Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Phối cảnh doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.54 MB, 13 trang )

Phối cảnh


Nguyên lý của phối cảnh
Phối cảnh là một cách vẽ trong hội họa, hay tạo hình, dùng để thể hiện các
hình ảnh 3 chiều một cách gần đúng trên một bề mặt 2 chiều (giấy hay vải)
nhờ vào các quy luật phối cảnh. Các quy luật phối cảnh được xây dựng trên
các quy tắc hình học chặt chẽ.
Chúng ta đang sống trong một không gian 3 chiều. Các hình ảnh chuyển
động có thể được liên hệ đến chiều thứ 4 là thời gian. Nhưng mặt phẳng giấy
chỉ có 2 chiều. Các quy tắc phối cảnh giúp hình ảnh 2 chiều trở thành 3
chiều, khiến chúng được quan sát được trực quan hơn trên tranh vẽ.
Chân trời


Chân trời trên biển được nhìn ở Wisconsin, Hoa Kỳ.
Chân trời (hoặc đường chân trời) là một đường có thể nhìn thấy rõ ràng
phân cách mặt đất với bầu trời. Tại nhiều vùng, đường chân trời thật bị che
khuất bởi cây cối, tòa nhà, núi, vv, và giao tuyến của trái đất và bầu trời
trong trường hợp này được gọi là chân trời nhìn thấy được. Khi đứng từ bờ
và nhìn ra biển thì vùng biển gần đường chân trời được gọi là khơi.
[1][2]

Trong tiếng Anh, từ horizon có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "ρίζων κύκλος"
(horizōn kyklos), "vòng tròn chia cắt",
[3]
từ động từ "ρίζω" (horizō), "chia,
tách",
[4]
và từ "ρος" (Oros), " ranh giới, mốc".
[5]



Mục lục
 1 Hình thức và ứng dụng
 2 Khoảng cách đến chân trời
o 2.1 Công thức hình học
o 2.2 Những công thức hình học gần đúng
o 2.3 Công thức tính chính xác với giả định Trái Đất là hình cầu

o 2.4 Những đối tượng quan sát được ở trên đường chân trời
o 2.5 Ảnh hưởng của sự khúc xạ khí quyển
 3 Chú thích
 4 Liên kết ngoài
Hình thức và ứng dụng


Chân trời trong phép chiếu phối cảnh.


Chân trời nhìn từ tàu con thoi Endeavour, 2002
Trước khi loài người phát minh ra đài phát thanh và điện báo thì khoảng
cách tới chân trời có thể nhìn thấy ở trên biển là cực kỳ quan trọng vì nó thể
hiện phạm vi tối đa có thể truyền tin và tầm nhìn. Thậm chí ngày nay, khi
điều khiển một chiếc máy bay theo quy tắc VFR (Vision flight rules), là tập
hợp những quy tắc hướng dẫn phi công điều khiển máy bay trong điều kiện
thời tiết cho phép có thể dùng mắt thường định vị vị trí, đường đi, né tránh
chướng ngại vật của máy bay, thì phi công cũng sử dụng các mối quan hệ
trực quan giữa mũi của máy bay và đường chân trời để điều khiển máy bay.
Một phi công cũng có thể dựa vào đường chân trời để định hướng không
gian.
Trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là phép chiếu phối cảnh trong các bản vẽ, thì

độ cong của Trái Đất được bỏ qua và chân trời được xem là một đường
thẳng lý thuyết mà tất cả các điểm trên bất kỳ mặt phẳng nằm ngang nào
cũng đều hội tụ về đó (khi chiếu lên mặt phẳng hình ảnh) làm tăng khoảng
cách từ người quan sát (làm cho người quan sát cảm thấy được độ xa gần
của hình ảnh chiếu 3D).
Trong thiên văn học, chân trời là mặt phẳng nằm ngang qua mắt của người
quan sát. Nó là mặt phẳng cơ bản của hệ tọa độ chân trời là quỹ tích các
điểm có độ cao 0 độ.
Khoảng cách đến chân trời
Bỏ qua ảnh hưởng của sự khúc xạ trong khí quyển, thì khoảng cách từ 1
người quan sát trên mặt đất đến chân trời, là khoảng:
[6]


