Tải bản đầy đủ (.pdf) (230 trang)

Luận án tiến sĩ Ngữ văn: Phân tích đối chiếu câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (62.27 MB, 230 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ;

TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VANTRAN VAN PHƯỚC

<small>Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ</small>

<small>Mã số : 5.04.08</small>

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DAN KHOA HỌC :

<small>ĐAI HỌC QUOC GIA HA (ơi, G§.TS. LE QUANG THIEM</small>

<small>TRUNGTAMTHONGTIN 71. `⁄:¡.. PGS.TS. TRAN HỮU MẠNH</small>

<small>HÀ NỘI -2000</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

GIẢI THÍCH CAC KÝ HIỆU, CHU VIET TAT

TIẾNG VIỆT

<small>BN</small>

<small>Tân ngữVị ngữ</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<small>MỤC LỤC</small>

MỞ ĐẦU Trang

1, Giới thiệu dé tài của luận án |

<small>2 Mục đích va ý nghĩa của luận án |3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 2</small>

<small>A Nhiệm vu nghiên cứu của luận an 45 Phương pháp nghiên cứu của luận án 4</small>

<small>6 Bố cục của luận án 6</small>

<small>Chương 1</small>

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

<small>1.1 Phu dinh xét vé mat triét hoc 71.2. Phủ định xét về mặt lơ-gích học 8</small>

<small>L5. Khái niệm "cấu trúc ngữ nghĩa” và "cấu trúc-ngữ nghĩa” của câu 30</small>

<small>15.1, Khái niệm "cấu trúc ngữ nghĩa” của câu 30</small>

<small>1.5.2. Khái niệm "cấu trúc-ngữ nghĩa” của câu 34L6. Khái niệm “tém tác động của ý phủ định” 351.6.1. Khái niệm “tầm tác động của ý phủ định” theo quan điểm của các nhà 35</small>

<small>nghiên cứu nước ngoài</small>

<small>1.6.2. Khái niệm “tầm tác động của ý phủ định” trong ngữ pháp Viét Nam 36</small>

<small>1.6.3. “Tam tác động của ý phú định” và việc phân chia cấu trúc-ngữ nghĩa 37</small>

<small>câu phủ định theo “tầm tác động của ý phủ định”</small>

<small>Le Tiéu két 37</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>hương 2</small>

MIÊU TẢ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CẤU TRUC-NGU NGHĨA

CUA CÂU PHỦ ĐỊNH TIENG ANH VÀ TIENG VIỆT

<small>lỆ Một số quan điểm nước ngòai và Việt Nam về hinh thuức biểu hiện câu</small>

<small>phú định</small>

<small>2. Mot số nguyên tắc cần bàn luận</small>

<small>3: Quan niệm về cấu trúc -ngữ nghĩa của câu phủ định</small>

<small>4. Các phương thức thể hiện câu phú định tiếng Anh và tiếng Việt</small>

<small>4.1. Phương thức vi trí</small>

<small>42, Phương thức sử dụng các cấu trúc cú pháp</small>

<small>4.3. Phương thức hình thái học</small>

<small>4.4. Phương thức từ vung</small>

<small>2 Các mơ hình (cấu trúc-ngữ nghĩa) câu phủ định tiếng Anh và tiếng</small>

<small>Việt: các mơ hình và các biến thể</small>

<small>5.1. Cac phương thức cấu tao câu phủ định</small>

<small>3.1.1. Cấu tạo câu phủ định theo phương thúc vị trí</small>

<small>5.1.1.1. Cấu trúc phủ định có từ phủ định NOT hoặc hình thức rút gọn NT</small>

<small>Mơ hình EI : Cấu trúc phủ định trợ động từ (phủ định vị ngữ)Mơ hình E2 : Cấu trúc phú định chu ngữ</small>

<small>Mơ hình E7 : Cấu trúc phủ định định ngữ cua trang nett</small>

<small>Mơ hình E8 : Cấu trúc phủ định tinh lược bang NO, NOBODY...</small>

<small>1.1.3. Cấu trúc phủ định có từ NEVER :</small>

<small>Mơ hình E9.: Cấu trúc phú định trang từ</small>

<small>Mơ hình E10 :Cấu trúc phủ định trạng ngữ bang HARDLY, SELDOM</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>Mô hình tổng quát E13 :</small>

<small>Cấu tạo ý phủ định dùng cấu trúc TOO + Adj/Adv + to-V</small>

<small>Mơ hình tổng qt E14 :</small>

<small>Cấu tạo ý phủ định theo phương thức hình thái học :</small>

<small>Mơ hình E15.: Cấu trúc cau phủ định có từ phủ định tiếp tố</small>

<small>Cấu tạo ý phủ định theo phương thức từ vựng:</small>

<small>Mơ hình E/V16 : Cau phú định có các từ hàm ý phủ định</small>

<small>Mơ hình E/V17 : Câu phu định theo khuôn thành ngữ phú định</small>

<small>Tầm tác động của ý phủ định :</small>

<small>Cấu trúc phủ định tác động lên thành phân chính</small>

<small>Cấu trúc phủ định tác động lên chủ npữCấu trúc phủ định tác động lên vi ngữ</small>

<small>Cấu trúc phủ định tác động lên tòan câu</small>

<small>Cấu trúc phủ định tác động lên thành phần phụ</small>

<small>Cấu trúc phủ định tác động lên bổ nạữ và tan net</small>

<small>Cấu trúc phủ định tác động lên trang npữ</small>

<small>Cấu trúc phủ định tác động lên định ngữ</small>

<small>Tiểu kết</small>

ĐỐI CHIẾU NHỮNG ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC-NGỮ NGHĨA

CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

<small>121124124</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<small>I. Phan tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định theo phương thức</small>

<small>1. Phan tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định tác động lên chu ngữ</small>

<small>Dễ Phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định tác động lên vị ngữ</small>

<small>bà Phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định tác động lên toàn</small>

<small>1. Phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định tác động lên bổ ngữ</small>

<small>waPhân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định tác động lên trạng</small>

NHỮNG ỨNG DỤNG QUAN TRỌNG CỦA PHÂN TÍCH ĐỐI

CHIẾU CÂU PHỦ ĐỊNH TIENG ANH VÀ TIENG VIỆT VÀOVIỆC GIẢNG DẠY TIENG ANH VÀ TIẾNG VIET

<small>Mối quan hệ giữa việc học ngôn ngữ hai (ngọai ngữ) với các ngành</small>

<small>ngôn ngữ học và tâm lý học</small>

<small>Một số ý kiến về sự thụ đắc ngơn ngữ hai</small>

<small>Vai trị của phân tích đối chiếu trong việc nghiên cứu các ngôn ngữ</small>

<small>nhăm ứng dụng vào việc dạy và học ngôn ngữ hai</small>

<small>Phân tích đối chiếu đặc điểm lọai hình của tiếng Anh và tiếng Việt</small>

<small>iv</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<small>Phân tích đối chiếu cấu trúc câu tiếng Anh và tiếng Việt trên bình 187</small>

<small>điện cấu trúc-ngữ nghĩa</small>

<small>Những kiến nghị ứng dụng từ kết quả phân tích đối chiếu của luận án 191</small>

<small>1. Phan tích đối chiếu và kha nang du đóan các cấu trúc khơng tương 191</small>

<small>ứng, các lơi</small>

<small>SẼ Phân tích đối chiếu trong việc phân tích các cấp độ khó khăn khi học 192</small>

<small>cau tao câu</small>

<small>3 Phân tích đối chiếu trong việc thiết kế các bài tập cấu trúc 193</small>

<small>4. Phân tích đối chiếu trong thực hành dịch cấu trúc câu 194</small>

<small>Tiểu kết 194</small>

T LUẬN 196

I LIEU THAM KHAO 201

<small>U LUC 212 - 222</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

MỞ ĐẦU

1. Giới thiệu đề tài của luận án :

Luận án này có tên là : PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG

ANH VÀ TIẾNG VIỆT TRÊN BÌNH DIỆN CẤU TRÚC-NGỮ NGHĨA. Hướng

<small>nghiên cứu của luận án là phân tích đối chiếu ngơn ngữ trên bình diện cấu trúc-ngữ</small>

nghĩa biểu hiện . Luận án tập trung miêu tả các đặc trưng cấu trúc-ngữ nghĩa của

<small>câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên ngữ liệu được viết trong các tác</small>

phẩm nghiên cứu, tác phẩm văn học đơn ngữ và song ngữ. Trong quá trình thực

<small>hiện với việc lấy tiếng Anh là ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu,</small>

luận án sẽ tập trung chủ yếu vào so sánh đối chiếu đặc điểm của hai ngơn ngữ và

<small>tìm ra những vận dụng thích hợp vào việc giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt như</small>

<small>những ngoại ngữ.</small>

<small>2. Mục đích và ý nghĩa của luận án :</small>

<small>Luận án nhằm vào việc phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định</small>

<small>tiếng Anh và tiếng Việt . Luận án được thực hiện vì những lý do sau đây:</small>

<small>2.1. Xét về mặt lý luận, việc nghiên cứu ngữ pháp, đặc biệt là cấu trúc của đơn vị</small>

<small>câu là một trong những nội dung rất quan trọng của việc nghiên cứu cấu trúc ngôn</small>

<small>ngữ dù việc nghiên cứu dựa trên ngữ pháp truyền thống hay ngữ pháp hiện đại.</small>

Trong số các kiểu câu phân lọai theo mục đích giao tiếp thì câu phủ định là mộthiện tượng phổ quát của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Không ai trong hoạt động

giao tiếp và tư duy hàng ngày mà không sử dụng câu phủ định. Mặc dù đã có nhiều

<small>nghiên cứu về câu phủ định trong từng ngôn ngữ Anh và Việt , tuy nhiên việc</small>

<small>nghiên cứu đối chiếu đặc biệt là đối chiếu những ngơn ngữ khơng cùng lọai hìnhnhư tiếng Anh và tiếng Việt , phản ánh những nền văn hóa khác nhau , cách tư duy.chơng giống nhau của những cộng đồng người sử dụng vẫn chưa nhiều và chưa có‘inh hệ thống. Cho nên việc nghiên cứu đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

tiếng Anh và tiếng Việt sẽ góp phần làm phong phú lý luận của ngữ pháp liên hệ

<small>với câu và làm bộc lộ được đặc trưng lọai hình của từng ngôn ngữ .</small>

2.2. Xét về mặt thực tiễn, tiếng Anh đang là một trong những ngôn ngữ được dùng

<small>nhiều trong giao tiếp quốc tế hiện nay. Số người Việt Nam trong và ngòai nước họcđể sử dụng thành thạo tiếng Anh và số người nước ngòai học tiếng Việt ở các nướcnhư Anh, Mỹ ngày càng gia tăng. Việc dạy và giúp đỡ cho số những người nàygiao tiếp bằng tiếng Anh và tiếng Việt một cách có hiệu quả đang là một xu thế</small>

<small>của thời đại mở cửa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những cú “sốc” về</small>

<small>văn hóa Anh-Việt, Việt-Anh, những khó khăn khi sử dụng các câu trong giao tiếp</small>

<small>địi hỏi người dạy phải có một kiến thức về phân tích đối chiếu ngơn ngữ. Việc day</small>

và học ngoại ngữ không thể không dựa vào những thành tựu của ngơn ngữ học nóichung và ngơn ngữ học đối chiếu nói riêng. Và đó cũng là lý do để chúng tôi thực

<small>hiện luận án này.</small>

<small>2.3. Một lý do cũng không kém phần quan trọng trong việc chọn đề tài này là trongthực tế giảng dạy chúng tơi chưa thấy có một cơng trình nghiên cứu đối chiếu về</small>

cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định một cách hệ thống để giúp cho người Việt

