Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Báo cáo tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (664.66 KB, 71 trang )








Báo cáo tốt nghiệp


Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại cổ phần An Bình


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 7
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh 7
1.1.1.2 Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc thù
trong cạnh tranh của ngân hàng thương mại 8
1.1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 9
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng
thương mại 10
1.1.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của các ngân
hàng thương mại 10
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân


hàng thương mại 15
1.1.3. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại 19
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH (ABBANK) 21
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH. 21
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 21
2.1.2 Quá trình phát triển của ngân hàng An Bình 21
2.1.3 Mô hình, cơ cấu tổ chức của abbank. 23
2.1.3.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của abbank trong những
năm gần đây (2006 – 2009) 26
2.1.3.2 Tăng trưởng nguồn vốn 27
2.2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG TMCP AN BÌNH (ABBANK) 36


2.2.1 Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 36
2.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP
ABBANK 37
2.2.2.1 Thực trạng năng lực tài chính của ABBank. 37
2.2.2.2 Năng lực công nghệ thông tin 42
2.2.2.3 Chất lượng nguồn nhân lực 42
2.2.2.4 Về quản trị điều hành 43
2.2.2.5 Tính đa dạng và chất lượng của sản phẩm 43
2.2.2.6 Mô hình quản lý và hệ thống mạng lưới 44
2.2.2.7 Các yếu tố khác 44
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ABBANK 51
3.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG ĐÉN KINH DOANH

NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 51
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ABBANK 52
3.2.1 Phương hướng hoạt động của abbank 52
3.2.2 Định hướng phát triển của abbank và tầm nhìn đến năm 2020 53
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH
(ABBANK) 54
3.3.1 Tăng cường sức mạnh tài chính của Ngân hàng TMCP abbank 54
3.3.2 Phòng ngừa rủi ro 55
3.3.3 Nâng cao công tác quản lý tài sản Nợ - tài sản Có 57
3.3.4 Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ 58
3.3.5 Nâng cao chất lượng của các dịch vụ Ngân hàng 59
3.3.6 Tiếp tục công cuộc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 60
3.3.7 Phát triển mạng lưới phân phối hiệu quả, hợp lý 61
3.3.8 Tiếp tục củng cố, phát huy sức mạnh nguồn nhân lực 61
3.3.9 Nâng cao năng lực quản trị điều hành 62


3.3.10 Xây dựng chiến lược Marketing và tăng cường công tác chăm
sóc khách hàng 63
3.3.11 Xây dựng thương hiệu ngân hàng TMCP An Bình trong
tiến trình hội nhập 64
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 65
3.4.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và các bộ ngành có liên quan 66
3.4.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 67
KẾT LUẬN 70























DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh
NHTMNNg Ngân hàng thương mại nước ngoài
NHLD Ngân hàng liên doanh
TCTD Tổ chức tín dụng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
CSH Chủ sở hữu

WTO Tổ chức thương mại thế giới
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AFTA Khu mậu dịch tự do Đông Nam Á
EU Liên minh Châu Âu
CSTT CSTT
CSTK Chính sách tài khóa















LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và trở
thành một xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính là việc ra
đời của các liên kết khu vực và quốc tế như ASEAN, EU, WTO Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu thế đó, với việc gia nhập hiệp hội ASEAN, ký kết hiệp định
thương mại song phương với Hoa Kỳ, và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
WTO đã đánh dấu quá trình hội nhập của Việt Nam vào kinh tế thế giới.
Việc chính thức là thành viên của WTO đem lại cho Việt Nam những cơ hội

và cũng đặt ra nhiều thách thức. Chính điều này đã yêu cầu phải có định hướng phát
triển bền vững. Một nhân tố quan trọng góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế
cần phải kể đến sự phát triển của các ngân hàng thương mại.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO ngân hàng là một trong những lĩnh vực
được mở cửa mạnh nhất. Thách thức lớn nhất đặt ra đối với ngành ngân hàng là
phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt, đặc biệt là sự tham
gia của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường trong nước thì sự cạnh tranh này
quyết liệt hơn. Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ
thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh mẽ để trở thành hệ
thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao, hoạt động an
toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư nhu
cầu của phát triển đất nước.
Trong thời gian thực tập vừa qua tại Ngân hàng thương mại cổ phần An
Bính – Chi nhánh Hà Nội, nhận thấy rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với
ngân hàng là hết sức cần thiết để có thể phát triển bền vững trong xu thế hội nhập.
Vì vậy, để tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ
phần An Bình ” được lựa chọn để nghiên cứu với phạm vi nghiên cứu là hoạt động
cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội
trong giai đoạn 2006 – 2009 .
Bài viết gồm có 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại
Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
cổ phần An Bình (AABANK)


Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại cổ phần An Bình (AABANK)





Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khái niệm cạnh
tranh đã xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất, trao đổi hàng
hóa và phát triển kinh tế thị trường.
Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cạnh tranh như:
Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là: “Sự ganh đua,
kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại
tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
Theo Karl Marx cạnh tranh được hiểu như sau: “Cạnh tranh có nghĩa là sự
đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá
trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định”.
Theo những quan điểm này thì cạnh tranh được hiểu là các mối quan hệ kinh
tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế
của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như
các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mỗi chủ thể kinh tế buộc phải chấp
nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế
so với các đối thủ. Cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh


doanh, phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là nhân tố
quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
Có nhiều cách phân loại cạnh tranh. Theo cấp độ nghiên cứu thì cạnh tranh

được chia làm 3 loại hình sau:
 Cạnh tranh ở cấp độ quốc gia hay nền kinh tế.
 Cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp.
 Cạnh tranh ở cấp độ ngành hay sản phẩm dịch vụ.
Vậy cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có
chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành
phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này
có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…
1.1.1.2 Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc thù trong cạnh tranh
của ngân hàng thương mại
Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là
một doanh nghiệp đặc biệt, NHTM cũng tồn tại vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm, dịch vụ có
chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chi phí cạnh tranh
nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác, độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu
hút khách hàng, mở rộng thị phần để đạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng.
Do vậy, cạnh tranh trong NHTM cũng là sự ganh đua, giành giật khách hàng dựa
trên tất cả những khả năng mà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng về việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có đặc trưng
riêng của mình so với các NHTM khác trên thị trường.
Tuy nhiên so với các loại hình kinh tế khác, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân
hàng có những đặc thù riêng:
Một là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh,
tránh xảy ra rủi ro hệ thống. Do kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là một lĩnh vực kinh
doanh rất nhạy cảm, chịu tác động của rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm


lý, truyền thống văn hóa… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều
tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung.
Hai là, các NHTM trong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn để dành giật

thị phần, nhưng cũng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành
mạnh để tránh rủi ro hệ thống. Do hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan
đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, từng cá nhân thông qua hoạt động huy
động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng
thời trong hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng cũng thường mở tài khoản
cho nhau để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của NHTW của mỗi quốc gia hoặc của khu vực. Hoạt động của các
NHTM có liên quan tới rất nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế nên để tránh
nguy cơ xảy ra rủi ro hệ thống, NHTW đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này
và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro. Vì vậy, sự cạnh tranh trong
hệ thống các NHTM không thể dẫn đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các
loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế.
Bốn là, sự cạnh tranh của các NHTM là loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi
những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác. Điều đó là do
hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ phạm vi
trong một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh
tế đối ngoại; vì thế, hoạt động kinh doanh trong hệ thống NHTM chịu sự chi phối
của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh
doanh của các nước, các thông lệ quốc tế… đặc biệt là chịu sự chi phối mạnh mẽ
của điều kiện cơ sở hạ tầng, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan
trọng.
1.1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, nhưng đến nay
vẫn còn rất nhiều các quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Một cách chung
nhất, theo từ điển thuật ngữ kinh tế học thì “năng lực cạnh tranh là khả năng giành


được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành
lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”.

NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt do đó năng lực cạnh tranh của NHTM
có nhiều điểm giống với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, năng lực
cạnh tranh của NHTM có thể được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh của
NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm
duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của
ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có
khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh
doanh” (PGS.TS. Nguyễn Thị Quy – Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu
thế hội nhập).
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại và
các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Để có một cái nhìn đầy đủ và bản chất về hệ thống NHTM chúng ta không thể
tách rời hoạt động của NHTM ra khỏi hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính cũng
không thể không phân tích những yếu tố trong môi trường quốc gia về cầu, về các yếu tố
sản xuất, về các ngành liên quan và phụ trợ và tác động của các yếu tố đó đến hoạt động
cũng như năng lực tài chính của NTHM. Như vậy, hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực
cạnh tranh của hệ thống ngân hàng của một quốc gia bao gồm hai bộ phận: các chỉ tiêu
đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các NHTM trên giác độ vi mô và các chỉ tiêu
đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân
hàng
1.1.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương
mại
*Các chỉ tiêu định lượng phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
 Quy mô vốn chủ sở hữu và mức độ an toàn vốn
Quy mô vốn chủ sở hữu: về mặt lý thuyết, vốn điều lệ và vốn tự có đang
đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân


hàng tạo được uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng. Quy mô vốn

chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng
đó.
Mức độ an toàn vốn: ngân hàng có quy mô vốn CSH lớn hơn sẽ được coi là có
ưu thế hơn, tuy nhiên thực tế cho thấy quy mô vốn CSH lớn không có nghĩa là có
mức độ an toàn vốn cao. Để đánh giá độ an toàn vốn của NHTM người ta sử dụng hệ
số CAR (hệ số an toàn vốn). Hệ số CAR chính là tỷ lệ giữa vốn CSH trên tổng tài sản
có rủi ro chuyển đổi (theo Ủy ban giám sát tín dụng Basel). Theo tiêu chuẩn quốc tế
thì CAR tối thiểu phải đạt 8%. Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của
ngân hàng càng mạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng
càng lớn.
 Quy mô và khả năng huy động vốn
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng. Khả năng huy động vốn tốt tức là ngân hàng
đó sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút
được khách hàng. Khả năng huy động vốn của ngân hàng thường được thể hiện qua
các chỉ tiêu sau:
- Quy mô tổng nguồn vốn huy động;
- Tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động;
- Tổng nguồn vốn huy động/ Tổng nguồn vốn;
 Chất lượng tài sản có
Tài sản có của ngân hàng là phần nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì
khả năng thanh toán của ngân hàng đó. Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu hợp nhất
phản ánh khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý
của một ngân hàng. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu và cũng là yếu tố phức tạp
nhất trong phân tích hoạt động ngân hàng. Chất lượng tài sản có được thể hiện
thông qua các chỉ tiêu như:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng;
- Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng tài sản;



- Tổng dư nợ/ Nguồn vốn huy động;
- Khả năng thu hồi các khoản nợ xấu;
 Mức sinh lời
Mức sinh lời không những phản ánh kết quả tình hình hoạt động kinh doanh
của NHTM mà còn phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của NHTM.
+ ROE (Reture on equity – thu nhập ròng trên vốn CSH)
Thu nhập sau thuế
ROE = x 100 (%)
Vốn chủ sở hữu
ROE là tỷ số phản ánh mức độ sinh lời cho chủ sở hữu từ một đồng vốn họ bỏ
ra, đo lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông đền bù cho việc chấp nhận rủi ro và đầu tư
vào ngân hàng. Vì vậy, ROE luôn được các chủ ngân hàng và các nhà quản lý quan
tâm. ROE cao sẽ thu hút được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư, để tỷ lệ ROE cao ngân
hàng cần thông qua nhiều biện pháp như kiểm soát rủi ro hiệu quả, hạn chế khoản vay
xấu,…
Tuy nhiên nếu ROE cao nhưng ROA thấp thì lại là một dấu hiệu không tốt.
Vì như vậy chứng tỏ vốn CSH của ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng
nguồn vốn. Tức là tỷ lệ vốn CSH trên tổng nguồn vốn nhỏ, dẫn đến nguy cơ rủi ro
vỡ nợ cao. Tỷ số ROE của các NHTM ở các nước luôn lớn hơn 15%.
+ ROA (Ruture on asset – Thu nhập ròng trên tổng tài sản)
Thu nhập sau thuế
ROA = x 100(%)
Tổng tài sản
Tỷ số ROA phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. ROA là một thông
số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý của ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển
tài sản thành thu nhập ròng. Tỷ lệ ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh tốt, ngân
hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, sinh lời và linh hoạt.
+ NIM (Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên)
Thu từ cho vay và đầu tư – Chi phí trả lãi cho tiền gửi
NIM =

