẫn phải nhập khẩu lương thực. </b>

Nhu cầu ngày càng phát triển của đời sống thực tế địi hỏi có những loại cây trồng có các tính trạng, đặc tính tốt đáp ứng được các mong ước của con

<b>người. </b>

Bắt đầu từ việc thuần hóa cây dại, dần dần con người đã lai tạo, chọn lựa các giống cây trồng mới cho năng suất cao phù hợp với tùng vùng sinh thái là

<b>vấn đề cấp thiết hiện nay của các nhà chọn tạo giống. </b>

Khảo nghiệm giống ngô là quá trình nhằm tuyển chọn những giống đáp ứng được các yêu cầu về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh, phù hợp với địa phương. Hiện nay, các giống ngô lai địa phương thì thường có năng suất thấp, trong lúc đó các giống ngơ lai mới có nhiều ưu điểm nhưng qua thời gian sản xuất lâu dài sẽ bị thối hóa nên thường giảm năng suất, phẩm chất cũng như khả năng chống chịu sâu bệnh. Vì vậy việc khảo nghiệm để đánh giá và tuyển chọn các giống ngơ lai có năng suất cao, phẩm chất tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh để thay thế những giống cũ, đồng thời bổ sung giống mới

<b>trong cơ cấu sản xuất ở địa phương là cần thiết và thường xuyên. 1.3.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài </b>

Hiện này, do quá trình đơ thị hóa ngày càng tăng, diện tích đất nơng nghiệp nói chung và đất trồng ngơ nói riêng ngày một bị thu hẹp. Trong khi đó nhu cầu sử dụng ngô lai của ngành tiêu dùng ngày càng tăng như (làm thức ăn gia súc, làm lương thực, thực phẩm…) do đó người trồng ngơ cần một giống ngơ lai năng suất cao, phẩm chất tốt có khả năng chống chịu sâu bệnh để bổ sung thay thế những giống có năng suất thấp, chất lượng kém.

<b>1.4. Diễn biến thời tiết khí hậu của tỉnh Quảng Nam vụ Hè Thu 2016 </b>

Ngơ là loại cây có khả năng thích nghi rộng nên được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, từ những vùng đồng bằng có điều kiện sinh thái thuận lợi

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

20

cho đến những vùng núi xa xơi có khí hậu khắc nghiệt. Tuy nhiên, không phải ở vùng sinh thái nào cây ngơ cũng có thể sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Việc tìm hiểu những đặc tính sinh thái của từng vùng rồi từ đó tạo ra những giống ngơ có khả năng thích ứng với vùng sinh thái đó là điều cần thiết. Bởi vì, cây ngơ chỉ biểu hiện tiềm năng năng suất trong điều kiện sinh thái phù hợp. Đây vẫn còn là vấn đề khó khăn cho các nhà chọn tạo giống vì nước ta là nước nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, trên lãnh thổ chia làm các vùng khác nhau như: vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên,… Mỗi vùng lại có những đặc điểm sinh thái khác nhau và các đặc điểm sinh thái ấy luôn luôn thay đổi nhất là trong những năm gần đây. Vì vậy, cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng các đặc điểm sinh thái của từng vùng, để lựa chọn những giống ngô thích hợp. Qua theo dõi diễn biến tình hình thời tiết khí hậu vụ Hè Thu 2016 tại Quảng Nam tơi thu được bảng sau:

<i><b>Bảng 1.5. Diễn biến khí hậu thời tiết vụ Hè Thu 2016 tại Quảng Nam </b></i>

Tháng

Nhiệt độ (<small>0</small>C) Ẩm độ (%) Lượng mưa (mm)

Số giờ nắng (giờ) Trung

bình

Cao

nhất <sup>Thấp </sup>nhất

Trung bình

Thấp

nhất <sup>Số ngày </sup>

Lượng mưa (mm)

<i>“Nguồn: Đài khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Nam” </i>

Nhìn vào bảng số liệu về khí hậu thời tiết vụ Hè Thu năm 2016 tại Quảng Nam cho thấy nhiệt độ trung bình các tháng phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng các loại.

Trong tháng 6, nhiệt độ trung bình là 28,5<small>0</small>C tương đối thích hợp cho q trình nảy mầm của cây ngơ (nhiệt độ thích hợp cho ngơ nảy mầm là 25 – 30<small>0</small>C). Các yếu tố khác như ẩm độ, lượng mưa và số giờ nắng cũng không ảnh hưởng nhiều đến quá trình nảy mầm cũng như sự sinh trưởng phát triển của ngô ở giai đoạn đầu.