<small>Nam học tiếng Anh và người nước ngòai học tiếng Việt .Với tư cách là một giảngviên tiếng Anh chúng tơi muốn đóng góp những ý kiến mang tính giáo học pháp</small>

<small>vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ Anh và Việt trên cơ sở phân</small>

<small>tích đối chiếu.</small>

<small>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án :</small>

<small>Luận án tập trung vào việc đối chiếu những đặc trưng về cấu trúc-ngữ nghĩa</small>

<small>của câu phú định mà chủ yếu là câu tường thuật phủ định tiếng Anh và tiếng Việt.</small>

<small>Đối tượng nghiên cứu của luận án là cấu rúc-ngữ nghĩa của câu tường thuật</small>

<small>phu định chứ không phải là ngữ nghĩa hay các lớp nghĩa của câu tường thuật phủ</small>

<small>định. Luận án sẽ phân tích sự biểu hiện của ý nghĩa phủ định (không phân biệt phủ</small>

<small>định miêu tả hay phủ định bác bỏ) qua các phương tiện ngữ pháp, từ vựng có sắntrong câu phủ định tiếng Anh có đối chiếu với tiếng Việt. Mặc dù ý nghĩa phủ định</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<small>bao gồm phủ định miêu tả và phủ định bác bỏ nhưng do phủ định miêu tả thường</small>

được thể hiện bằng các phương tiện cụ thể còn phủ định bác bỏ thường phải dựavào tình huống để nhận diện nên luận án tập trung chủ yếu vào ý nghĩa phủ địnhmiêu tả. Trong trường hợp có những phương tiện cụ thể biểu hiện ý nghĩa phủ địnhbác bỏ mà khơng dựa vào tình huống thì luận án sẽ phân tích tổng qt mà khơng

<small>đi sâu vào ý nghĩa phủ định bác bỏ. Luận án sẽ không lấy việc phân tích cấu </small>

trúc-ngữ nghĩa câu phủ định theo quan điểm trúc-ngữ nghĩa lơ-gích tình thái, trúc-ngữ nghĩa học

<small>thuần túy, hoặc ngữ dụng học làm chính mặc dù trong thực tế phân tích đơi lúc đơi</small>

nơi luận án có tham chiếu đến. Chúng tơi thừa nhận rằng có sự tồn tại của các tầng

<small>nghĩa khác nhau trong từng lọai câu phủ định. Song trong giới hạn phạm vi đề tàichúng tơi chỉ tập trung vào bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa mà thôi. Cấu trúc-ngữ</small>

<small>nghĩa được thể hiện trong các mơ hình câu phủ định với nhiều chất liệu từ vựng,agit pháp làm day nó để biểu đạt ý nghĩa phủ định tương ứng. Nói cách khác luậnin đặt trọng tâm miêu ta iớp nghĩa biểu hiện của câu tường thuật phủ định và mặthiển ngôn của nghĩa phú định được biếu hiện qua các phương tiện ngôn ngữ biểu</small>

<small>hiện tim thấy được trong các câu mà cộng đồng người nói tiếng Anh cơng nhận là</small>

<small>“Gu phi định, và đốt chiếu với các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện nghĩa phú định</small>

<small>ương ứng trong tiếng Việt. Trên cơ sở đó xác lập các nét tương đồng và dị biệt giữa1ai thứ tiếng trong lĩnh vực này.</small>

<small>Trong quá trình đối chiếu luận án đi sâu vào phân tích tâm tác động của ý</small>

<small>shủ định (gọi tat là tam phủ định) (scope of negation) trong câu phủ định tiếng Anh</small>

<small>'à tiếng Việt. Chính tam phủ định nay đã làm nên sự phân loại câu phủ định thànhâu phủ định mệnh đề (propositional negation [51], [22]; clausal negation [33];</small>

<small>entential negation [45], [58]) va câu phủ định yếu tố dưới câu (sub-clausalegation [33]; câu phủ định các thành tð (constituent negation [58]). Sự phân loại</small>

<small>ay sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích đối chiếu các mơ hình và biến thể</small>

mơ hình) câu phủ định xét về tầm phủ định trên bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<small>Khi đối chiếu, luận án cũng đề cập đến vai trò của động từ (trong tiếng Anh)</small>

<small>à vị từ (trong tiếng Việt) trong thành phần vị ngữ trong việc chi phối các tham tố</small>

<small>hung quanh nó khi bị phủ định, vai trị của các từ phiếm định (indefinites), các từ</small>

<small>¡nh lượng (quantiflers) trong câu phủ định của tiếng Anh và tiếng Việt. Việc</small>

ghiên cứu sự tác động của các từ này sẽ giúp hiểu sâu hơn về sự giống nhau vàhác nhau giữa các mơ hình và các biến thể câu phủ định trong tiếng Anh và tiếng

<small>"liệt trên bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa.</small>

<small>. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án :</small>

<small>Luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:</small>

<small>.1. Xác lập khái niệm cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định, xem nó như là chỗ dựa cơ</small>

<small>an của việc nghiên cứu trong các phần tiếp theo.</small>

<small>.2. Xác lập phạm vi nghiên cứu câu phủ định là cơ sở của việc nghiên cứu của</small>

<small>14n án.</small>

<small>.3. Phân tích miêu tả, phân loại các mơ hình câu phủ định trong tiếng Anh (ngơn</small>

<small>gữ cơ sở) và sự thể hiện tương đồng hoặc dị biệt, tương ứng hay phi tương ứng qua</small>

4c mơ hình phủ định trong tiếng Việt (ngôn ngữ đối chiếu) để thấy quang cảnh

<small>aung của câu phủ định mà luận án nghiên cứu (phạm vi nghiên cứu câu phủ định).</small>

<small>.4. Phân tích đối chiếu tìm ra sự tương đồng và dị biệt về cấu trúc-ngữ nghĩa của</small>

<small>iu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt được biểu hiện qua các phương tiện ngữ pháp</small>

<small>2ặc các phương tiện từ vựng-ngữ pháp thường dùng trong hai ngôn ngữ Anh vàiét.</small>

5. Rút ra những nhận xét tổng quát về lý luận va thực tiễn qua việc nghiên cứu

<small>ìu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt và nêu những ứng dụng có tính giáo học phápong việc day và học tiếng Anh và tiếng Việt với tư cách là những ngọai ngữ .</small>

<small>Phương pháp nghiên cứu của luận án :</small>

<small>Với mục đích đối chiếu làm sáng tỏ sự tương đồng và dị biệt, những tương</small>

<small>ig và phi tương ứng của câu phủ định giữa tiếng Anh và tiếng Việt, và với việc lấy</small>

<small>ng Anh làm ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu để làm sáng tỏ</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

lac điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của câu phủ định tiếng Anh, luận án sẽ được nghiên

<small>itu theo phương pháp :</small>

<small>¡.1. Phân tích những kiến giải về mặt lý luận có liên quan đến hiện tượng phủ</small>

<small>linh, câu phủ định và các lọai câu phủ định thuộc bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa đãlược trình bày ở nước ngịaI và ở Việt Nam .</small>

<small>¡.2. Khảo sát và thống kê các mơ hình và các biến thể dựa vào các phương tiệnsiểu hiện và tam phủ định 793 câu phủ định tiếng Anh trích từ 13 truyện ngắn và 3</small>

<small>ruyện dài đơn ngữ, song ngữ Anh-Việt của các nhà văn Anh, Mỹ hiện đại và 798</small>

:âu phủ định tiếng Việt trích từ 57 truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam hiện dai.

<small>¡.3. Sử dụng các loại hình phân tích miêu ta, phân tích đối chiếu, phân tích so sánh</small>

<small>huyển dịch để xác định sự tương đồng và dị biệt, tương ứng và phi tương</small>

<small>íng,...bao gồm các cấp độ :</small>

<small>cấu trúc hình thức-ngữ nghĩa,</small>

<small>các loại hình biểu hiện và các phương tiện ngơn ngữ tương ứng, phi tương ứng,</small>

các giải pháp chuyển dịch (cấu trúc cải biến) đồng nhất.1 thể là :

<small>việc phân tích cấu trúc-ngữ nghĩa dựa trên những biểu hiện về mặt hình thức có</small>

<small>rong câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt,</small>

<small>việc phân lọai câu phủ định thành các mơ hình và biến thể dựa trên sự so sánh</small>

hững nét tương đồng phổ biến và cục bộ,

<small>việc phân tích đối chiếu có tính đến sự khác biệt về loại hình ngơn ngữ giữa tiếnginh và tiếng Việt, không dừng lại ở đối chiếu các dấu hiệu hình thái học mà đi sâu</small>

<small>ào đối chiếu cách kết hợp các yếu tố trong cấu trúc.</small>

<small>việc đối chiếu ở cấp độ cấu trúc câu và các thành tố trong câu, các khuôn thành</small>

<small>git (các khuôn ổn định) nhằm phát hiện những giống nhau và khác nhau về mat</small>

iéu hiện các đặc trưng cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định.

<small>Trong việc miêu tả-đối chiếu chúng tôi sử dụng đồng thời nhiều thuật ngữ</small>

<small>la ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp chức nang vừa phục vu</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<small>sho yêu cầu lý luận và vừa là phục vụ việc dạy và học ngoai ngữ, thực hành ngoai</small>

\gữ . Một số thuật ngữ trong cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc thông báo, cấu trúc thông

in, cấu trúc nghĩa biểu biện của câu phủ định nếu chưa có thuật ngữ tương đương

rong tiếng Việt, chúng tơi sẽ tam dịch sang tiếng Việt có kèm theo thuật ngữ tiếngAnh gốc. Ngồi ra, nhiều ví dụ minh họa của tiếng Anh sẽ được dịch sát từng từ

sang tiếng Việt (có thể có kèm theo dịch ý) nếu chúng tơi khơng tìm thấy những›ấu trúc tương ứng trong tiếng Việt. Những câu chuyển dịch khơng có nguồn trích

jin từ sách song ngữ là của luận án. Nhiều câu tiếng Việt mặc dù nội dung ngữ

<small>+ghĩa không giống với tiếng Anh nhưng có cấu trúc-ngữ nghĩa giống nhau cũng sé</small>

iược sử dụng để minh hoạ nhằm tránh việc dịch quá nhiều những câu có cùng cấu

<small>ruc trong hai ngơn ngữ.</small>

<small>5. Bố cục của luận án :</small>

<small>_uan án gồm 4 chương và các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.</small>

<small>“hương 1: Những cơ sở lý luận của luận án</small>

<small>“hương 2 : Miêu tả những đặc trưng của cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định tiếngAnh và tiếng Việt</small>

<small>“hương 3: Đối chiếu những đặc trưng của cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định tiếng</small>

<small>Ành và tiếng Việt</small>

<small>-hương 4: Những ứng dung quan trọng của phân tích đối chiếu câu phủ định tiếng\nh và tiếng Việt vào việc giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

CHUONG 1 :

NHUNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA LUẬN AN

<small>Sự phủ định là một bộ phận của hoạt động nhận thức, của q trình</small>

hoạt động giao tiếp ngơn ngữ của con người. Sự phủ định là một phạm trù cơ bản

của tư duy, của lơ-gích hình thức. Nó đối lập với phạm trù khẳng định. Vì vậy sự

phủ định đồng thời là đối tượng nghiên cứu của triết học, lơ-gích học và ngôn ngữ

1.1. Phủ định xét về mặt triết học : Về mặt triết học, phủ định được coi như một

giai đoạn tất yếu của sự phát triển, là điều kiện của sự biến đổi về chất của các sự

vật. Thế giới vật chất vận động va phát triển không ngừng. Một dạng nào đó của vật

chất được sinh ra, tồn tại, rồi mất đi, được thay thế bằng một dạng khác. Triết học

<small>gọi sự thay thế đó là sự phủ định. Sự phủ định như thế là một yếu tố nhất thiết phải</small>

có của sự vận động và phát triển vì khơng có lĩnh vực nào lại có thể có sự phát

triển nếu như khơng phủ định những hình thức tồn tại đã có từ trước. Thêm vào đó,

<small>khi nói đến sự phủ định, triết học duy vật biện chứng khơng có ý nói đến bất kỳ sựphủ định nào mà chỉ nói đến sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát</small>

triển, cho cái mới ra đời thay thế cái cũ. Nguyên nhân của cái mới ra đời thay thế

<small>cái cũ, tức là nguyên nhân của sự phủ định, nằm ngay trong bản thân sự vật, nó là</small>

<small>kết quả của những mâu thuẫn được giải quyết trong bản thân mỗi sự vật. Vì vậy , sự</small>

phủ định là có tính khách quan, là một yếu tố tất yếu của sự phát triển. Chẳng hạn,những định luật và học thuyết khoa học ngày càng phát triển là kết quả của quá

<small>trình phủ định của những tri thức đúng dan, sâu sắc đối với những tri thức sai lầmnoac kém sâu sac, khơng đây đủ. Ngồi ra, phủ định là kết quả của sự tự thân phát</small>

rién trên cơ sở giải quyết những mâu thuẫn vốn có của các sự vật và hiện tượng.