Tổng tài sản (hoặc tài sản sinh lời)


Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu lãi từ tài sản
sinh lời và chi lãi cho nguồn vốn huy động của ngân hàng thông qua việc kiểm soát
chặt chẽ tài sản sinh lời và nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Đây là thước đo tính
hiệu quả cũng như khả năng sinh lời, chúng cho thấy được năng lực của ngân hàng
trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí.
+ Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên
Tỷ lệ thu nhập ngoài Thu ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi
lãi cận biên =
Tổng tài sản
Tỷ lệ thu ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài
lãi (gồm chủ yếu là thu từ phí dịch vụ) và chi phí ngoài lãi (gồm chi phí trả lương,
chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng). Mặc dù thu từ phí
dịch vụ tăng rất nhanh trong thời gian gần đây nhưng các chi phí ngoài lãi thường
lớn hơn, do vậy mà tỷ lệ này ở các ngân hàng thường âm.
* Các chỉ tiêu định tính phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
Các chỉ tiêu định tính thường được dùng để phản ánh năng lực cạnh tranh
của NHTM là: năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực quản lý, mạng lưới
kênh phân phối, mức độ đa dạng hóa và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ,
nguồn nhân lực, danh tiếng và khả năng hợp tác.
 Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
Để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của
khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng. Công nghệ góp phần tạo nên
những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, công nghệ là yếu tố tạo nên sự
khác biệt trong kinh doanh giữa các NHTM. Công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân
hàng bao gồm: hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, hệ thống máy
rút tiền tự động (ATM), hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro Vì vậy,

khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh
năng lực công nghệ của một ngân hàng.



Năng lực quản lý, điều hành
Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của hội đồng quản trị cũng như
ban giám đốc của ngân hàng. Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh
đạo trong ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn
trong hoạt động ngân hàng. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân
hàng có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn. Một số tiêu chí thể hiện
năng lực quản trị của ngân hàng là:
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing (xây dựng
thương hiệu, uy tín); phân khúc thị trường; phát triển sản phẩm dịch vụ.
- Cơ cấu tổ chức và khả năng ứng dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả.
- Sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.


Mạng lưới kênh phân phối
Mạng lưới kênh phân phối thể hiện khả năng cung ứng các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng đến với khách hàng. Mạng lưới kênh phân phối của NHTM thể hiện ở số
lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc và sự phân bố của các chi nhánh của
ngân hàng theo lãnh thổ địa lý.
● Mức độ đa dạng hóa và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ
Mức độ đa dạng hóa của các sản phẩm dịch vụ là số lượng các sản phẩm mà
ngân hàng hiện đang cung cấp trên thị trường. Hiện nay, xã hội phát triển ở trình độ
cao thì nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng ngày càng được xã hội đòi hỏi cao hơn, đặc
biệt là các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại. Một ngân hàng sẽ có lợi thế cạnh
tranh hơn khi loại hình dịch vụ cung cấp đa dạng, phù hợp với nhu cầu của thị trường
thể hiện ở tính độc đáo và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ.



Nguồn nhân lực
Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách
hàng những cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời
tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Đó chính là những đòi hỏi quan
trọng đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần
cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.


 Danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác
Tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định đến sự sống còn đến
hoạt động của NHTM với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của người tiêu dùng
mang lại. Vì thế, danh tiếng và uy tín của NHTM là yếu tố nội lực vô cùng to
lớn, nó quyết định sự thành công hay thất bại cho ngân hàng đó trên thương
trường. Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ
thuộc rất nhiều vào uy tín của NHTM.
Ngoài danh tiếng và uy tín của mình, các NHTM còn phải thể hiện được sự
liên kết lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của mình, sự kiện một NHTM hợp
tác với một TCTD có uy tín và danh tiếng khác trên thương trường, hoặc sự hợp
tác chiến lược giữa các ngân hàng hay tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tế lớn nào
cũng góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của NHTM đó trên thương trường.
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
* Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
 Những nhân tố thuộc môi trường kinh tế
Ngành ngân hàng là một ngành luôn đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như: nội lực của nền kinh tế quốc gia được thể hiện qua quy mô và mức độ tăng
trưởng của GDP, dự trữ ngoại hối…; độ ổn định của nền kinnh tế vĩ mô thông qua