Tháng 7: Hầu hết các ngày trời nắng, sáng sớm có sương mù, chiều tối và

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

21

đêm có mưa dơng cục bộ ở một số vùng. Riêng các ngày đầu tháng 7 có nắng nóng, nhiệt độ phổ biến 35 - 36<small>0</small>C có nơi trên 36<small>0</small>C, độ ẩm thấp nhất xuống 51%. Tình hình thời tiết trên không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô. Tuy nhiên, thời tiết nắng mưa xen kẻ tạo điều kiện thuân lợi cho một số đối tượng dịch hại (sâu cắn lá ngô) phát sinh sây hại.

Tháng 8: Hầu hết các ngày trời nắng, nhiệt độ tương đối cao, chiều tối và đêm thường xuyên xảy ra mưa dông cục bộ ở một số vùng. Tuy nhiên, tình hình thời tiết trên không ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nhìn chung cây ngô sinh trưởng phát triển tương đối tốt.

Lượng mưa tháng 9 là 483,0 mm và số giờ nắng thấp 168 giờ nên có ảnh hưởng đến q trình chín của cây ngô, lượng mưa lớn gây khó khăn cho q trình thu hoạch.

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

22

<b>CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU </b>

<b>2.1. Đối tượng nghiên cứu </b>

- Các giống ngô lai 515, B268, 555, PAC139, B274, P4554, B1200, CP333 (ĐC) được sản xuất tại trại giống Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

- Các loại sâu bệnh hại chính trên các giống ngơ thí nghiệm.

<b>2.2. Phạm vi nghiên cứu </b>

- Địa điểm: Trại giống Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. - Thời gian nghiên cứu: Vụ Hè Thu 2016, từ tháng 6/2016 – 9/2016.

<b>2.3. Nội dung nghiên cứu </b>

- Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của các giống ngơ thí nghiệm.

- Nghiên cứu diễn biến, mức độ gây hại của một số loài sâu bệnh hại chính và khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận trên các giống ngơ thí nghiệm.

- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngơ thí nghiệm.

<b>2.4. Phương pháp nghiên cứu </b>

<b>2.4.1. Phương pháp thu thập thông tin </b>

Thu thập và tổng hợp các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.

Đất đai: Đất khảo nghiệm thuộc loại đất phù sa được bồi hàng năm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

23

Sơ đồ thí nghiệm:

<b>- Mật độ khoảng cách gieo: 70cm x 25cm (1 cây). </b>

<b>- Phương thức gieo: Gieo thẳng, mỗi hốc gieo 2 hạt, khoảng cách 70 x 25 x </b>

2 cây, sâu 4 - 5 cm. Khi ngô 3 - 4 lá tiến hành tỉa dần, đến 7 - 8 lá chỉ để lại mỗi

<b>hốc 1 cây. </b>

- Thời gian gieo: Vụ hè thu 2016: 17/06/2016.

Công thức 1 P4554 Công ty TNHH Pioneer Hi-Bred, VN Công thức 2 555 Công ty CP GF NN Tiên Tiến

Công thức 3 515 Công ty CP GF NN Tiên Tiến Công thức 4 PAC139 Công ty Atvanta, VN

Công thức 5 B274 Công ty TNHH MTV Bioseed, VN Công thức 6 B1200 Công ty TNHH MTV Bioseed Công thức 7 B268 Công ty TNHH MTV Bioseed Công thức 8 CP333 Giống đối chứng

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

24

<i><b>2.4.3.2. Phân bón </b></i>

- Lượng phân (tính cho 1 ha): 10 tấn phân hữu cơ + 400 kg vôi + 400kg lân

<b>+ 300kg Urê + 100 kg KCl. </b>

<b>- Bón lót tồn bộ phân hữu cơ, lân, vơi và 1/3 Urê. </b>

<b>- Bón thúc lần 1 khi cây có 6-7 lá thật: 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng kali. </b>

- Bón thúc lần 2 khi vun gốc bón lượng phân cịn lại.

<i><b>2.4.3.3. Chăm sóc </b></i>

- Khi cây 3 - 4 lá tiến hành tỉa, xới phá váng, nhổ cỏ, bón thúc lần 1. - Khi cây được 7 - 9 lá bón thúc lần 2 kết hợp với vun cao chống đổ. - Vào giai đoạn trước trỗ cờ 5 - 8 ngày tiến hành bón thúc lần cuối.

- Tưới nước: Đảm bảo đủ độ ẩm cho ngô, đặc biệt vào các thời kỳ ngơ 6 – 7 lá, ngơ xốy nõn, kết thúc thụ phấn đến chín sữa. Tưới đồng đều, không để nước ứ đọng trong ruộng.