<small>cho nên cái mới ra đời không thể là một sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn,</small>

<small>nà là một sự phủ định có kế thừa. Cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ vì vậy nó có</small>

<small>thon lọc, giữ lại và cải tạo những mặt cịn thích hợp của cái cũ để chuyển sang cáinới, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt gây cản trở cho sự phát triển. Chẳng hạn,</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<small>rong lĩnh vực nhận thức, triết học Mác ra đời giữa thế kỷ XIX, nó đã kế thừa mọi</small>

tá trị tư tưởng của quá khứ, mà trực tiếp là các giá trị của nền triết học cổ điểndtc. Với đặc điểm như vậy, phủ định biện chứng, không chỉ là nhân tố khắc phục

‘Ai cũ , mà còn là gắn liền cái cũ với cái mới, cái khẳng định với cái phủ định, tạo

tên vòng khâu tất yếu của sự liên hệ và sự phát triển. Phân tích sự phủ định xét về

nặt triết học có thể giúp chúng ta nhận thức được một quan niệm chân chính về sựshát triển phải là một thái độ ủng hộ cái mới, đấu tranh cho cái mới, khẳng định

‘Ai mới, phủ định cái cũ, chống lại cái cũ, lỗi thời kìm hãm sự phát triển. Do đó

‘hing ta có thể nói sự khẳng định-sự phủ định ln ln gắn liên với quá trình

nhận thức của chúng ta về sự phát triển của thế giới khách quan [123, 455].

<small>! 2. Phú định xét về mặt lơ-gích học : Phủ định là một thao tác lơ-gích, nhờ đó mà</small>

<small>ừ một phán đoán này tạo ra được một phán đoán mới (gọi là phủ định cái xuất</small>

<small>›hát) sao cho nếu phán đốn xuất phát là chân lý thì sự phủ định phán đốn ấy làai, cịn nếu phán đốn xuất phát là sai thì cái phủ định nó là chân lý. Như chúng ta</small>

lã biết, phán đốn là một hình thức cơ bản của tư duy, dưới dạng khẳng định hoặc

<small>hi định, thể hiện nhận thức con người về những đối tượng trong thế giới khách</small>

<small>juan. Một phán đốn sẽ có một và chi một trong hai giá tri đúng hoặc sai. Hai giá</small>

<small>ri này được kí hiệu bằng hai chữ đ (đúng) và s (sai), hoặc hai số 1 và 0. Trong ích, sự phủ định phán đốn được xác định một cách duy nhất bởi quy tắc "Nếu</small>

<small>lơ-hán đốn P (la) sau đây là đúng thì plơ-hán đốn ~P. (1b) sai cịn nếu plơ-hán đốn (1a) sai</small>

<small>i phán đốn (Ib) dung":</small>

<small>la) P = Bức tranh này đẹp.</small>

<small>Lb) ~P = Bức tranh này không đep. (92, 17]"{ dụ (2a) và (2b) cũng làm rõ định lý trên :</small>

<small>2a) P = Bill painted the house. (Bill sơn nhà)</small>

<small>)b)~P = Bill didn't paint the house.(Bill không sơn nhà) [22, 431]</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

lột phán đốn là đúng khi nó phù hợp với thực tế khách quan , có thể chứng minh

ược như phán đốn ( 3 ) hoặc có thể trình bày dưới dạng nguyên lý, tiên dé như

<small>hán đoán ( 4 ) :</small>

<small>3) P=All elephants are animals.</small>

<small>(Tất cả các con voi đều là động vat) (34, 92]</small>

4) P = Qua một điểm ở ngoài một đường thắng ta kẻ được một đường thẳng song

ong với đường thẳng đó ( Tiên đề về đường thẳng song song trong hình học

<small>‘uclide ).</small>

<small>Về mat cấu tao, từ phán đoán a, ta tạo được phán đốn phủ định của nó bằng</small>

<small>ách đặt tác tử phủ định vào trước phán đoán này : ~ a . Đọc là "không a". Tác tử</small>

<small>hủ định được định nghĩa qua bảng chân lí sau :</small>

<small>a ^a</small>

<small>1 0</small>

<small>0 1</small>

<small>í dụ : Phủ định (1a) ta được (1b), phủ định (2a) ta được (2b). Phủ định (5a) ta</small>

<small>ược (Šb) sau đây :</small>

<small>ja) P = Ba đọc báo va Năm coi ti vi.</small>

<small>1b)~P =Không phải Ba đọc báo va Năm coi ti vi. [92, 53]</small>

<small>Mỗi phán đốn đều có dang :</small>

S (Subject) là P (Predicate) ( phán đoán khang định )

<small>S khong là P ( phán đốn phủ định )</small>

Ở đó § được đọc là chủ từ

<small>P được đọc là vị từ</small>

<small>Các phán đốn có thể phân loại theo chất và lượng thành :</small>

Phan đốn khẳng định chung ( được kí hiệu là A ) có dạng thức 16-gich là :

<small>A =mọi S là P</small>

<small>í dụ :(6) P = Mọi người đêu sẽ chết.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

. Phán đoán khẳng định riêng (được kí hiệu là I) có dạng thức lơ-gích là :

<small>I = một số S, nhưng khơng phải là mọi S , là P</small>

<small>rí dụ :</small>

<small>7) P = Chiếc bảng này màu đen.</small>

. Phán đoán phi định chung (được kí hiệu là E) có dạng thức lơ-gích là :

<small>E =mọi S( đều ) khơng là P</small>

<small>7í dụ :</small>

8) P = Tất cả chúng ta déu không là diễn viên.

<small>. Phan đốn phu định riêng ( được kí hiệu là O ) có dạng thức lơ-gích là :</small>

<small>O = một số Š, nhưng không phải là mọi S, không là P</small>

<small>7í dụ :</small>

9) P = Ơng Ba khơng phải là kỹ sư. (92, 47-48]

<small>ion loại phán đốn này có quan hệ chặt chẽ với nhau về giá trị chân lý va chúng</small>

ược biểu hiện trên 4 đỉnh của một hình vng được gọi là hình vng lơ-gích mà ở

ó quan hệ phủ định sẽ là quan hệ đường chéo. Nếu phủ định một phán đốn khẳng

<small>¡nh chung A thì được một phán đoán phủ định riêng O và nếu phủ định một phán</small>

ốn khẳng định riêng I thì được một phán đốn phủ định chung E. Ta có :

<small>ơng thức I: ~TA=OQông thức IT: ~I=E</small>

<small>lếu chú ý tới nguyên lý phủ định kép thi từ 2 công thức I va II ta suy ra :</small>

<small>ông thức II : ~O=Aông thức IV : ~E=I</small>

tuan hệ giữa các phán đoán cùng kiểu ( cùng khang định hoặc cùng phủ định) là

<small>1ững quan hệ thứ bậc : nếu phán đoán nằm ở đỉnh trên đã đúng thì phán đốn nằm</small>

<small>đỉnh dưới tương ứng cũng đúng. Ta có :</small>

<small>ơng thức V : A --- >I</small>

<small>ông thức VỊ : E --- >O</small>

<small>10</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<small>)uan hệ giữa các phán đoán chung A và E là quan hệ đối lập, nghĩa là chúng</small>

hông thể cùng đúng, cịn quan hệ giữa các phán đốn riêng I và O là quan hệ phản

<small>tối lập, nghĩa là chúng khơng thể cùng sai. Ta có :</small>

<small>1ơng thức VI: AAE(AvaE) luôn luôn sai</small>

<small>ông thức VII: I VO(I hoặc O) ln ln đúng.</small>

<small>A E</small>

<small>| O</small>

<small>Hình 1 [88]</small>

<small>Về mat biếu hiện, những phán đốn được hình thành nhờ có câu, tức là nhờ</small>

ó ngơn ngữ. Tuy nhiên phán đốn cũng chỉ tương ứng với câu tường thuật khẳng

<small>inh hoặc phủ định (những ví dụ từ (1a) đến (9) trên) vì có thể xác định được chúng</small>

<small>ó phù hợp với thực tế khách quan hay không, nghĩa là biết được chúng đúng hay</small>

<small>ai. Đây là những câu [34, 91] gọi là câu phân tích (analytic sentence) có thể xác</small>

<small>¡nh được giá trị chân lý. Còn những câu nghi vấn (1c), câu cảm thán (1d) (thực</small>

<small>hất là những câu phủ định từ câu (1a)), câu mệnh lệnh (10) đều không phải là</small>

<small>hững phán đốn vì chúng khơng phản ánh hay miêu tả một hiện thực khách quan</small>

<small>ào; cho nên không thể xác định được giá trị chân lí của chúng. Ngồi ra những</small>

âu tường thuật (11-13) mà [34, 92] gọi là câu tổng hợp (synthetic sentence) tức là5 thể đúng hoặc sai tuỳ thuộcvào thế giới quan của từng người hoặc những câu mà

<small>12, 45] gọi là câu nghich lí lơ-gích cũng khơng được gọi là những phán đốn vì</small>

nh chân lý của chúng không thể xác định được.