các chỉ tiêu như chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc
tế…; độ mở cửa của nền kinh tế thể hiện qua các rào cản, nguồn vốn đầu tư trực tiếp,
hoạt động xuất nhập khẩu; tiềm năng tài chính, hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp hoạt động trên địa bàn trong nước và hoạt động của các doanh nghiệp nước
ngoài vào trong nước.
Những nhân tố thuộc môi trường chính trị, pháp luật và vai trò của Chính
phủ
Đây là ba yếu tố cơ bản tạo nên thể chế quốc gia đồng thời cũng có những
tác động đến năng lực cạnh tranh của NHTM. Môi trường chính trị ổn định sẽ tạo


điều kiện cho việc thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển. Do đó, sẽ có những
tác động tốt đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các NHTM.
Luật pháp ở đây là các quy định của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực ngân
hàng. Với đặc điểm đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của NHTM chịu chi phối và
ảnh hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như luật dân sự, luật xây dựng,
luật đất đai, luật cạnh tranh, luật các tổ chức tín dụng.
Chính phủ đóng vai trò là chất xúc tác quan trọng đối với bất cứ ngành nào
trong nền kinh tế đặc biệt là đối với lĩnh vực ngân hàng. Thông qua NHTW, Chính
phủ giữ vai trò là nhà quản lý và giám sát của toàn hệ thống. Chính phủ đồng thời là
người hoạch định chính sách và đường lối phát triển chung của toàn hệ thống, tác
động đến cung cầu, đến ổn định kinh tế vĩ mô, đến các điều kiện nhân tố sản xuất,
đến các ngành liên quan và phụ trợ ngành ngân hàng. Bên cạnh đó, NHTM được
xem là một trung gian để NHTW thực hiện CSTT của mình. Do vậy, sức cạnh tranh
của các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào CSTT, tài chính của chính phủ và NHTW.
 Những nhân tố thuộc môi trường văn hóa, xã hội
Các yếu tố này tác động nhiều nhất đến khách hàng và nguồn nhân lực của
ngành ngân hàng như: trình độ dân trí; thói quen tiêu dùng và tiết kiệm; thói quen
sử dụng tiền mặt; lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng; thu nhập của dân cư;
nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng của dân cư… Nguồn nhân lực của ngân

hàng cũng chịu sự tác động của môi trường văn hóa, xã hội qua các nhân tố như:
trình độ dân trí, quan điểm về kinh doanh, quan niệm đạo đức…
 Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan với
ngành ngân hàng
Thị trường tài chính trong và ngoài nước phát triển mạnh là điều kiện để
các ngân hàng phát triển và gia tăng, từ đó dẫn đến mức độ cạnh tranh giữa các
ngân hàng cũng gia tăng, đặc điểm của thị trường tài chính là các định chế tài chính
có mối liên hệ rất chặt chẽ và bổ trợ lẫn nhau như các ngành: bảo hiểm, thị trường
chứng khoán, ngân hàng.


Ngoài ra, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các
ngành, lĩnh vực khác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán… cũng có
những ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Đây là những ngành phụ trợ mà sự phát triển của nó giúp ngân hàng nhanh chóng
đa dạng hóa các dịch vụ, tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng
như có những kế hoạch đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài chính vững mạnh.
 Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế
Với sự tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính tiền tệ, sự cạnh tranh đối
với ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn, không
những là sự cạnh tranh giữa các ngân hàng mà còn là sự cạnh tranh của các ngân
hàng với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Cạnh tranh giữa các ngân hàng
không chỉ dừng lại ở các dịch vụ truyền thống mà mở rộng ra các loại dịch vụ ngân
hàng hiện đại khác. Hơn nữa nhu cầu về các dịch vụ này ngày càng cao thể hiện ở
các mặt sau:
Sự biến đổi về cơ cấu dân cư, sự tăng dân số, sự tăng lên của các khu công
nghiệp, khu đô thị mới dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tăng lên rõ rệt.
Thu nhập bình quân đầu người ở hầu hết các quốc gia đều được nâng lên,
qua đó các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có những bước phát triển tương ứng.
Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu

thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
Số lao động di cư giữa các quốc gia tăng lên nên nhu cầu chuyển tiền cũng
như thanh toán qua ngân hàng có chiều hướng tăng cao.
Ngoài ra, thị trường tài chính càng phát triển thì khách hàng càng có nhiều sự
lựa chọn. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng cao
hơn cả về chất lượng, giá cả, các tiện ích lẫn phong cách phục vụ. Đây chính là áp
lực buộc các ngân hàng phải đổi mới và hoàn thiện mình hơn nhằm đáp ứng nhu
cầu của khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
* Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
 Tác nhân từ phía các NHTM mới tham gia thị trường


Các NHTM mới tham gia thị trường có những lợi thế quan trọng so với các
NHTM hiện tại như: mở ra những tiềm năng mới; có động cơ và ước vọng giành
được thị phần; đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động; có đầy
đủ các thống kê và dự báo về thị trường;… Như vậy, bất kể thực lực của NTHM
mới thế nào thì các NHTM hiện tại cũng đã thấy một mối đe dọa về khả năng thị
phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà các
NHTM hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó.
 Tác nhân là các NHTM hiện tại
Các NHTM hiện tại là các NHTM cùng quốc gia và các NTHM quốc tế. Do đặc
điểm của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có tính vô danh, không có khả năng đăng kí
bản quyền như sản phẩm của các ngành khác, do đó, khi có một sản phẩm mới ra đới
rất dễ bị bắt chước. Do vậy, các NHTM luôn phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt từ
các ngân hàng. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược hoạt động kinh
doanh của NHTM trong tương lai.
 Tác nhân từ phía khách hàng
Điểm đặc biệt trong khách hàng của NHTM so với các doanh nghiệp nói
chung là khách hàng của ngân hàng vừa là người cung cấp, đồng thời là người tiêu
dùng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Với vai trò là người bán sản phẩm thông qua

các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch… đều mong muốn nhận được lãi suất
cao. Như vậy ngân hàng phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi
nhuận và việc giữ chân khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có
thể.
 Tác nhân là sự xuất hiện các dịch vụ mới
Sự ra đời ồ ạt của các trung gian tài chính đe dọa lợi thế của các NTHM khi
cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống mà các
NHTM vẫn đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp cho khách hàng những sản
phẩm mang tính khác biệt và tạo cho người mua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa
dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn. Điều này tất yếu sẽ tác động làm tất
yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảm thị phần.


1.1.3. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Có nhiều phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM. Dưới
đây là phương pháp đánh giá theo mô hình SWOT.
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp
xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lôgic dễ hiểu, dễ trình bày, có thể sử
dụng trong mọi quá trình ra quyết định. Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới
dạng ma trận 2 cột 2 hàng, chia làm bốn phần: Strengths, Weaknesses,
Opportunities và Threats


Trong đó, Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại của công ty còn
Opportunities và Threats là các nhân tố tác động bên ngoài. SWOT cho phép phân
tích các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của
công ty.
Sau khi thiết lập xong mô hình SWOT có thể phân tích và hiểu được những
yếu tố chủ quan và khách quan sẽ tác động thế nào đến ngân hàng. Từ đó sẽ biết
được đâu là điểm mạnh để tập trung phát huy và phát triển, đâu là điểm xấu để cải

thiện và khắc phục, biết tận dụng thời cơ và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Có thể
mở rộng mô hình SWOT để lập kế hoạch chiến lược cho ngân hàng, nâng cao khả
năng cạnh tranh của ngân hàng bằng các sử dụng ma trận.

Strengths (điểm mạnh) Weaknesse (Điểm yếu)


Opportunities
(Cơ hội)
Các mặt mạnh của ngân
hàng có phát huy khi xuất
hiện những cơ hội không?
Các mặt yếu có làm mất đi
khả năng tận dụng cơ hội
không?
Threats
(Thách thức)
Các mặt mạnh có lấn át khi
các nguy cơ xuất hiện
không?
Các mặt yếu có làm mạnh lên
ảnh hưởng của các nguy cơ
xấu xuất hiện không?