<b>2.4.4. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu </b>

<i><b>2.4.4.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của các giống ngô thí nghiệm </b></i>

<i><b>+ Thời gian hồn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống ngơ thí nghiệm </b></i>

<i>- Ngày mọc: Được tính từ khi gieo đến khi có > 50% số cây đã mọc trên ơ. - Ngày trỗ cờ: Tính từ khi gieo đến khi có > 50% số cây đã trỗ cờ trên ơ. - Ngày tung phấn: Tính từ khi gieo đến khi có > 50% số cây/ơ có râu dài 2 </i>

- 3cm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

<i><b>+ Nghiên cứu các chỉ tiêu về hình thái của các giống ngơ thí nghiệm </b></i>

<i>Chọn cây theo dõi (theo quy chuẩn QCVN-01-56-2011-BNNPTNT): </i>

Cây theo dõi được xác định khi ngô 6 - 7 lá. Số lượng cây theo dõi cho mỗi ô thí nghiệm n = 10 theo phương pháp đánh dấu bằng số. Dùng cọc tre đóng sát các cây và đánh số thứ tự từ 1 đến 10 để tiện theo dõi, các cây được chọn

<b>ngẫu nhiên ở hai hàng giữa mỗi ô. </b>

<i>- Chiều cao cây (cm): </i>

+ Đo từ gốc sát mặt đất đến đốt phân nhánh bông cờ đầu tiên vào giai đoạn chín sữa để lấy chiều cao cây cuối cùng.

+ Đo từ gốc đến mút lá cao nhất để lấy chiều cao ở từng thời kỳ - theo dõi 7 ngày một lần để xác định chiều cao của các giống ngơ thí nghiệm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<i>- Dạng bắp: Cho điểm từ 1 – 5 trước lúc thu hoạch: </i>

+ Điểm 1 (tốt): hình trụ, hạt đều, múp đầu, sít hạt, không sâu bệnh. + Điểm 2 – 5: bắp xấu dần, điểm 5 là dạng bắp xấu nhất.

<i>- Dạng lá bi: cho điểm 1 – 5 ở giai đoạn chín sáp. </i>

+ Điểm 1 (rất kín): lá bi che kín đầu bắp và kéo dài khỏi bắp. + Điểm 2 (kín): lá bi bao kín đầu bắp.

+ Điểm 3 (hơi hở): lá bi bao không chặt đầu bắp. + Điểm 4 (hở): lá bi khơng che kín bắp, để hở đầu bắp.

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

27

+ Điểm 5 (rất hở): bao bắp rất kém, đầu bắp hở nhiều.

<i>- Màu sắc hạt: trắng trong, trắng đục, vàng nhạt, vàng, da cam, đỏ, tím. </i>

<i><b>2.4.4.2. Nghiên cứu diễn biến, mức độ gây hại của một số lồi sâu bệnh hại chính và khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận trên các giống ngơ thí nghiệm </b></i>

<i><b>* Đối với sâu hại: </b></i>

Điều tra 7 ngày/ lần theo Theo Quy chuẩn Quốc gia Việt Nam về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại ngô (QCVN 01 – 167:2014/BNNPTNT), trên tồn bộ ơ thí nghiệm và đếm số sâu trong mỗi ô.

Tổng số sâu điều tra Mật độ (con/ m<sup>2</sup>) =

+ Đối với sâu đục thân, đếm toàn bộ số cây, bắp ngẫu nhiên và số cây, bắp bị hại có trong điểm điều tra.

+ Đối với sâu xám, đếm toàn bộ số cây ngẫu nhiên và số cây bị hại trong điểm điều tra. Bới đất xung quanh các cây ngô và những cây, lá mới bị sâu kéo xuống đất để tìm sâu. Sau đó đếm trực tiếp số lượng và phân loại từng pha phát dục của sâu.

+ Đối với rệp cờ, đếm toàn bộ cây và số cây có rệp cờ trong điểm điều tra. Phân các cây bị nhiễm theo 3 cấp:

Cấp 1 (nhẹ): rệp xuất hiện rải rác.

Cấp 2 (trung bình): rệp phân bố dưới 1/3 cờ. Cấp 3 (nặng): rệp phân bố từ 1/3 cờ.

Dựa vào kết quả điều tra, mật độ sâu, tỷ lệ hại được tính theo công thức:

Mật độ (con/ m<sup>2</sup>) =

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

28

Tổng số cây, bắp bị hại

<i><b>* Đối với bệnh hại: </b></i>

<i>Điều tra phát hiện bệnh khô vằn, phấn đen và bệnh hại tồn thân cây ngơ (bệnh héo vi khuẩn, bệnh bạch tạng,...) </i>

Điều tra 10 cây ngẫu nhiên/điểm hoặc số bắp của 10 cây/điểm.