<small>i dụ : (la-d, 10) trích từ [92, 17-47]a) Bức tranh này đẹp.</small>

<small>b) Bức tranh này không dep.</small>

<small>11</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

<small>(Ic) Sao bảo bức tranh này dep ?</small>

<small>(]d) Bức tranh này mà dep !(10) Dừng xe lai .</small>

<small>(11) Cats never live more than 20 years. [34, 92]</small>

(Mèo không bao giờ sống hơn 20 tuổi)

<small>(12) Bachelors cannot form lasting relationships. [34, 92]</small>

(Những người sống độc thân không thể tao nên những quan hệ lâu dai)

<small>(13) No cat_likes to bathe.</small>

(Chẳng có con mèo nào thích tắm cả) (34, 92]

Có mối quan hệ chặt chẽ giữa phán đoán khẳng định và câu tường thuật khẳng định

(gọi tat là câu khang định), giữa phán đoán phủ định va câu tường thuật phủ định

(gọi tắt là câu phủ định), đồng thời giữa phán đoán khẳng định-câu khẳng định và

<small>phán đốn phủ định-câu phủ định. Chính vì vậy mà từ lâu trong ngôn ngữ học, câushu định luôn được đặt trong mối quan hệ với phán đoán phủ định và được nêu ra</small>

rong quan hệ chặt chẽ với câu khẳng định (cũng được hiểu trên cái nền của phán

loán khẳng định). Hai kiểu câu khẳng định và câu phủ định theo quan niệm này

<small>lược coi như làm thành một cặp đối lập với nhau. Những vi dụ (1a),(Ib);(2a),(2b);</small>

<small>5a),(5b) nêu trên phù hợp với truyền thống nay. Tuy nhiên, quan niệm này cũng đã</small>

<small>zap những khó khăn về lýluận khi trong các sách giảng dạy tiếng nước ngoài người</small>

a ra các loại bài tập chuyển đổi câu khẳng định thành câu phủ định hay ngược lại

àm như thể câu khẳng định nào cũng có một câu phủ định đối lập với nó. Ví dụ

14) sau đây theo [83] [84] có thể chứng minh rằng trong thực tế giao tiếp không

<small>hiếu trường hợp trong ngôn ngữ tồn tại câu phủ định mà khơng thể có câu khẳng</small>

<small>linh tương ứng.</small>

<small>7í dụ :</small>

<small>14) Đó là một huyện Yên Phong, ngập ngụa trong nước. Đông không thấy bờ,</small>

<small>hông thấy lúa, chỉ như một biển nước mênh mông. ( Đào Vũ ) (84, 245]</small>

<small>12</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<small>oặc ví dụ (15a) và (15b) sau đây theo [94] cũng chứng minh rằng khơng có một¡ tương xứng , một thế song hành giữa câu khẳng định và câu phủ định như người</small>

. có thể tưởng.

<small>í dụ :</small>

'Sa) Trương xuống xe thì thấy mình đứng trên một con đường thang tap, hai bênia chín vàng óng, gió thổi thành những đợt sóng mém.

<small>'Sb) ?? Trương khơng xuống xe thì khơng thấy minh đứng trên một con đường</small>

hơng thẳng tắp, hai bên lúa khơng chín vàng óng, gió khơng thổi thành những đợt

<small>áng mém. (94, 188]</small>

<small>[goai ra, nếu dựa vào các mối quan hệ về mặt lơgích giữa các phán đốn trong</small>

ình vng lơgích nêu trên thì khơng phải mọi phán đoán được biểu hiện bằng câu

<small>am trên đường chéo của hình vng lơgích có quan hệ phủ định lẫn nhau thì sé trở</small>

tành những câu phủ định được chấp nhận sử dụng trong giao tiếp ngôn ngữ. Chang

<small>ạn về phương diện lơgích , cặp câu (16 ) và ( 19 ) có quan hệ phủ định lẫn nhau</small>

<small>ieo cơng thức I:~ A = dụ :</small>

<small>6) A= Mọi thứ đêu còn.</small>

tý I = Một sốthứ( van ) còn.

<small>8) a. E= Khong thit gi con.</small>

<small>b. E= Mọi thứ đều không cịn.</small>

<small>9) O= Mot số thứ khơng con. [92, 377]</small>

<small>ưng về dạng thức ngôn ngữ khi giao tiếp thi chúng ta thường nói câu phủ địnhla câu ( 16 ) là câu (18b) chứ không phải là câu (19). Tương tu , về phương diện</small>

<small>gích, cặp câu (17) và câu (18) có quan hệ phủ định lẫn nhau theo cơng thức II : ~</small>

<small>= E nhưng về dạng thức ngôn ngữ khi giao tiếp thì chúng ta thường nói câu phủ</small>

<small>nh của câu (17) là câu (19) chứ không phải là câu (18). Điều này chứng minh</small>

<small>ag dạng thức phủ định ngơn ngữ khơng đồng nhất với sự phủ định lơgích. Mac dù</small>

<small>ïa ngơn ngữ và lơgích có những quan hệ nhất định nhưng khơng có sự đồng nhất.</small>

<small>13</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

hiéu qui tắc lơgích có thể dùng để giải thích các qui tắc ngơn ngữ nhưng cũng cóving hiện tượng rất chuẩn trong ngôn ngữ mà lại "không hợp lơgích". Bên cạnh

iting bất cập về sự khơng đồng nhất giữa ngơn ngữ và lơgích vừa nêu trên, chúng

cịn nhận thấy một vấn đề khác nảy sinh từ mối quan hệ giữa hình thức biểu hiện

<small>: ý nghĩa của các phán đóan phủ định. Trong thực tế giao tiếp ngơn ngữ, cùng</small>

ột hiện thực khách quan có thể dùng những dạng thức ngôn ngữ khác nhau để

éu hiện. Ý nghĩa phủ định không chỉ được biểu hiện bằng câu tường thuật phủ

nh (1b) từ câu tường thuật khẳng định (1a) như ví dụ :

<small>'a) Bức tranh này đẹp.</small>

<small>'b) Bức tranh này khơng dep.</small>

<small>à cịn bằng các câu nghi vấn (1c) hoặc câu cam than (1d) từ câu (1a) như ví dụ :</small>

<small>c) Sao bao bức tranh này dep ?</small>

<small>d) Bức tranh này ma dep !</small>

¡ ca những câu khang định khác từ câu (1a) như ví dụ :

<small>e) Bức tranh này đâu có dep.g) Bức tranh này nào có dep.</small>

<small>h) Bức tranh này đep sao được.</small>

<small>i) Bức tranh này dep thế nào được.</small>

<small>k) Bức tranh này đep gì mà đep. (92, 17-18]</small>

<small>rong tự như vậy với những câu tiếng Anh (11), (12), (13) nêu trên hoặc những câu</small>

<small>u đây :</small>

<small>0) Can anyone doubt the wisdom of this action ? [63, 200]</small>

(Ai mà có thé nghỉ ngờ su khơn ngoan của hành động này ?)

<small>1) Who knows ?</small>

<small>(Nào ai biết ?) (63, 200]</small>

tực ra thì ngồi các qui tac lơgích, ngơn ngữ cịn có những qui tắc riêng của Nữ,

chính là những qui tắc ngữ nghĩa để một câu vừa có cấu tạo đúng theo qui tắc cú

áp vừa đúng về phương diện ngữ nghĩa. Việc nghiên cứu câu phủ định nếu chỉ

<small>14</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

lựa trên những lý giải về mặt lơ-gích học thì chỉ mới giúp cho người nghiên cứugôn ngữ và người hoc ngoai ngữ hiểu được tính phổ quát của các thao tác tư duy

<small>sua con người mà chưa giúp cho họ hiểu được hết những nét tinh tế của ngôn ngữ</small>

rà thấy hết được những điểm tương đồng và dị biệt của từng ngôn ngữ cần nghiên

<small>:ứu. Do mục đích nghiên cứu của luận án, chúng tôi không đi sâu vào những vấn</small>

<small>đề liên quan đến các phán đóan phủ định của lơgích học mà tập trung nghiên cứu</small>

:âu phủ định trên quan điểm ngôn ngữ học.

1.3. Phú định xét về mặt mục đích phát ngôn trong giao tiép ngôn ngữ : Câu phủ

<small>jinh là một trong những loại câu được phân chia theo mục đích phát ngơn. Như</small>

<small>:húng ta biết, ngơn ngữ là một phương tiện quan trọng để giao tiếp giữa người và</small>

1gười. Trong giao tiếp người ta có thể dùng câu để thực hiện các mục đích giaoiép khác nhau như kể, hỏi, nêu yêu cầu hoặc bộc lộ tình cảm, cảm xúc về một sự

<small>rật hay sự việc. Câu được phân loại theo mục đích phát ngơn dựa trên 2 đặc điểm</small>

<small>‘au đây :</small>

<small>(1) Đặc điểm ngữ nghĩa hay là mục đích phát ngơn</small>

(2) Đặc điểm cú pháp hay là đặc điểm riêng về cấu trúc

Yếu chi dựa vào đặc điểm ngữ nghĩa dé phân loại thi sẽ không thấy hết sự phức tạp

<small>la dạng của cấu trúc ngôn ngữ trong khi hành chức. Ví dụ : mục đích hỏi , chất vấn</small>

<small>ó thể được biểu hiện bằng những cấu trúc nghi vấn , cấu trúc tường thuật khẳnglịnh hoặc phủ định. Còn nếu chỉ dựa vào đặc điểm cú pháp thì trong giao tiếp một</small>

<small>âu có cấu trúc nghi vấn nhưng mục đích phát ngơn có thể là một lời cảm thán, một</small>

<small>aénh lệnh hay một lời chào hỏi.</small>

Trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản trên, theo truyền thống câu được phan

<small>›ai như sau :</small>

3.1. Câu tường thuật (câu kê) (declarative sentence / statement) :

) Mục dich phát ngôn : Dùng để kể, xác nhận là có hay khơng có, mơ tả một vật

<small>ới các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự</small>

lện với các chi tiết nào đó. Về mặt lơgích học cổ điển thì câu tường thuật là hình

<small>15</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

hức duy nhất có khả năng biểu thị một phán đốn lơgích có tính chân thực hay

chong chân thực. Trong thực tế giao tiếp, câu tường thuật có thể dùng để thực hiện

nột mệnh lệnh, một yêu cầu, một lời cầu xin...

») Cấu trúc cú pháp : ngoài cấu trúc thể hiện bằng thực từ và phụ từ của chúng, câu

ường thuật nhiều khi còn sử dụng các từ tình thái riêng để bày tỏ thái độ đối với

161 dung câu nói, hoặc đối với người nghe hoặc có khi chỉ nhằm hồn chỉnh cau,

<small>rúp cho câu đứng được [84, 227]</small>

›I. Câu tường thuật khẳng định có cấu trúc cú pháp :

* khơng có hình thức riêng (chỉ sử dụng cấu trúc thể hiện bằng thực từ và phụ từ)

<small>ví dụ :</small>

<small>21) The boat has left. (63, 192]</small>

<small>22) Anh Tu làm việc tot. [102, 199]</small>

<small>‘ chỉ trong trường hợp nhấn mạnh nghĩa, thi dùng trợ động tir do/does ở hiện tai,</small>

<small>lid ở quá khứ (trong tiếng Anh) hoặc dùng phụ từ có (trong tiếng Việt)</small>

<small>23) (A. I thought John worked hard.)</small>

<small>B. But he did work hard. [63, 409]</small>

<small>24) Thực tình, em có nói dối. (102, 200]</small>

<small>2. Câu tường thuật phú định có cấu trúc cú pháp :</small>

<small>‘ding trợ động từ + từ phủ định no, not, hardly,... (trong tiếng Anh) hoặc thêm từ</small>

à kết hợp từ phủ định không, chưa, chẳng! không phải, chẳng phải, chưa phải

là) (trong tiếng Việt) vào một số vị trí của câu tường thuật khẳng định.

<small>rí dụ :</small>

<small>25) (A. She sees me every week.--- ></small>

<small>B. She doesn't see me every week. [63, 184]</small>

<small>6) Trời không tối lắm. (102, 200]</small>

thêm trợ từ ma vào cấu trúc tường thụât khẳng định (trong tiếng Việt).

<small>'7) Trời mà biết được. [105, 269]</small>

<small>16</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

* thêm trợ từ dau để phủ định bác bỏ (trong tiếng Việt).

<small>Ví dụ :</small>

(28) Thằng Bình tốn chẳng khá lắm đâu. (95, 136]

1.3.2. Câu nghỉ vấn (câu hỏi) ( interrogative sentence/ question ) :

a) Mục đích phát ngơn : Dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc cịn hồi nghi và chờ

đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó; dùng để hỏi về sự tồn tại của cả

một sự việc hoặc đưa ra một giả thiết đã ít nhiều có tính chất khẳng định (hỏi tổng

quát) hoặc nhắm hỏi về một chỉ tiết trong sự việc (hỏi bộ phận) hoặc đưa ra những

<small>khả năng khác nhau cho người tra lời lựa chọn mà trả lời (hỏi lựa chọn). Câu nghi</small>

vấn hoặc câu nghi vấn phủ định còn được dùng dé khẳng định, để cầu xin , mờimọc hoặc để chào hỏi, v.v...