trong đó, d tính bằng km, h là độ cao so với mực nước biển tính bằng m.
Ví dụ:
 Đối với một người quan sát đứng trên mặt đất với h=1.70m (5ft 7in),
đường chân trời ở khoảng cách 4.7 km (2.9 dặm).
 Đối với một người quan sát đứng trên mặt đất với h = 2 m (6 ft 7 in),
đường chân trời ở khoảng cách 5 km (3.1 dặm).
 Đối với một người quan sát đứng trên một ngọn đồi hoặc tháp cao 100
mét (330 ft), đường chân trời ở khoảng cách 39km (24 dặm).
 Đối với một người quan sát đứng ở đỉnh của tòa nhà Burj Khalifa cao
828 mét (2.717 ft), đường chân trời ở khoảng cách 111 km (69 dặm).
Với d tính bằng dặm,
[7]
h tính bằng feet, thì

Công thức hình học



Công thức cát tuyến và tiếp tuyến của đường tròn.


Định lý Pythagore.


Ba loại chân trời.
Nếu giả định Trái Đất là một hình cầu không có khí quyển thì ta có thể dễ
dàng tính ra khoảng cách từ người quan sát tới chân trời. (Bán kính cong của
trái đất thực sự thay đổi 1%, do đó công thức này là không chính xác thậm
chí đã giả sử là không có sự khúc xạ.) Theo công thức liên hệ giữa tiếp tuyến
và cát tuyến trong đường tròn, ta có:

Trong đó:
 d = OC = khoảng cách đến chân trời
 D = AB = đường kính của Trái Đất
 h = OB = độ cao của người quan sát so với mực nước biển.
 D+h = OA = đường kính + độ cao người quan sát.
Phương trình trở thành:

hoặc

R là bán kính Trái Đất.
Ta cũng có thể sử dụng định lý Pythagore trong trường hợp này để tính
khoảng cách đến chân trời. Do tia nhìn của người quan sát tiếp tuyến với
đường tròn Trái Đất cho nên nó vuông góc với bán kính tại điểm tiếp xúc,
tạo nên 1 tam giác vuông với cạnh huyền là tổng bán kính với độ cao của
người quan sát so với mực nước biển. Với:
 d = khoảng cách đến đường chân trời

 h = chiều cao của người quan sát so với mực nước biển
 R = bán kính của Trái Đất
Theo định lý Pythagore, ta có:



Một phương trình thể hiện sự tương quan giữa độ dài cung tròn s với góc mở
γ tính bằng radian:

mà:

Thế vào, ta có:

Lại có:

Thế vào phương trình trên:

Khoảng cách d và độ dài cung tròn s là gần bằng nhau vì độ cao h rất bé so
với bán kính R (h  R)
Những công thức hình học gần đúng


Nếu người quan sát đứng ở vị trí gần với mặt đất, thì độ cao h trong tham số
(2R + h) có thể bỏ qua, khi đó công thức trở thành:

Với giá trị của bán kính Trái Đất là 6371 km thì khoảng cách đến đường
chân trời là:

với d được tính bằng km, h là độ cao tính từ mực nước biển đến mắt của
người quan sát với đơn vị đo lường là mét. Nếu sử dụng hệ thống đơn vị của

Anh, thì khoảng cách đến đường chân trời là:

với d tính bằng dặm, h tính bằng feet. Những công thức trên được sử dụng
khi độ cao h rất bé nếu so với bán kính Trái Đất (6.371 km), kể cả khi người
quan sát đứng ở trên 1 đỉnh núi, trên máy bay hoặc khinh khí cầu. Với các
hằng số đã xác lập thì những công thức này có sai số trong phạm vi khoảng
1%.
Công thức tính chính xác với giả định Trái Đất là hình cầu
Nếu độ cao h là đáng kể so với bán kính R, như khi quan sát từ các vệ tinh,
thì cần phải có công thức tính chính xác:

