Quản lý theo chế độ thời
gian thực
Công ty General Electric (GE) nổi tiếng vì đòi hỏi mọi thứ phải đạt mức hoàn
hảo và Gary Reiner, giám đốc hệ thống thông tin (CIO) của GE đã đưa ra
sáng kiến quan trọng cho việc quản lý công ty: “số hoá” công việc kinh doanh
của công ty ở mức tối đa có thể. Điều đó không chỉ có nghĩa là mua và bán
mọi thứ qua mạng mà điều quan trọng hơn là thiết lập một hệ thống thần kinh
kỹ thuật số liên kết mọi thứ liên quan tới công việc của công ty: Hệ thống
Công nghệ thông tin (IT), các nhà máy, nhân viên, cũng như các nhà cung
cấp, khách hàng và sản phẩm.
Mục đích của GE là kiểm soát mọi thứ tức thời (real- time) với việc đặt ra
một trang web đặc biệt trên màn hình máy tính cá nhân (PC): một “màn hình
kỹ thuật số”. Trên màn hình này có các ô màu sắc khác nhau, thể hiện trạng
thái của các ứng dụng phần mềm liên quan mật thiết tới công việc kinh doanh
của GE. Nếu một chương trình nào có màu đỏ hoặc thậm chí màu vàng trong
thời gian quá lâu, lập tức ông Reiner điều khiển hệ thống gửi email tới người
chịu trách nhiệm. Qua hệ thống này, chúng ta cũng xem được cách thức hoạt
động của rthững ứng dụng đơn lẻ, như các chương trình kiểm soát đơn hàng
hay việc ghi sổ hoạt động như thế nào.
Màn hình trên không chỉ đặt tại phòng của Reinel. Hầu hết các nhà quản lý
của GE hiện đang quan sát tức thời các hoạt động của mình với những màn
hình khác nhau song thể hiện cùng nguyên lý: màn hình so sánh tỷ lệ hoạt
động, như số lần xử lý, doanh số, lợi nhuận, so với mục tiêu đặt ra. Chúng
cũng cảnh báo cho các nhà quản lý nếu mục tiêu đang ngày càng bị chệch
hướng.
Nhiều chuyên gia cho rằng, với GE đi tiên phong, trong vài năm tới, sẽ có
ngày càng nhiều công ty sử dụng công nghệ thông tin để biến doanh nghiệp
của mình thành “doanh nghiệp tức thời” - có nghĩa là một doanh nghiệp có
khả năng phản ứng ngay lập tức với những thay đổi trong kinh doanh của
mình. Và khi mà các công ty tự “số hoá” hoạt động của mình và sau đó kết
nối với các đối tác của mình, họ sẽ khiến nền kinh tế trở dần dần trở nên “tức
thời” hơn nữa. Nói cách khác, nền kinh tế không phải chỉ trở thành”nền kinh
tế mới", mà sẽ trở thành “nền kinh tế tức thời”.
Rất nhiều công ty sẽ dần áp dụng mô hình này: họ sẽ ngày càng áp dụng
nhiều phần mềm doanh nghiệp phức hợp, được dựa trên những tính toán
nghiêm túc và có thể tiết kiệm những chi phí thực sự nếu được triển khai một
cách phù hợp. Đó là lý do mà những doanh nghiệp này có thể lớn mạnh và gặt
hái được nhiều thành công. Ngoài ra, sự suy thoái kinh tế hiện nay sẽ thúc đẩy
quá trình áp dụng những sản phẩm và dịch vụ “tức thời” mới. Những sản
phẩm và dịch vụ mới này không đòi hỏi những khoản đầu tư lớn mà lại giúp
cho hệ thống máy tính hiện tại trở nên hiệu quả hơn và mang lại lợi ích trong
thời gian ngắn hơn. GE ước tính rằng, nỗ lực số hóa hoạt động của công ty đã
giúp tiết kiệm được 1,6 tỷ USD vào năm 2001. Những công ty đã chi hàng tỷ
USD vào hệ thống công nghệ thông tin mà không thể chắc chắn lợi nhuận của
họ được cải thiện chắc hẳn đang rất cần những khoản tiết kiệm như thế.
Khái niệm “nền kinh tế thời gian thực”, tỏ ra hữu ích hơn khái niệm “kinh tế
mới”. Thời gian thực cho thấy toàn bộ những tiềm năng mà công nghệ thông
tin có thể đem lại; Đưa nền kinh tế phát triển nhanh hơn và trở nên hiệụ quả
hơn. Có thể so sánh tác dụng đẩy nhanh luồng thông tin của công nghệ thời
gian thực với hình thức điện báo, phát minh năm 1837.