<small>b) Cấu trúc cú pháp :</small>

b] Câu nghỉ vấn tổng quát (câu nghi vấn giả thiết) thường dùng :

<small>* các trợ từ phủ định nối đuôi (tag question-trong tiếng Anh) đặt ở cuối câu để nêu</small>

<small>gia thiết hoặc các trợ từ nghi vấn có... khơng ?, có phải... khơng ?, có đúng...</small>

<small>thơng ?, đá...chưa ?, xong (rồi, xong rồi) chưa ?, phải chăng..? (trong tiếng</small>

<small>Ví dụ :</small>

<small>29) He likes his job, doesn’t he 2 [63, 86]30) Tối qua, anh di xem chiếu bóng với cơ Lan, có phải khơng ? (102, 203]</small>

<small>“ sử dụng cấu trúc nghi vấn đảo ngữ (YES/NO-question) (trong tiếng Anh) hoặc</small>

<small>ác trợ từ như à, uw, hd, không, chăng, chưa, phỏng, nhỉ,...ở cuối câu (trong tiếng</small>

<small>/í dụ :</small>

<small>31) Does he like Mary ? [63, 192]32) = Minh anh có tới ba trái à ? (Giang Nam) (102, 203]2. Câu nghỉ vấn bộ phận thường dùng :</small>

<small>17</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

<small>cấu trúc WH-question sử dụng các từ : what, which, who, where, when, why,</small>

<small>1ow, how many, how much,...vao đầu câu những câu nghỉ vấn có hoặc khơng có</small>

<small>tảo ngữ (trong tiếng Anh) hoặc các đại từ nghi vấn hoặc các ngữ tương đương: ai,</small>

i, đâu, sao, nào, (như) thé nào, bao nhiêu, mấy, bao giờ, bao lâu, đâu, ngườisào, cái nào, chỗ nào... ? vào dau câu (trong tiếng Việt).

<small>/í du:</small>

<small>33) | Who opened my letter ? [63, 197]</small>

34) — Ai là tổ trưởng tổ nguội ? (102, 203]

<small>3. Câu nghỉ vấn có lựa chọn thường dùng :</small>

<small>:từ or (trong tiếng Anh) hoặc từ hay , hoặc (trong tiếng Việt).</small>

<small>37) Is no one going to defend me ? (= Surely someone is going to defend me.)</small>

<small>(Cha lé không ai bao vệ tôi a ?) [63, 200]</small>

<small>38) Doi nào bánh đúc có xương ? (Tục ngữ) (102, 204]</small>

<small>2) — Why don't you apphy for that job ? [16, 191]</small>

<small>13) Why don't you help yourself ? [16, 191]</small>

<small>18</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

<small>44) Would you mind signing here ? [16, 191]</small>

45) Ơng có diém khơng ? (95, 131]

7. Câu nghỉ vấn (khang định hoặc phú định) dùng để cảm than :

<small>'í dụ :</small>

<small>17) — Thếthì có khổ cho tôi không ? (95, 131]</small>

3.3. Cau mệnh lệnh (cadu thính cdu/cdu khiến) (imperative sentence/

) Mục dich phát ngơn : dùng dé bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghe thực

<small>lên điều được nêu lên trong câu.</small>

<small>) Cấu trúc cú pháp:</small>

1) Câu mệnh lệnh khẳng định :

<small>sử dụng động từ nguyên mẫu hoặc trợ động từ Do đứng trước động từ ngun</small>

<small>14u (nếu khơng có chủ ngữ) hoặc đại từ You , Everybody, Somebody,... đứng trước</small>

<small>6ng từ nguyên mẫu (nếu muốn nhấn mạnh người thực hiện mệnh lệnh, lời cầu</small>

<small>hiến); hoặc sử dụng trợ động từ Let đứng trước đại từ me , us, hoặc danh từ riêngước động từ nguyên mẫu (trong tiếng Anh) ; hoặc sử dụng các vi từ , phụ từ mệnh</small>

<small>nh đứng trước vi từ như hay, (trong tiếng Việt) .</small>

<small>{8) Help yourself! [16, 193-197]</small>

<small>'9) Docome in! [16, 193-197]'(0) You be a doctor and I be the nurse ! [16, 193-197]l) Somebody call a doctor ! [16, 193-197]</small>

<small>2) Leøt me think a moment! [16, 193-197]</small>

<small>3) Hay nhớ lấy lời tôi ! (102, 204]</small>

<small>') Câu mệnh lệnh phủ định :</small>

<small>sử dụng trợ động từ ở dang phủ định Don't đứng trước động từ ngun mẫu (nếu</small>

<small>tơng có chủ ngữ) hoặc các đại từ you , anyone xen giữa Don’t và động từ nguyên</small>

<small>19</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

nẫu (nếu muốn nhấn mạnh người thực hiện mệnh lệnh, lời câu khiến); hoặc sử

jung trợ động từ Let đứng trước dai từ me, us, hoặc danh từ riêng kèm với từ phủfinh not và động từ nguyên mẫu; hoặc sử dung trợ động từ ở dạng phủ định Don'tiứng trước let me, us,...trước động từ nguyên mẫu (trong tiếng Anh) ; hoặc sử dụng

<small>›ác vi từ mang nghĩa cấm đoán đứng trước vi từ như đừng, chớ, khơng được (trong</small>

<small>lếng Việt) .</small>

<small>Ví dụ :</small>

<small>%4) Don't say a word! [16, 197-198]</small>

<small>(55) Don't you_be too long! [16, 197-198]</small>

<small>(56) _ Lef not stay until the end of the show! [16, 197-198]%7) Don't let me get caught in a traffic jam. [16, 197-198]</small>

58) Cac anh chớ liêu lĩnh ! (102, 204]

<small>1.3.4. Câu cảm than ( câu cẩm ) ( exclamatory sentence / exclamation ) :</small>

1) Muc đích phát ngơn : dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói.

<small>3) Cấu trúc cú pháp :</small>

* sử dụng các kết cấu bat đầu bằng What/How + chủ ngữ + động từ, What +bổ

<small>ngữ +chủ ngữ +động từ, (trong tiếng Anh) ; hoặc các phụ từ như sao, bao, thay,‘am sao, xiết bao,...đặt ở cuối câu hoặc xen vào nòng cốt câu (trong tiếng Việt).</small>

<small>Ví dụ :</small>

<small>59) What a lot of people live here ! [16, 200-201]60) How he talks ! [16, 200-201]</small>

<small>61) What a lovely voice she has ! [16, 200-201]</small>

<small>62) Anh ấy hiển sao ! [102, 205]</small>

<small>63) Mat sao dày gió dạn sương! (Nguyễn Du) (102, 205]</small>

Việc phân chia câu theo mục đích phát ngơn một mặt có thể giúp cho người

<small>lọc, người nghiên cứu nhận diện được ý nghĩa của câu và những giá tri ngôn trung</small>

hác của các loại câu,và, một mặt khác để xác nhận giá trị của các mơ hình cấu

<small>‘ic câu. Tuy nhiên nếu phân tích kỹ sự phân loại trên, chúng ta thấy dạng thức phủ</small>

<small>20</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

finh và ý nghĩa phủ định xuất hiện trong hầu hết các loại câu : câu tường thuật phủ

finh, câu nghi vấn phủ định, câu mệnh lệnh phủ định. Vậy thực chất câu phủ định

›ó những đặc trưng hình thức và ý nghĩa khu biệt gì so với những kiểu câu khác

wong tiếng Anh và tiếng Việt ? Để hiểu sâu hơn về vấn đề này chúng ta cần điểm

qua một vai quan điểm của các nhà nghiên cứu câu phủ định ở Anh, Mỹ, nướcngoài và Việt Nam trước khi xác lập được một quan điểm phù hợp cho việc nghiênsứu cụ thể của luận án trong bước tiếp theo.

1.4. Một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câu phú định trên quan điểm ngôn

<small>ngữ học :</small>

1.4.1. Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngòai về câu phủ định: Câuphủ định được tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau và bổ sung nhau bởi cácnhà ngôn ngữ học Anh, Mỹ và nước ngoài. O.Jespersen đã tiếp thu quan điểm

lơgích và tâm lý học của những người nghiên cứu vấn đề phủ định trong các ngôn

1gữ Ấn Âu đồng thời như J.Van Ginneken, B. Delbruck, M. Knork, M.Rauert, E.

Einenkel và G. Neckel. Năm 1917, ông đã viết tác phẩm tiêu biểu Negation in

<small>English and Other Languages (Phú định trong tiếng Anh và trong các ngôn ngữ</small>

<small>chác). [40, 5-80] viết : "Cách dùng chú yếu của cau phú định là phú nhận và tạo su đối lap" ,</small>

<small>1OặC " Khi một từ bị phú định thường từ đó trở thành từ trái nghĩa với từ khác", hoặc "Có</small>

<small>chuynh hướng tự nhiên đặt từ phủ định ngay trước từ cần được phú định (nói chung từ đó là động</small>

)". Đây là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu câu phủ định trong tiếng Anh một cách\ệ thống theo quan điểm ngôn ngữ học so sánh lich đại. Đóng góp của tác giả là đã

<small>iét kê được nhiều cách thức biểu hiện ý nghĩa phủ định như phủ định mạnh, phủ</small>

<small>lịnh yếu, phủ định trực tiếp, phủ định gián tiếp, phủ định trọn vẹn , phủ định không</small>

<small>rọn vẹn, phủ định câu, phủ định đặc biệt, và một số khuôn phủ định-thành ngữ .</small>

<small>“uy nhiên, một số lý giải của tác gia vẫn cịn bị ảnh hưởng quan điểm lơ gích học</small>

<small>à tâm lý học. Do không đưa ra được những tiêu chí rõ ràng nên tác giả đã đưa vào</small>

<small>anh mục các phương thức thể hiện phủ định những câu nhượng bộ, những từ có ý</small>

<small>21</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

nghĩa từ vựng phủ định, và nhiều ngữ liệu tiếng Anh không còn được người Anh sửdụng trong giao tiếp hiện nay.

Khởi đầu từ Jespersen, trong nhiều tài liệu và bài nghiên cứu về sau, nhiều

nhà ngôn ngữ học thuộc các khuynh hướng lơgích tình thái, lơ-gích-ngữ nghĩa, ngữ

nghĩa, ngữ dụng học đã một mặt đưa ra được những ví dụ để chứng minh về sự

không đồng bộ giữa ngữ nghĩa của các câu phủ định và các phán đoán phủ định,

các định luật phủ định ; một mặt giới thiệu những cách tiếp cận mới, day đủ hơn về

câu phủ định thông qua các khái niệm mới, các thử nghiệm mới, những qui tắc

ngôn ngữ mới để kiểm tra câu phủ định khác với những định luật của phán đoán

phủ định trước đây. [45], [58] đã phân biệt hai loại phủ định : phủ định lơ-gích

<small>(logical denial) và phủ định câu (sentential negation) và chứng minh phủ định câu</small>

<small>không chịu ảnh hưởng của định luật phủ định kép. [45] cũng giới thiệu được một</small>

cách kiểm tra phử định câu(sentential negation) chính danh bang các từ too/either,

câu hỏi nối đuôi (tag questions), và nhóm từ not even (về mặt ngữ nghĩa thì cáckiểm tra này có tác dụng tốt nhưng về mặt cú pháp thì cịn nhiều vấn đề cần bàn

<small>cãi). [25, 109], [26, 321-351], [27, 157-165] nghiên cứu sự phủ định trên nhiều</small>

<small>bình diện: Phủ định thực hiện 3 chức năng quan trọng là (a) phủ nhận tính chân</small>

thực của một mệnh đề, (b) khẳng định rằng một sự cố, một tình cảnh khơng diễn ra,

(c) bác bỏ một ý kiến, quan điểm của người khác. Như vậy phủ định vừa là một tình

thái (theo quan điểm lơgích-ngữ nghĩa), vừa là một hành vi ngôn ngữ (theo quanđiểm ngữ dung). "Cáu phú định tạo ra một hành vi ngôn ngữ khác với cau khẳng định : trong

<small>khi câu khẳng định được dùng để truyền đạt thơng tin mới vì nghĩ là người nghe khơng biết thì</small>

<small>câu phủ định lai được dùng để sửa sai những suy nghĩ sai lâm vì nghĩ là do lôi của người nghe"[25], "Cau phú định được dùng thường xuyên nhất như là một hành vi ngôn ngữ nhằm vào việcđối lập , sửa sai hoặc bác bỏ “[27, 157] . [51, 777] cũng chứng minh câu phủ định làmột hành vi ngơn ngữ có hai đặc trưng ngữ nghĩa là hành vi miêu tả sự không tồn</small>

tại tức là sự vắng mặt hay biến mất ( non-existence ) và hành vi bác bỏ (rejection).