Với R là bán kính Trái Đất (R và h phải tính cùng 1 đơn vị đo lường. Ví dụ,
nếu vị tinh ở độ cao 2000 km, thì khoảng cách đến đường chân trời là
5.430 kilômét (3.370 mi); nếu ta bỏ qua tham số h thì sẽ cho 1 kết quả là
5.048 kilômét (3.137 mi) với sai số lên đến 7%.
Những đối tượng quan sát được ở trên đường chân trời


Khoảng cách hình học đến đường chân trời
Để tính toán chiều cao của một đối tượng có thể nhìn thấy trên đường chân
trời, với giả thuyết đối tượng quan sát được là đỉnh của một vật thể thì ta
tính được khoảng cách từ đỉnh đó đến đường chân trời, sau đó thêm kết quả
này vào khoảng cách từ người quan sát đến đường chân trời. Ví dụ, một
người quan sát với chiều cao 1,70 m đứng trên mặt đất, khoảng cách từ
người đó đến đường chân trời là 4,65 km. Đối với một tháp với chiều cao
100 m, khoảng cách từ đỉnh tháp đến đường chân trời là 35,7 km. Vì vậy,
một người quan sát trên một bãi biển có thể nhìn thấy tháp miễn là nó cách
người quan sát không xa hơn 40,35 km. Ngược lại, nếu một người quan sát
trên một chiếc thuyền (h = 1,7 m) chỉ có thể nhìn thấy ngọn cây cao 10m
trên một bờ biển gần đó nếu cây này cách người quan sát trong khoảng 16

km. Theo hình bên phải, người trên thuyền chỉ có thể nhìn thấy được ngọn
hải đăng nếu như:

với D
BL
tính bằng km, h
B
và h
L
tính bằng m. Nếu không bỏ qua khúc xạ khí
quyển, thì điều kiện về tầm nhìn trở thành:

Ảnh hưởng của sự khúc xạ khí quyển
Do các tia sáng bị khúc xạ khí quyển, nên khoảng cách thực tế của đường
chân trời thấy được (tầm nhìn) sẽ lớn hơn khoảng cách tính toán với công
thức hình học. Với những điều kiện tiêu chuẩn của khí quyển, sự sai lệch là
khoảng 8%, tuy nhiên, sự khúc xạ bị ảnh hưởng bởi gradient nhiệt độ, thay
đổi đáng kể hàng ngày, đặc biệt là trên mặt nước, do đó, giá trị tính toán cho
sự khúc xạ chỉ xấp xỉ.
[6]

Phương pháp chính xác - Sweer
Khoảng cách d đến đường chân trời được tính bằng công thức:
[8]


với R
E
là bán kính Trái Đất, ψ là độ nghiêng (võng) của đường chân trời và δ
là độ khúc xạ của đường chân trời.

Độ nghiêng được tính dễ dàng bằng công thức:

với h là độ cao của người quan sát so với mặt đất, µ là chỉ số khúc xạ của
không khí ở độ cao của người quan sát, và µ
0
là chỉ số khúc xạ của không
khí ở bề mặt Trái Đất.
Độ khúc xạ δ của đường chân trời tính bằng công thức:

với là góc tạo bởi tia sáng với đường thẳng nối với tâm của Trái Đất. Góc
ψ và tương quan với nhau theo công thức:

Phương pháp gần đúng—Young
Có thể tính gần đúng bằng công thức đơn giản hơn sử dụng R′ = 7/6 R
E
.
Khoảng cách đến đường chân trời là:
[6]


Lấy bán kính Trái Đất là 6371 km, với d tính bằng km và h tính bằng m,

với d tính bằng dặm và h tính bằng feet,

Kết quả tính bằng phương pháp Young gần đúng với kết quả từ phương
pháp Sweer, với sai số có thể chấp nhận được.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×