Bằng cách sử dụng ma trận trên, khi kết hợp từng cặp các yếu tố vào có thể
mang đến cho ngân hàng những chiến lược để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình
Mô hình SWOT thường đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
(1) SO (Strengths - Opportunities): các chiến lược dựa trên ưu thế của công
ty để tận dụng các cơ hội thị trường.

(2) WO (Weaks - Opportunities): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua
các yếu điểm của công ty để tận dụng cơ hội thị trường.
(3) ST (Strengths - Threats): các chiến lược dựa trên ưu thế của của công ty
để tránh các nguy cơ của thị trường.
(4) WT (Weaks - Threats): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc
hạn chế tối đa các yếu điểm của công ty để tránh các nguy cơ của thị trường.
Hơn nữa mô hình SWOT được áp dụng để phân tích tình hình của đối thủ
cạnh tranh. Từ đó ngân hàng có thể đưa ra các biện pháp ứng phó nhằm nâng cao
hơn nữa khả năng cạnh tranh của mình.



Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH (ABBANK).

2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP An Bình đã được Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN)
cấp giấy phép hoạt động Ngân hàng số 0031/NH-GP ngày 15 tháng 4 năm 1993, và
có hiệu lực từ ngày 18 tháng 9 năm 1997 trong thời hạn 20 năm.
Với vốn điều lệ kể từ khi thành lập là 1 tỷ đồng, sau hơn 15 năm phát triển đến
nay ABBank đã có sự bứt phá mạnh mẽ cả về chất lượng lẫn số lượng.
Với tôn chỉ hoạt động:
Thứ nhất: Phục vụ khách hàng với sản phẩm, dịch vụ an toàn, hiệu quả và linh
hoạt.
Thứ hai: Tăng trưởng lợi ích cho cổ đông.
Thứ ba: Hướng tới sự phát triển toàn diện, bền vững của Ngân hàng.
Cuối cùng: Đầu tư vào yếu tố con người làm nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
ABBank đang hướng dần đến thành một ngân hàng Thương Mại Cổ phần hàng

đầu Việt Nam, hoạt động đa năng theo mô hình một Tập đoàn Tài Chính – Ngân
Hàng, hoạt động chuyên nghiệp theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với năng lực
hiện đại, đủ cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế đang hoạt động tại
Việt Nam.
2.1.2 Quá trình phát triển của ngân hàng An Bình
Sau 15 năm phát triển và trưởng thành, ABBank đã có sự bứt phá mạnh với
những cột mốc đáng chú ý sau đây:
Thành lập vào tháng 4 năm 1993 với vốn điều lệ là 1 tỷ đồng và trụ sở đặt tại
138 Hùng Vương thị trấn An Lạc huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 3 năm 2002


Tháng 3 năm 2002, ABBank tiến hành cải cách mạnh mẽ về cơ cấu và nhân sự
để tập trung vào chuyên ngành kinh doanh ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu
tư.
Năm 2005
Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) trở thành cổ đông chiến lược của ABBank.
Các cổ đông lớn khác: Tổng công ty tài chính Dầu Khí (PVFC), Tổng công ty
Xuất Nhập Khẩu Hà Nội (GELEXIMCO).
Cuối năm 2006
Vốn điều lệ tăng từ 165 tỷ VNĐ vào đầu năm 2006 lên 1131 tỷ VNĐ.
Tháng 11/2006
ABBank đã phát hành công phiếu của EVN cùng với Ngân hàng Deustch Bank
và quỹ đầu tư Vina Capital.
Tháng 12/2006
Ký hợp đồng triển khai core banking solutions với Temenos và khai trương
trung tâm thanh toán quốc tế tại Hà Nội.
Tháng 3/2007
ABBank ký hợp đồng liên kết chiến lược với Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn (Agribank), chính thức ký kết hợp tác toàn diện trên các linh vực:

quan hệ thanh toán, vốn, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại, thanh
toán quốc tế, kinh doanh chứng khoán.
Tháng 4/2007
ABBank trở thành thành viên của mạng thanh toán Paynet.
Tháng 5/2007
ABBank được ban tổ chức hội chợ tài chính – ngân hàng – bảo hiểm Banking
Expo 2007 trao giải thưởng quả cầu vàng – the Best Banker cho ngân hàng “phát
triển nhanh các sản phẩm dịch vụ công nghệ cao”.
Tháng 10/2007
Tăng vốn điều lệ lên 2300 tỷ đồng.