<small>[31] nghiên cứu câu phủ định trên cơ sở ngữ dung hoc. Sau khi phân tích sự khơng</small>

<small>aa</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

lồng nhất giữa câu phủ định ngơn ngữ và phán đốn phủ định thông qua vi dụ nổi

<small>lếng :</small>

<small>64) - The king of France isn't bald. (Vua nước Pháp khơng bi hói)</small>

<small>(78] trích theo [57, 251] phân tích sự khác nhau giữa hành vi phủ định miêu ta và</small>

nành vi bác bỏ qua ví dụ sau đây :

Hành vi bác bỏ thể hiện trong No của phát ngơn B của ví du:

(65) A. Would you care for a drink ?

<small>B. No, thanks.</small>

Hành vi phủ định miêu tả thể hiện trong No. Iam not của phát ngơn B của ví dụ :

<small>(66) A. So you are still living out there .</small>

<small>B.No, Tam not. I have rented a flat near the bank .</small>

Horn (1989) với tác phim A Natural History of Negation (Lich sử phát triển tự

<small>nhiên của sự phú định) là người thứ hai sau Jespersen (1917), đã phân tích tịan bộ</small>

ich sử nghiên cứu sự phủ định từ phương đông sang phương tây, từ Aristote cổ đạizới quan điểm lơ-gích hình thức, các quan điểm triết học, tôn giáo về sự phủ định,

<small>juan điểm tâm lý ngôn ngữ học, đến quan điểm xem phủ định là hành vi ngôn ngữ</small>

<small>1iện nay. Horn đã đề xuất thêm một loại phủ định bên cạnh phử định bình thường</small>

<small>ordinary, truth-functional, propositional negation), đó là phu định siêu ngôn ngữ</small>

<small>metalinguistic negation). Sự khác nhau giữa hai loại phủ định không thể hiện ở sựnơ hồ về ngữ nghĩa (semantic ambiguity) mà ở sự mơ hồ về ngữ dụng (pragmatic</small>

<small>imbiguity). [22, 392] nghiên cứu câu phủ định (propositional negation/sentential</small>

Iegation) trên quan điểm lơ-gích-ngữ nghĩa và xem phủ định là một tình thái. Tình

<small>hái là thơng tin ngữ nghĩa có liên quan đến thái độ hoặc ý kiến của người nói về</small>

<small>thững gì được nói trên tịan mệnh đề của câu . Theo quan điểm lơ-gích -ngữ nghĩaai sự phủ định tình thái “chí ảnh hưởng trực tiếp đến một bộ phận của mệnh đê mà trạng</small>

<small>tái của sự kiện , khả năng chắc chắn , khả năng có thể hoặc nhất thiết phải có của sự kiện có</small>

<small>1é bi nghỉ ngờ “ và bộ phận tin của câu thường bị phủ định chi phối là mới hoặc được</small>

<small>ác nhận ( new or asserted information ) hay còn gọi là tin không bị ngữ cảnh chi</small>

<small>2ã</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

phối của mệnh dé (contextually free aspect of a proposition). Như vậy trong câu

<small>sau đây:</small>

(67) - Bill did not see the man who came yesterday.

<small>( Bill da khơng nhìn thấy người dan ông đến ngày hôm qua )</small>

“see the man“ sẽ bị phủ định mà không chứa cả thông tin trong mệnh đề phụ “who

came yesterday“ vì thơng tin nay đã bị ngữ cảnh chi phối qua danh từ có quán từxác định “the”. [57] lại nghiên cứu câu phủ định trên những văn bản theo quanđiểm ngữ dụng học và nêu ra 4 cách dùng cơ bản của câu phủ định là (1) tác giảphủ nhận những thông tin sai lệch từ kiến thúc nền đã có trước của độc gia , (2) tác

<small>gia sửa sai một ý tưởng đã được xử lý trong bài viết, (3) tác giả muốn bày tỏ mộtước mong chưa được hoàn thành của mình đối với độc giả, (4) so sánh-đối chiếu</small>

các điểm được trình bày trong bài viết. [65] nghiên cứu câu phủ định trên các bình

<small>diện cú pháp, loại hình, ngữ nghĩa và ngữ dung. [65] trích theo [2, 2769]: " Phú định</small>

<small>trong ngôn ngữ tự nhiên rất khác và phức tạp hơn nhiều so với phú định lơ-gích và phủ định tốn</small>

<small>học. Trong nhiêu ngơn ngữ, thật là khơng đúng khi cho rằng 2 lần phú định trở thành khẳng định</small>

<small>nhự công thức phú định kép của phú định lơ-gích. Ví dụ tiếng Anh Cockney và Black</small>

English có thể nói là :

<small>(68) -I don't see nothin’ nowhere.</small>

<small>Phu định ngơn ngữ bao gồm phú nhận tính chan thực cua câu bị phú định hoặc một bộ phận của</small>

<small>sâu bằng cách chèn từ phủ định vào câu như sau:</small>

<small>69) - John likes to work --- > - John does not like to work.</small>

<small>(Việc nói rằng John thích lam việc là khơng đúng)</small>

<small>( John đâu có thích làm việc.)</small>

<small>70) - John does not like beer at lunch.</small>

<small>(John khơng thích uống bia vào bữa trưa)</small>

<small>“ân phú định thường được dùng để sửa sai những sự tình mà người nói cho là kiến thức ai cũng</small>

<small>iết hoặc để biểu hiện những sự tình phổ biến nhất được mong đợi trong tình huống nói năng.</small>

<small>“hính vì vậy mà câu phủ định thường khơng được dùng để giới thiệu thông tin mới hoặc su vat</small>

<small>ai". [19, L7] : “ Câu trần thuật phú định dàng để cải chính một ý tưởng sai lam, cho người ta</small>

<small>24</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

<small>biết rằng điêu họ có thể nghĩ tới hoặc mong đợi xdy ra không phải như váy “. Những quan</small>

điểm nghiên cứu trên đã giúp chúng ta thấy được tính phức tạp của việc phân tích

<small>câu phủ định trên bình diện ngữ nghia-ngit dụng, một bình diện mà hình thức và</small>

cấu trúc khơng biểu hiện một cách tường minh nội dung ngữ nghĩa-ngữ dụng và

phải dựa nhiều vào những suy luận nhiều khi rất chủ quan của người nghiên cứu.

<small>Nhằm góp thêm vào bức tranh mn màu muôn vẻ của việc nghiên cứu câu</small>

<small>phủ định, Rubin đã nghiên cứu phủ định ở góc độ giao thoa văn hố. [68, 10-17]</small>

<small>viết : “Để hiểu nghĩa của một hình thức mới khơng phải chỉ cân học biết nó được dùng để phú</small>

<small>định hay bác bỏ mà người nước ngoài cũng cần phải học biết sử dụng hình thức thích hợp khinào và với ai . Việc tiếp thụ năng lực giao tiếp đòi hỏi cả 3 cấp độ kiến thức. Trước hết, ngườihọc từ một nền văn hoá khác phải tìm ra mối quan hệ thích hợp giữa hình thức ngôn ngữ và chứcnăng sử dụng. Tiếp theo người ấy can học biết hành vi ngôn ngữ dy thực hiện ở những điêu kiện</small>

<small>xã hội nào. Cuối cùng người ấy còn phải biết những giá trị xã hội nào nằm ẩn dưới các hành vi</small>

<small>ngơn ngữ dy”.</small>

<small>Trên bình diện thụ đắc ngôn ngữ ( acquisition of language ), những nhà tâm</small>

<small>lý ngôn ngữ học như Hatch, Bellugi va Klima [73] đã xác định 3 giai đoạn trẻ con</small>

<small>thụ đắc câu phủ định trong tiếng Anh :</small>

<small>(1) từ phủ định NOT hoặc NO nằm ngoài câu phủ định và thường đứng đầu câu.</small>

<small>Ví dụ :</small>

<small>(71) - Not go movies ( Không di xem phim ) ;</small>

<small>(72) - No Mommy do it ( Mẹ khơng làm điều đó )</small>

<small>(2) từ phủ định nằm trong câu phủ định, nằm gần động từ chính nhưng khơng dùng</small>

<small>kèm với trợ động từ.</small>

<small>Ví dụ :</small>

<small>(73) -Ino like it (Con khơng thích cái ấy)</small>

<small>(3) từ phủ định dùng kèm với trợ động từ như người lớn thường dùng.</small>

<small>Ví dụ :</small>

<small>(74) - You can’t have it ( Bạn khơng có cái đó )75) - Vm not happy ( Mình khơng hạnh phúc )</small>

<small>25</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<small>[73] cũng nhận thấy trẻ con sử dụng câu phủ định trước hết là để nói về sự khơng</small>

<small>tồn tại ( nonexistence ) của cái gi đó hoặc một người nào đó ( ví dụ : - no cookie(khơng có bánh ngọt )); tiếp theo là phản bác ( rejection ) một điều gì đó ( ví dụ :</small>

no bath ( không tắm)) và cuối cùng là phủ định, không công nhận tính chân that

của một phát biểu ( ví dụ : - that not mine ( cái đó khơng phải của con ) . Như vậy

rõ ràng là sự phát triển về mặt thụ đắc câu phủ định của trẻ con không những bị

<small>những yếu tố ngữ pháp , ngữ nghĩa mà còn bị những yếu tố ngữ dụng ảnh hưởng.</small>

Cách tiếp cận câu phủ định của các nhà tâm lý ngôn ngữ học chắc chắn sẽ giúp cho

chúng ta hiểu được mối liên hệ của việc nghiên cứu câu phủ định về mặt ngôn ngữ

<small>học và việc ứng dụng sự nghiên cứu nhằm giúp người học không bản ngữ ( mà</small>

<small>sự thụ đắc câu phủ định của tiếng mẹ đẻ của họ có thể ảnh hưởng đến sự thụ đắc</small>

<small>câu phủ định của một ngôn ngữ thứ hai ) khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực</small>

<small>của tiếng mẹ đẻ và học sử dụng tốt câu phủ định trong giao tiếp hàng ngày.</small>

<small>Còn những nhà ngữ pháp hiện dai Anh, Mỹ như Close, Quirk, Downing và</small>

Locke,..thì có khuynh hướng dung hồ, vừa mơ tả đặc điểm cấu trúc cú pháp vừanêu ra những đặc điểm ngữ dụng học của câu phủ định thơng qua việc phân tích

<small>tâm phủ định (xét về mặt cú pháp và mặt ngữ nghĩa), vai trò của các từ định lượng</small>

<small>(quantifiers), các từ chỉ mức độ (intensifiers), sự thể hiện ý nghĩa phủ định thông</small>

qua các kiểu câu khác như câu khẳng định, câu nghi vấn, câu cầu khiến. [63,

<small>183-190] : phủ định của câu đơn tiếng Anh được thực hiện bằng cách chèn NOT hoặc</small>

NT vào giữa trợ động từ và vị từ; để phủ định mạnh có thể dùng BY ANY MEANS,

A BIT,...; tim phủ định (scope of negation) bat đầu từ từ phủ định đến cuối câu

<small>hoặc đến bắt đầu một trạng ngữ cuối cùng (chủ ngữ và trạng ngữ đầu câu thường</small>

nằm ngồi tâm phủ định, trợ động từ đơi khi nằm ngồi đơi khi nằm trong tầm);

<small>agit điệu va trong âm đối lập (contrastive stress) cũng đóng vai trị quan trong trong</small>

việc xác định tâm phủ định và tiêu điểm phủ định (focus); có những câu hỏi phủ

lịnh tiềm ẩn nghĩa khẳng định...