Đếm số cây hoặc bắp bị bệnh có trong điểm điều tra. Phân cấp bệnh khô vằn theo thang 9 cấp:

Cấp 1: dưới 1/4 diện tích bẹ lá bị bệnh Cấp 3: 1/4 -1/2 diện tích bẹ lá bị bệnh

Cấp 5: 1/4 -1/2 diện tích bẹ lá, cộng lá thứ 3 và lá thứ 4 bị bệnh nhẹ Cấp 7: > 1/2 – 3/4 diện tích bẹ lá và lá phía trên bị bệnh

Cấp 9: Vết bệnh leo tới đỉnh cây lúa, các lá nhiễm nặng, một số cây chết. Dựa vào bảng phân cấp bệnh tính tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh.

Tổng số lá, cây bị bệnh

Tỷ lệ bệnh (%) = x 100% Tổng số lá, cây điều tra

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

29

[(N<small>1</small> x 1) +...+ (N<small>n</small> x n)]

Chỉ số bệnh (%) = x 100% N x 9

Trong đó: N<small>1</small>:Số lá, cây bị bệnh cấp 1 N<small>n</small>: Số lá, cây bị bệnh ở cấp n N: Tổng số lá, cây điều tra

9: Cấp bệnh cao nhất của thang phân cấp

<i><b> + Mức độ phổ biến của sâu, bệnh hại và thiên địch trên đồng ruộng được đánh giá bằng chỉ tiêu tần suất bắt gặp (%). </b></i>

Tần suất bắt gặp (A%) =

Tổng số lần bắt gặp cá thể của mỗi loài

x 100 Tổng số lần điều tra

Trong đó: +++ : Rất phổ biến (tần suât bắt gặp > 50%); ++ : Phổ biến (tần suất bắt gặp 25-50%); + : Ít phổ biến (tần suất bắt gặp 5 - 25%);

<i><b>+ Đánh giá khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận của các giống ngơ thí nghiệm </b></i>

Quan sát và đánh giá tồn bộ cây trên ơ vào giai đoạn chín sáp hoặc sau các đợt gió to, hạ, rét.

+ Đổ rễ (%): đếm các cây bị nghiêng một góc bằng hoặc lớn hơn 30<small>0 </small>so

<b>với chiều thẳng đứng của cây. </b>

+ Đổ gãy thân (điểm): đếm các cây bị gãy ở đoạn thân phía dưới bắp khi

<b>thu hoạch. </b>

<b>Điểm 1(Tốt): <5 % cây gãy Điểm 2 (Khá): 5-15% cây gãy Điểm 3 (TB): TB 15-30% cây gãy Điểm 4 (Kém): 30-50% cây gãy </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

30

Điểm 5 (Rất kém): Rất kém >50% cây gãy

+ Chịu hạn (điểm): Đánh giá dựa vào trạng thái lá ngô và khả năng kết hạt của các giống.

Điểm 1 (Tốt): Lá không héo Điểm 2 (Khá): Mép lá mới cuộn

Điểm 3 (Trung bình): Mép lá hình chữ V Điểm 4 (Kém): Mép lá cuộn vào trong Điểm 5 (Rất kém): Lá cuộn tròn.

<i><b>2.4.4.3. Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngơ thí nghiệm </b></i>

<i>- Số bắp hữu hiệu trên cây: Đếm số bắp của tồn bộ các cây có trong ơ thí </i>

nghiệm.

<i>- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đáy bắp đến mút bắp của các cây theo dõi. - Số hàng/bắp: Đếm số hàng hạt ở giữa bắp. Hàng hạt được tính khi có >5 </i>

hạt. Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu.

<i>- Số hạt/hàng: đếm số hàng của hạt có chiều dài trung bình của bắp của các </i>

cây theo dõi. Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu. - Khối lượng 1000 hạt (gam).

<i>- Năng suất lý thuyết (tạ/ha): Được tính dựa và các yếu tố cấu thành năng </i>

suất.

Số cây/m<sup>2</sup> x số bắp HH trên cây x Số hàng hạt/bắp x số hạt/hàng x P<small>1000</small> hạt (g)

<i>- Năng suất thực thu: Thu hoạch trên toàn bộ các cơng thức thí nghiệm. </i>

<b>2.4.5. Thu thập số liệu khí tượng </b>

Bao gồm nhiệt độ, độ ẩm khơng khí, lượng mưa, số giờ nắng, số ngày có mưa từ gieo đến thu hoạch trong thời gian tiến hành thí nghiệm.

</div>

×