Hiệu ứng về kinh tế của công nghệ này là rất lớn. Trước khi có điện báo, các
công ty Australia phải dự trữ hàng rất nhiều vì cách thức duy nhất để khách
hàng từ Anh đặt hàng là gửi một lá thư cách một đại dương. Nhưng khi mà
kết nối điện báo đầu tiên giữa Anh và Australia được thiết lập, các doanh
nghiệp như Prince, Ogg and Co (Australia) đã giảm hơn50% lượng hàng tồn
kho.
Ngày nay, các phần mềm bảng tính hiện đang có khả năng “tức thời” ở tối đa
có thể. Với những người sử dụng thông thường thì những chương trình này
chỉ đơn giản là những bảng với nhiều cột và hàng với những ô (cell). Tuy
nhiên, đặc tính vô hình quan trọng nhất của những ô này là cách thức liên kết
giữa các ô với nhau. Thông thường, chính quan hệ với nhau bằng những phép
tính đơn giản như cộng hay nhân. Tuy nhiên, các ngân hàng đầu tư lại có
những bảng tính phức tạp hơn nhiều: Những ô trong đó liên kết với nhau bằng
hàng chục “macro” (thường là những chương trình nhỏ hơn). Nếu người dùng
thay đổi dữ liệu ở một ô thì nhiều ô khác sẽ tự động được tính toán lại.
Một doanh nghiệp “thời gian thực” là một bảng tính khổng lồ gồm nhiều
mảng, trong đó thông tin mới (ví dụ như một đơn hàng) được tự động xử lý
và lọc qua các hệ thống máy tính của công ty và của những nhà cung cấp của
nó. Khi đó, một câu hỏi đơn giản như “Đơn hàng này sẽ được xuất khi nào?”
có thể được trả lời ngay lập tức chứ không mất thời tới 6 cú điện thoại và thời
gian là 3 ngày. Nhiều khách hàng thực tế đã làm việc với những doanh nghiệp
“thời gian thực” mà không nhận thấy, chẳng hạn khi họ đặt hàng máy tính
Dell. Website của công ty cho phép khách hàng kiểm tra tiến độ thực hiện
đơn hàng của họ vào bất kỳ lúc nào.
Tuy nhiên, doanh nghiệp “thời gian thực” không chỉ đơn giản là thúc đẩy tốc
độ luồng thông tin. Nó cũng có thể kiểm soát doanh nghiệp mọi lúc và đưa ra
phản ứng khi có sự thay đổi. Ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đang tiến
điều hành mà không nắm rõ mọi thứ. Công nghệ “thời gian thực” sẽ giúp các
công ty có cái nhìn rõ ràng hơn trước đây.
Lợi ích thứ ba của một doanh nghiệp “thời gian thực” là sử dụng những thông
tin mới để đưa ra những sản phẩm và dịch vụ mới. Ví dụ, cơ sở kinh doanh đồ
gia dụng của GE đã thiết lập 1 kiosk trên mạng tại một số chi nhánh phát triển
nhanh nhất của mình. Khách hàng có thể đặt hàng, chọn ngày, giờ giao hàng
và được thông báo ngay lập tức là yêu cầu của họ có được đáp ứng hay
không.
Trước hết là phải có công nghệ nền. Trong quá khứ, các công ty phải đắn đo
trước sự đánh đổi giữa việc gán kết và linh hoạt. Công nghệ phần mềm mới
hứa hẹn giảm bớt sự đánh đổi này, hoặc thậm chí xóa bỏ cả hai. Cùng lúc này,
các phản cứng mới, như bộ phận cảm ứng không dây, sẽ cho phép tập hợp
thêm thông tin về thế giới thực và nhập vào hệ thống máy tính của công ty.
Các turbines do GE sản xuất có những thiết bị cảm ứng cho phép công ty trao
đổi trực tuyến với khách hàng về mức độ hiệu quả hoạt động của sản phẩm.
Tương tự, các công ty giờ đây có thu thập dữ liệu về nhân lực, hay thậm chí
có thể theo dõi về vị trí của họ.
Dĩ nhiên là những dữ liệu này sẽ khiến dòng thông tin trở nên quá tải. Tuy
nhiên, chúng tạo ra một cơ hội kinh doanh mới: Phát triển phần mềm để xử lý
thông tin và đưa ra những cách thức để tối đa hóa những chuỗi cung cấp, hay
tự động hóa những phản hồi với những loại thông tin mới. Điều này đã xảy ra
với các thị trường tài chính: Yêu cầu phải có những thông tin theo hình thức
“thời gian thực đã giúp hàng chục công ty bán được những chương trình tự
động hóa việc giao dịch và giúp nó trở nên hiệu quả hơn.