<small>26</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

Nói chung về lĩnh vực lý luận các nhà ngôn ngữ với nhiều quan điểm khác

nhau đã cố gắng lý giải câu phủ định một cách khoa học hơn, tránh những ảnh

hưởng của quan điểm lơ-gích hình thức. Tuy nhiên khi phân tích câu phủ định trên

bình diện ngữ nghĩa-ngữ dụng vẫn khơng tránh khỏi những tư biện do viện dẫn các

kiến thức ngồi ngơn ngữ như tiền giả định, ngữ cảnh, tình huống, giá trị xã hội khi

<small>sử dụng các hành vi ngôn ngữ, thái độ và tâm lý chủ quan của người nói và người</small>

viết, những nhận thức khác nhau hoặc giống nhau về cùng một vấn đề qua một số

khái niệm và thuật ngữ mới liên quan đến các loại câu phủ định mà có thể gây hiểu

nhầm đối với người nghiên cứu. Nếu mục đích nghiên cứu nhằm giúp thêm cho

người học ngoại ngữ thì chúng tơi thiết nghĩ có thể tiếp cận một số lý giải của các

nhà ngữ pháp hiện đại mà quan điểm vừa tiếp thu có chọn lọc các lý luận khác

nhau lại vừa có tính thực tiễn.

Về lĩnh vực nghiên cứu đặc điểm loại hình của câu phủ định, ngồi tác phẩm

tiêu biểu của Jespersen (1917) so sánh tiếng Anh và các thứ tiếng Ấn Âu, chỉ có

<small>một số ít nghiên cứu khác như : Dahl (1979) đã phân tích thống kê cách diễn đạtcâu phủ định thành phần chính trên cơ sở 240 ngơn ngữ. Payne (1985) trình bày</small>

<small>khái qt về những hình thức khác nhau khi diễn đạt sự phủ định ở các ngơn ngữ</small>

<small>khác nhau. Dryer (1989) nghiên cứu vị trí của yếu tố phủ định động từ đối với các</small>

thành phần cú pháp chính trong câu như động từ, chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp, gián

<small>tiếp. Croft (1991) thì phân tích q trình những yếu tố phủ định trong ngơn ngữ</small>

xuất hiện phát triển từ phủ định động từ đến phủ định câu tồn tại. Bernini và Ramat

<small>(1992) thì giới thiệu chi tiết những góc độ khác nhau của các câu phủ định trong</small>

ngôn ngữ châu Âu. Kahrel và Berg (1994) nghiên cứu những đặc trưng ngữ nghĩa,

<small>cú pháp, và ngữ dụng của câu phủ định dựa trên phân tích loại hình cú pháp của 16</small>

ngơn ngữ châu Âu và châu Á (khơng có tiếng Việt).

1.4.2. Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam về câu phú định : Câu

<small>phủ định cũng được các nhà ngữ pháp và ngôn ngữ học Việt Nam nghiên cứu từ</small>

nhiều quan điểm khác nhau nhưng tựu trung là quan điểm ngữ pháp truyền thống

<small>27</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

hoặc cấu trúc có kết hợp với cách lý giải lơ-gích học của Trần Trọng Kim (1939),Lê văn Lý (1948), Bùi Đức Tịnh (1953), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê(1963), Thompson (1984); quan điểm cú pháp-ngữ nghĩa của Nguyễn Kim Thản

(1964, 1972), Mẹo tiếng Việt (1978), Đái Xuân Ninh (1978), Hòang Trọng Phiến

(1980), Ngữ pháp tiếng Việt (1983), Diệp Quang Ban (1984, 1989, 1992, 1998),

Nguyễn Minh Thuyết (1994); quan điểm lơ-gích-ngữ nghĩa của Nguyễn Đức Dân

(1977, 1983, 1985), Hoàng Phê (1989) và gần đây là quan điểm ngữ pháp chức

năng, ngữ dụng học, lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Nguyễn Đức Dân (1987,

1996), Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng và Bùi Tất Tươm

<small>(1991, 1998).</small>

<small>[98, mục 50] viết : "Cau phú định là một câu có một tiếng phủ định trạng từ , như</small>

KHONG , CHANG , CHO , DUNG , CHUA ... đặt trước tiếng động từ hay tiếng tinh từ ". (121,

<small>153]. [122, 377]: "Ta dùng câu phú định phi nhận một điều gì hay một việc xdy ra. Thường</small>

<small>câu phú định là những cau có trạng từ (phó từ) phú định hạn định một động từ, một trạng từ</small>

<small>(phó từ) , một tinh từ hay cả mệnh dé".</small>

<small>[117, 597]: “ Câu phú định phú nhận những đặc trưng : hành động, trang thái, tinh</small>

<small>chất , chẳng lọai của đối tượng “. (84, 242]:“Cau phú định là câu xác nhận sự vắng mặt của sựvat , hiện tượng hay sự kiện , sự vắng mặt của đối tượng hay của đặc trưng đối tượng trong hiện</small>

<small>thực hoặc trong tưởng tượng bằng những phương tiện hình thức xác định".</small>

<small>[91, 238] : "Các phán đoán phi định cũng được dùng để miêu ta , biểu hiện một hiệnthực của thế giới khách quan, đó là sự biểu hiện các thuộc tính âm của sự vat." [92, 376] :</small>

<small>“Cau phú định thường được chia thành hai loại chính căn cứ vào vị trí của từ phú định đặt trong</small>

<small>sâu : (a) câu phi định toàn bộ , từ phủ định được đặt trước vị ngữ để phủ định thành phần chính</small>

<small>cua câu, (b) câu phú định bộ phận, từ phú định được đặt trước các thành phần thứ yếu của</small>

<small>sáu". Dựa vào ý nghĩa phủ định, [89] phân các câu phủ định thành 2 loại : (a) cau</small>

<small>hu định miêu tả thực hiện hành vi khẳng định một thuộc tính khơng A của sự vật và (b) câushu định bác bỏ , cho rằng ý kiến của người tham gia giao tiếp khẳng định , trực tiếp hoặc gián</small>

<small>iép , về một thuộc tính A của sự vật là khơng đúng và người nói bác bỏ ý kiến đó `.</small>

<small>28</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<small>[96] còn phân biệt : ” (1) Phú định tổng quát là một nhận định phú nhận sự tơn tại</small>

‘tia mọi sự vật hay mọi hồn cảnh lam Đề hay làm Tham tố cho một sự tình được biểu đạt trong

<small>›âu hữu quan. Khi Đề của câu là đối tượng của sự phủ định tổng quát, câu sẽ có hình thức của</small>

<small>nột câu ton tại phú định. Các tác tử phú định gồm có những vi từ tình thái van thường dùng cho</small>

âu phú định là KHONG , CHANG, hay CHUA kèm theo vi từ tôn tai CO và một trong các dai

từ bất dinh-nghi vấn như Gi (CHI ), AI, NAO, DAU, BAO, SAO, MAY, và các ngữ đoạn được

<small>-du tạo từ các từ ấy. Khi đối tượng của sự phủ định tổng quát là một bộ phận của phan Thuyết</small>

'bổ ngữ của vị từ trung tâm chẳng hạn), câu sẽ có hình thức của một câu phú định bình thường

‘khong có vị từ tơn tại CĨ). Câu phủ định tổng quát có thể có dạng thức "trần thuật" hay dạng

thức "nghỉ vấn khơng chính danh" đánh dấu bằng tiểu tố tình thái cuối câu DAU hay qn ngữ

shúi định đầu câu LAM GÌ.

<small>Ví đụ :</small>

<small>Z6) a. Khơng có gì nguy hiểm lắm. a’. Có gì nguy hiểm lắm đâu 2</small>

<small>b. Chả có ai đến cả. b’. Có ai đến đâu ?</small>

<small>Chưa có ai đến cả. Làm gì đã có ai đến ?</small>

<small>c. Nó khơng bao giờ sai hẹn. cˆ Nó có bao giờ sai hẹn đâu ?</small>

<small>2) Phú nhận tính tổng quát của một nhận định là một hành động ngôn từ (hành vỉ ngôn ngữ)</small>

6 tính siêu ngơn ngữ được biểu đạt 1) bằng một hợp vi từ tình thái KHƠNG! CHANG PHAI

<small>LA) , đặt trước một câu nhận định tổng quát, hay đặt ngay trước ngữ đoạn cần phi định trực</small>

<small>iép trong câu ấy - có thể có tiểu tố DAU ở cuối câu (dạng thức "trân thuật"); hoặc. 2) bằng tổ</small>

tgp tình thái CÓ PHẢI ( LA ) đặt trước cho câu nhận định tổng qt có tiểu tố tình thái ĐÂI mở

<small>lâu hay kết thúc tồn câu (dạng thức “nghỉ vấn khơng chính danh").</small>

<small>/Zí dụ :</small>

<small>77) a.Khơng phải cái gì nó cũng biết. a’. Có phải cái gì nó cũng biết đâu ?</small>

<small>b.Chẳng phải ai cũng quý nó (đâu). bˆ.Đáu có phái (là) ai cũng quý nó 2</small>

<small>{ói chung, việc nghiên cứu câu phủ định trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng chỉ</small>

<small>ip trung nhiều ở cách tiếp cận ngữ pháp hoặc cú pháp-ngữ nghĩa qua các giáo trình</small>

<small>git pháp tiếng Anh và tiếng Việt của các nhà ngữ pháp học Anh, Mỹ và Việt Nam.</small>

<small>29</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

Còn cách tiếp cận theo quan điểm lơ-gích-ngữ nghĩa , ngữ dụng học hoặc giao thoa

văn hoá mặc dù rất phong phú nhưng vẫn cịn mới mẻ và cịn nhiều vấn đề có liên

quan đến ngữ nghĩa-ngữ dụng, nhất là hệ thống thuật ngữ mới, chưa được hiểu mộtcách thống nhất. Tuy nhiên với cách tiếp cận theo quan điểm ngữ pháp, hoặc cú

pháp-ngữ nghĩa, các nhà nghiên cứu đã xác định được các lớp nghĩa của câu phủ

<small>định và quan trọng là đã xác định được một danh mục các phương thức và phương</small>

tiện biểu hiện ý nghĩa phủ định ( mặc dù một số phương tiện như cấu trúc mệnhlệnh phủ định có dùng cùng hình thức trợ động từ phủ định DONTT trước động từ

nguyên mẫu (trong tiếng Anh) hoặc vị từ mang nghĩa cấm đốn ĐỪNG, CHĨ,

(trong tiếng Việt) thực sự không biểu hiện ý nghĩa phủ định mà là ý nghĩa cấm

Trên đây chúng tôi đã điểm qua việc nghiên cứu câu phủ định xét về mặtngôn ngữ học. Những phân tích câu phủ định từ nhiều quan điểm khác nhau ở

ngoài nước và trong nước cho thấy rằng sự phủ định là một trong những vấn đề

quan trọng nhất của ngôn ngữ học đại cương, biểu hiện mối quan hệ giữa nội dung

<small>và hình thức giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ý nghĩa. Tuy nhiên do mục đích</small>

