Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Thảo dược phòng bệnh đường hô hấp ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (171.58 KB, 8 trang )

Thảo dược phòng bệnh đường hô hấp


Có một số loại thảo dược thiên nhiên chứa nhiều tinh
dầu mang lại lợi ích cho việc phòng các chứng bệnh về
đường hô hấp.




Các loại thảo dược có rất nhiều công dụng chữa bệnh.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tinh dầu có tác
dụng giảm đau, giảm co thắt, giúp khí huyết lưu thông, một
số trường hợp còn gây hưng phấn, thư thái tinh thần, sảng
khoái nhờ mùi thơm, thường dùng để chữa nhức đầu, sổ
mũi, ho, cảm cúm, chảy nước mắt, mũi, sát trùng, kháng
khuẩn, giúp lành sẹo, khử mùi hôi… Khi xoa tinh dầu sẽ
làm kích thích hệ mạch máu ngoại biên chống đau nhức,
tan máu bầm. Tinh dầu còn trị được các bệnh tiêu hóa, ăn
uống không tiêu, đau bụng, tiêu chảy.

Các thảo dược hay dùng là:

1. Bạc hà

Lá bạc hà có chứa nhiều Mentol, có vị cay, tính mát, tác
dụng hạ sốt, làm ra mồ hôi, làm dịu các cơn đau hầu họng,
dịu cơn ho, sát trùng. Có thể dùng lá tươi hoặc khô (5-10g),
hãm nước sôi, hoặc rượu bạc hà (gồm 50g lá, 50g tinh dầu,
rượu 1 lít) mỗi lần uống 5-10 giọt pha trong nước ấm, ngày
uống 2-3 lần, chữa cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, sốt, đau


họng, đau bụng, tiêu chảy.

Tinh dầu còn được dùng để xoa bóp nơi sưng đau, sát trùng
ngoài da, pha trong nước đun sôi 1-2 phần ngàn để làm
nước súc miệng, phòng ngừa các bệnh viêm họng, nhiễm
trùng răng, miệng. Nước xông bạc hà phối hợp chung với
các dược liệu khác như tràm, hương nhu, ngũ trảo, lá sả…
rất hiệu quả với cảm cúm, sổ mũi, viêm đường hô hấp.

2. Bạch đàn

Còn gọi là cây khuynh diệp, trong lá có chứa nhiều tinh dầu
trong đó khoảng 80-85% là eucalyptol, ngoài ra còn có
phellandren, aromadendren, pinen, camphen. Theo y học cổ
truyền, lá bạch đàn có tác dụng hạ nhiệt, diệt vi khuẩn, diệt
ký sinh trùng, long đờm, khi dùng lá sắc nước uống hoặc
hãm nước sôi với liều 3-4 lá trong 1 ly nước, ngày uống 3-5
lần, sẽ chữa được các bệnh thuộc đường hô hấp như viêm
phế quản cấp và mãn, cảm cúm, ho, hen suyễn, các bệnh
đường tiết niệu, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột. Dùng
ngoài đắp vết thương, bỏng. Xông mũi chữa cảm sốt, ho,
nặng đầu.

3. Gừng

Trong củ gừng có chứa từ 1-3% tinh dầu chủ yếu là
camphen, phelandren, zingiberen và zingirol, tinh dầu gừng
có màu vàng nhạt, hơi sánh và mùi thơm đặc biệt, vị cay,
tính ấm. Gừng được trồng ở nhiều nước trên thế giới để lấy
củ làm gia vị, trích tinh dầu và làm thuốc.


Gừng được trồng ở nhiều nước trên thế giới để lấy
củ làm gia vị, trích tinh dầu và làm thuốc.

Gừng chữa ăn uống không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, mệt lả,
đau bụng, cảm mạo phong hàn, ho mất tiếng. Gừng còn
được dùng để giải độc bán hạ, cua, cá, ốc, hến…và làm
giảm mùi tanh lợm của các loại thịt động vật.

Cách dùng: - gừng tươi (sinh khương) giã lấy nước uống,
ngày 6-10g, - rượu gừng 10%, ngày uống 2-5ml, - xirô
gừng (phối hợp quả chanh, củ sả mỗi thứ 10g, muối 5g và
đường đủ cho 100ml, ngâm trong 3 ngày, lọc vào lọ kín,
uống chữa ho, ngày 2 lần, mỗi lần 1-2 muỗng canh. Có thể
dùng gừng khô (can khương) 3-6g sắc uống, gừng sao vàng
hoặc sao cháy chữa đau bụng lạnh, tay chân lạnh, nhức
mỏi, tê thấp, băng huyết.