Tháng 1/2008
Hệ thống ngân hàng lõi T24 chính thức được đưa vào sử dụng trên toàn hệ
thống. Ngân hàng lõi (giải pháp phần mềm Corebanking) là một giải pháp phần
mềm Ngân hàng toàn diện với tất cả các nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đại đều
được cung cấp và quản lý trên T24 cổng kết nối này.
Tháng 3/2008
ABBank ký kết hợp tác chiến lược với Maybank–Ngân hàng lớn nhất Malaysia.
Với vai trò là đối tác chiến lược của ABBank, Maybank cam kết chia sẻ công nghệ,
nhân sự cũng như kinh nghiệm trong các lĩnh vực.
Tháng 4/2008
ABBank được trao giải “Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2007” do
Wachoiviabank – một trong bốn ngân hàng lớn nhất của Mỹ trao tặng.
ABBank được trao giải “Nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia 2008” do hội sở hữu trí
tuệ Việt Nam trao tặng.
Tháng 9/2008
Maybank chính thức trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài của ABBank với tỷ lệ
sở hữu là 15%. Theo đó, Maybank sẽ cử người tham gia công tác quản trị điều hành
và kiểm soát tại ABBank.

Tháng 3/2009
Tăng vốn điều lệ lên 3482 tỷ đồng với tỷ lệ sở hữu của Maybank la 20%.
Tháng 1/2010
ABBANK vinh dự được Bộ Công thương trao tặng giải thưởng Doanh nghiệp
Thương mại Dịch vụ tiêu biểu trong hệ thống giải thưởng Top Trade Services uy tín
được tổ chức hàng năm.
2.1.3 Mô hình, cơ cấu tổ chức của abbank.
Căn cứ kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình phát triển, quy mô hoạt động,
đặc thù thị trường của khu vực đầu tư, năng lực và trình độ quản lý chuyên môn,
chức năng nhiệm vụ của ngân hàng, bộ máy tổ chức của ABBank bao gồm: Đại hội


cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát, ban thư ký, sở giao dịch
và các chi nhánh ( xem hình 1.1 ).
Mô hình tổ chức bộ máy quản trị của ngân hàng là mô hình Trực tuyến chức
năng. Theo mô hình này, Trưởng các chi nhánh và Trưởng phòng các phòng ban
của chi nhánh đóng vai trò tham mưu cho Ban giám đốc trong việc hình thành các
chủ trương và ra các quyết định, kiểm tra và đôn đốc hoạt động của Ngân hàng. Các
quyết định quản lý được truyền xuống theo tuyến dọc.
Hình 1.1 Mô hình bộ máy tổ chức ngân hàng ABBank





ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN
TR



BAN TỔNG GIÁM
Đ
ỐC

SỞ GIAO DỊCH
TRUNG TÂM
CÔNG NGH
Ệ THÔNG TIN
TRUNG TÂM
TH


KH
ỐI NGUỒN VỐN & KD
NGOẠI HỐI
BAN CLPT M
ẠNG LƯ
ỚI
MIỀN BẮC & MIỀN TRUNG

BAN PT KHÁCH HÀNG
CHI
ẾN L
Ư
ỢC

KH
ỐI QUẢN LÝ RỦI RO

KH

ỐI HỖ TRỢ PHÁP LÝ

KHỐI KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN

KHỐI KHÁCH HÀNG
DOANH NGHI
ỆP

KHỐI MARKETING
KHỐI NHÂN SỰ
KHỐI ĐIỀU
HÀNH NGHI
ỆP
PHÒNG KSNB
TT THANH TOÁN
QU
ỐC TẾ

PHÒNG PHÁT
TRI
ỂN MẠNG L
Ư
ỚI

PHÒNG KẾ
TOÁN

PHÒNG
HÀNH CHÍNH


PHÒNG ĐẦU TƯ
TÀI CHÍNH

CN HÀ NỘI
CN ĐÀ NẴNG
CN CẦN THƠ
CN VŨNG TÀU
CN BÌNH
CN BẠC LIÊU
CN GIA LAI
CN SƠN LA
BAN KIỂM
SOÁT

BAN THƯ KÝ

×