<small>nghiên cứu của luận án là phân tích đối chiếu câu phủ định trên bình diện cấu </small>

<small>trúc-ngữ nghĩa nên luận án sẽ không đi sâu các mặt lơgích tình thái, lơ-gích-trúc-ngữ nghĩa,</small>

<small>ngữ nghĩa thuần t hoặc ngữ dụng học của câu phủ định.</small>

<small>1.5. Khái niệm “cấu trúc ngữ nghĩa” và"cấu trúc-ngữ nghia"cua câu : Do phạm vi</small>

<small>nghiên cứu của đề tài là cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định nên chúng tôi dành</small>

<small>phần tiếp theo của chương này để điểm qua một số quan điểm về hai khái niệm :</small>

<small>cấu trúc ngữ nghĩa của câu và cấu trúc-ngữ nghĩa của câu trước khi di sâu vào</small>

ohn tích tổng hợp các đặc trưng về cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định tiếng Anh

<small>va tiếng Việt trong chương 2.</small>

<small>I.5.].Khái niệm "cấu trúc ngữ nghĩa của câu" được các nhà ngơn ngữ học nước\gồi và trong nước thuộc các trường phái ngôn ngữ khác nhau trong từng giai</small>

<small>30</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

đoạn phát triển quan niệm khác nhau và có nhiều ý kiến bổ sung nhau làm thành

một bức tranh đây đủ về những thành tố tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu.

Các nhà ngữ nghĩa học truyền thống cho rằng cấu trúc ngữ nghĩa của câu dựa

trên sự phân tích tổng số nghĩa của các từ và các thành tố khác tạo nên câu hay nói

<small>cách khác “nội dung của bình diện nghĩa của câu ( và của ngôn ngữ ) là cái phần phản ánh (</small>

<small>biểu hiện , miêu tả ) những cái mang cua thế giới hiện thực ( hay một thế giới nào khác ở bên</small>

<small>ngồi ngơn ngữ" [94, 41]. Bloomfield cũng đã quan niệm cấu trúc ngữ nghĩa của câu</small>

<small>là gồm những gì quan trọng mà câu nói ấy liên hệ đến, tức là những sự kiện, những</small>

sự cố thực tế. Còn một số nhà ngữ pháp cấu trúc Anh, Mỹ như Francis,

<small>Fries,...trong khi nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Anh đã xác định cấu trúc ngữ nghĩa</small>

<small>của câu được biểu hiện qua (1) nghĩa ngôn ngữ hoc bao gồm (a) nghĩa từ vựng (lexical</small>

<small>meaning ) của các từ trong câu và (b) nghĩa cấm trúc ( structural meaning ) rất cơ bảnvà rất cần thiết trong một phát ngôn (utterance ) dựa trên các mối quan hệ cú pháp</small>

<small>giữa các từ trong câu [23, 56] và (2) nghĩa văn hóa-xã hội (socio-cultural meaning ) [24].</small>

<small>Các nhà ngữ pháp cải biến - tạo sinh và ngữ nghĩa tạo sinh như Chomsky ,</small>

<small>Katz & Fodor , Katz & Postal , Lakoff , McCawley, Fillmore (1957 - 1970) cũng</small>

đã có những quan điểm tương đồng va bổ sung nhau khi ban về cấu trúc ngữ nghĩa

<small>của câu . Theo Chomsky thì ngữ pháp tạo sinh được phân tích dựa trên ba bộ phận</small>

<small>chính là bộ phận âm vị , bộ phận cú pháp và bộ phận ngữ nghĩa . Bộ phận ngữ</small>

<small>nghĩa quyết định việc giải thích ngữ nghĩa của câu tức là nó gắn một cấu trúc được</small>

<small>tạo sinh bởi bộ phận cú pháp với một sự giải thích ngữ nghĩa nào đó . Bộ phận cú</small>

<small>pháp phải xác định được cho mỗi câu một cấu trúc bề sâu nhằm giải thích nghĩa</small>

<small>sủa câu và một cấu trúc bề mặt nhằm biểu hiện đặc trưng âm vị của câu. Cấu trúc5ề sâu được giải thích bằng bộ phận ngữ nghĩa ; cấu trúc bề mặt được giải thích</small>

›ằng bộ phận âm vi [6, 16] . [7, 185] : bổ sung : “Sw giải thích ngữ nghĩa của một câu

<small>lược quy định bởi nội dung ngữ nghĩa bên trong của những yếu tố từ vựng và bởi cáchhức những yếu tố này kết hợp với nhau ở cấp độ cấu trúc bề sdu . Cấu trúc bề sâu quyết</small>

<small>lịnh sự biểu hiện ngữ nghĩa ( semantic representation ) qua những quy tắc giải thích ngữ</small>

<small>31</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

[44, 39] cho rằng “Nghĩa của câu bao hàm không những nghĩa của các yếu tố từ

<small>vựng mà còn cả nghĩa của những quan hệ cú pháp giữa các yếu tế dé“. [47] đã định</small>

nghĩa: “Sự biểu hiện ngit nghĩa (Semantic representation - SR ) của một câu là :

<small>PL là cấu trúc bề mặt ; PR ( presupposition ) là tiền giả định ; Top (Topic) là phần dé</small>

của câu ; F ( Focus ) là tiêu điển của câu . Ngịai ra có thể có những yếu tế khác của

<small>sự biểu hiện ngữ nghĩa cua câu can được giải thích “. [20] đã đưa ra một lý</small>

thuyết ngữ pháp ngữ nghĩa gọi là “ Ngữ pháp cách “ và giải thích như sau: “Cấu trúc

<small>ngữ nghĩa của một câu gdm có hai phần : phan Modality (Tình thái) nói lên tính tinh thal</small>

<small>của câu và phần Proposition (Mệnh dé) là bộ xương lơ-gích cua câu, là ý nghĩa cơ bản</small>

<small>của câu nằm ngịai ý nghĩa tình thal . Trong câu có những nét nghĩa ( những “ cách bề</small>

sâu “ (deep cases ) ) là don vị ngữ nghĩa do vị ngữ ( thể hiện qua động từ ) chế định.

<small>Những cách bề sâu này được xếp vào vị trí những tham tố ( arguments ) sau động từ “</small>

<small>[20] trong [66, 365-366]. [85, 122-126] cho rằng: “ Bat kỳ một câu nào cũng được cấutạo xung quanh yếu tố vị ngữ tính. Cấu trúc ngữ nghĩa của câu được thể hiện bởi vị từ</small>

<small>(tương ứng với động từ) và tham tố (biểu từ) (tương ứng với danh từ). Vị từ - động từ biểuthi các trạng thái (tình trạng, chất lượng ) và sự kiện . Tham tố (biểu từ) - danh từ bao</small>

<small>gồm các sự vat . Trung tâm của cấu trúc ngữ nghĩa là vị từ-động từ chế định ngữ nghĩa</small>

<small>các tham tố (biểu từ) đi kèm với nó và tạo nên ngữ nghĩa của câu”.</small>

<small>Nhằm khắc phục những cách nhìn phiến diện và chủ yếu phân tích trên nghĩa</small>

biểu hiện (representation-Halliday) của câu , các nhà ngôn ngữ học và ngữ pháp

<small>học chức năng như Halliday, Dik, Downing và Locke , Thompson , Berry, Danes,</small>

<small>Givon đã có nhiều quan điểm khác nhau khi phân tích các tang nghĩa của câu. [29,</small>

<small>52] phân tích cụ thể như sau :</small>

<small>“Câu là sản phẩm của ba quá trình biểu nghĩa diễn ra đồng thời . Nó vừa là một</small>

<small>st biểu hiện của kinh nghiệm ( a representation of experience ) vừa là một sự trao đổi có</small>

<small>‘inh chất tương tác ( an interactive exchange ) vừa là một thông điệp (a message).</small>

<small>Tuy nhiên ở đây chúng tôi phải đưa thêm những khái niệm chức năng khái quát</small>

<small>trơn để liên hệ ba mặt này của bình diện nghĩa của câu với chúng. Đó là ba thứ nghĩa</small>

<small>ae</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

được thể hiện trong ngôn ngữ con người thành một toàn thể làm thành cái cơ sở cho cáchtổ chức nghĩa cua tất cả các ngôn ngữ tự nhiên Chúng tôi sẽ viện dan chúng như những

<small>“siêu chức năng” (metafunctions) va dùng cho chúng các thuật ngữ chức năng QUAN</small>

NIỆM (IDEATIONAL), chức năng LIÊN NHÂN (INTERPERSONAL) và chức năng VĂNBẢN (TEXTUAL).

<small>Nghĩa quan niệm (ideational meaning) là sự biểu hiện của kinh nghiệm : kinhnghiệm của ta về thế giới có quan hệ đến ta và cả ở trong ta nữa, về cái thế giới tưởng</small>

tượng của ta. Đó là nghĩa hiểu như là “nội dung”. Chức năng quan niệm của cau là sự

<small>biểu hiện của những cái mà trong nghĩa bao qt nhất chúng tơi có thể gọi là quá trình</small>

<small>(processes): những hành động, những biến cố, những quá trình nhận thức và những mối</small>

<small>quan hệ.</small>

<small>Nghĩa liên nhân (interpersonal meaning) là thứ nghĩa với tu cách một hình thức</small>

<small>của một sự hành động : người nói hay người viết dùng ngôn ngữ để làm một cái gì đó đối</small>

<small>với người nghe hay người đọc. Chức năng liên nhân của câu là sự thay đổi các vai trị</small>

<small>trong những cách tác động lan nhau bằng ngơn từ : những sự trình bày, những sự hỏi,</small>

<small>những sự đề nghị và ra những mệnh lệnh, cùng với những tình thái kèm theo.</small>

<small>Nghĩa văn ban (textual meaning) là tính thích hợp (relevance) đối với ngữ cảnh(context) vừa là phan văn ban đi trước (và di sau) vừa là ngữ cảnh cua tình huống. Chứcnang văn bản cua câu là xây dung một thông điệp (a message).</small>

<small>Cấu trúc Đề -Thuyết ( Theme-Rheme ) là hình thức cơ bản của việc tổ chức câu</small>

<small>nhu một thông điệp. Trong thông điệp này, Dé là cái mà người nói chọn làm điểm xuất</small>

<small>2hát, là phương tiện khai triển câu. Nhung trong thành phan cấu tạo tổng hợp của Đề,</small>

<small>thing yếu tố của cả ba chức năng đêu có thể góp phân. Thành tố quan niệm ln ln có</small>

<small>nặt trong Đề. Nhưng chức năng liên nhân hoặc! và chức năng văn bản có thể có mặtthưng không cần thiết phải như thé’</small>

<small>Các nhà ngữ pháp chức năng Việt Nam như [95, 103] cũng quan niệm :</small>

<small>‘Nghia cua câu không đơn giản là một phép cộng nghĩa của các từ ngữ trong câu. Nghĩa</small>

<small>ua câu là một cấu trúc có nhiều tang. Các tang nghĩa trong câu phối hợp với nhau taoa cái nghĩa hành chức của câu”. Các tầng nghĩa đó bao gồm cấu trúc biểu hiện được</small>

<small>33</small>

</div>

×