4. Tần dày lá

Còn gọi là Húng chanh, rau tần, rau thơm lông (Coleus
amboinicus), dùng lá, cây được trồng làm gia vị và dùng
làm thuốc. Lá rau tần có thể thu hái quanh năm, thường
dùng tươi, dùng đến đâu hái đến đó, nên hái lúc trời khô
ráo, chọn các lá bánh tẻ, không sâu, không già, rau tần có
chứa tinh dầu carvacrola và một chất màu đỏ là colein đều
có tác dụng kháng sinh rất mạnh đối với một số vi trùng
nhất là ở vùng hầu họng, mũi.

Theo y học cổ truyền, rau tần có tác dụng thanh nhiệt, tiêu

độc, lợi phế, trừ đờm, giải cảm, phát hãn. Dùng tươi (5-10
lá) mỗi ngày, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị
khác như gừng, bạc hà, tràm, tía tô, củ sả… nhai sống với tí
muối, giã lấy nước uống hoặc hãm nước sôi, hoặc chưng
với tắc, vỏ quýt, gừng, đường phèn, chữa ho, viêm họng,
khan tiếng, cảm cúm, sổ mũi. Đem nấu chung với các loại
lá khác làm thuốc xông chữa cảm, ngạt mũi, đau họng, sốt
cao.

5. Tràm

Trong lá tươi có tinh dầu cineol, cymen, pinen, terpinen,
geraniol và terpineol. Nhân dân hay dùng để uống thay
nước trà nên còn được gọi tên là chè đồng hay chè cay.

Theo y học cổ truyền, lá tràm có vị cay, tính ấm, mùi thơm
dễ chịu, tác dụng làm ra mồ hôi, trừ thấp, giảm đau.
Thường dùng cành lá tươi sắc hoặc hãm nước sôi uống với
liều 20g trong 1 lít, chữa các chứng sổ mũi, hắt hơi, ngạt
mũi, nhức đầu, sốt, đau nhức mình mẩy, ho có đờm, ăn
uống không tiêu. Dùng ngoài ở dạng nấu lá xông giúp giải
cảm làm ra mồ hôi, sát trùng đường hô hấp, hoặc rửa vết
thương, vết bỏng, mụn nhọt. Nếu dùng ở dạng tinh dầu 10-
20 giọt pha trong nước ấm uống, nhỏ mũi ở nồng độ 10%,
dung dịch rửa 0,2%.

Theo kết quả nghiên cứu của GS.TS. Nguyễn Minh Đức
(Khoa Dược - ĐHYD TP.HCM, 2008), việc phối hợp 3 loại
thảo dược tràm, gừng và tần dày lá ở dạng viên nang mềm
Tragutan đã chứng minh sự gia tăng mạnh hoạt lực kháng

khuẩn đặc biệt là trên các chủng vi khuẩn gây bệnh như H.
influenzae, S. pneumoniae, đây chính là 2 tác nhân chủ yếu
gây nhiễm trùng hô hấp cộng đồng.

Tuy nhiên cũng cần chú ý khi sử dụng tinh dầu:

+ Vì tinh dầu là chất dễ bay hơi nên khi sắc các dược thảo
có tinh dầu cần sắc nhanh và uống lúc thuốc còn ấm để
tăng tác dụng của thuốc.

+ Một vài tinh dầu có tác dụng gây tê tại chỗ (mentol) có
thể gây ức chế hô hấp và làm ngưng thở nên cần chú ý khi
sử dụng cho trẻ nhỏ, vì vậy để hạn chế các tác dụng phụ khi
sử dụng tinh dầu nguyên chất, nên chuyển dạng bào chế
dưới dạng viên nang mềm để tiện lợi cho người dùng.

+ Khi dùng tinh dầu để xông, hít, ngửi trực tiếp hay xoa
trên da, đôi khi gây các hiện tượng khô da hoặc bị kích ứng
tại chỗ trong trường hợp người có da nhạy cảm, cần ngưng
ngay khi thấy ngứa hoặc đỏ da.

×