Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Tổng quan về Viêm tuỵ cấp và mãn tính (Kỳ 3) pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (226.96 KB, 5 trang )

Tổng quan về Viêm tuỵ cấp
và mãn tính (Kỳ 3)

6. Liên quan giữa sỏi mật và viêm tuỵ?
Sỏi mật có thể gây viêm tuỵ cấp và cần phẫu thuật để lấy sỏi. Siêu âm hoặc
CAT scan có thể phát hiện sỏi mật và đánh giá về mức độ tổn thương ở tuyến tuỵ.
Tuỳ theo độ trầm trọng của viêm tuỵ mà có kế hoạch phẫu thuật. Nếu viêm tuỵ
nhẹ, có thể phẫu thuật sỏi túi mật trong vòng một tuần. Trường hợp viêm tuỵ do
sỏi kẹt ở kênh chung mật tuỵ hoặc ống mật chủ sẽ được giải quyết bằng phương
pháp nội soi chụp mật tuỵ ngược dòng ERCP. Sau khi cắt túi mật nội soi và lấy sỏi
ống mật chủ, giải quyết tình trạng viêm nhiễm, tuyến tuỵ thường phục hồi lại trạng
thái bình thường.


Sỏi kẹt đoạn cuối ống mật chủ gây viêm tuỵ

II. VIÊM TỤY MÃN LÀ GÌ?
Nếu tiếp tục có tổn thương tuyến tuỵ, sẽ hình thành viêm tuỵ mãn. Viêm
tuỵ mãn xảy ra khi các men tiêu hoá tấn công, phá huỷ tuyến tuỵ và các mô lân
cận, gây đau và hình thành mô sẹo. Viêm tuỵ mãn thường xảy ra khi uống rượu
nhiều trong nhiều năm, nhưng thể viêm mãn tính cũng có thể khởi phát chỉ sau
một đợt cấp duy nhất, đặc biệt khi các ống tuỵ bị tổn thương. Ống tuỵ tổn thương
gây viêm tuỵ, mô tuỵ bị phá huỷ và thay thế bằng mô sẹo.
1. Nguyên nhân gây viêm tụy mãn
Nghiện rượu thường gặp nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất của
viêm tuỵ mãn. Các nguyên nhân chính của viêm tuỵ mãn là:
- Nghiện rượu
- Tắc nghẽn hoặc hẹp ống tuỵ do chấn thương hoặc do hình thành nang giả
tuỵ
- Nguyên nhân di truyền không xác định (vô căn)
Tổn thương do nghiện rượu có thể không biểu hiện trong nhiều năm, và sau


đó xuất hiện đôt ngột bằng một đợt viêm tuỵ cấp. Nghiện rượu là nguyên nhân
viêm tuỵ mãn ở 70% người trưởng thành. Thể viêm tuỵ này thường ở nam nhiều
hơn nữ và thường xảy ra ở lứa tuổi 30 đến 40.
Viêm tuỵ di truyền thường khởi phát ở trẻ em nhưng có thể không được
phát hiện trong thời gian nhiều năm. Viêm tuỵ di truyền thường có những đợt tái
phát . Mỗi đợt kéo dài từ 2 ngày đến 2 tuần. Yếu tố chẩn đoán viêm tuỵ di truyền
là có hai hoặc nhiều thành viên cùng một thế hệ trong gia đình bị viêm tuỵ. Điều
trị đợt cấp thường tương tự như đối với viêm tuỵ cấp. Các cơn đau và những vấn
đề về dinh dưỡng cũng được xử trí giống viêm tuỵ cấp. Phẫu thuật đôi khi giúp
giảm đau và xử lý các biến chứng.
Các nguyên nhân khác của viêm tuỵ mãn là:
- Tình trạng di truyền như trường hợp tuỵ chia đôi ( pancreas divisum)
- Xơ nang phổi (cystic fibrosis)
- Tăng calcium trong máu (hypercalcemia)
- Tăng mỡ máu (hyperlipidemia hoặc hypertriglyceridemia)
- Một số thuốc
- Một số bệnh tự miễn

2. Triệu chứng của viêm tuỵ mãn?
Đa số bệnh nhân viêm tuỵ mãn có đau bụng, mặc dầu một số không có triệu
chứng đau. Đau nặng hơn sau khi ăn uống, lan ra sau lưng hoặc đau liên tục khiến
bệnh nhân không thể sinh hoạt bình thường. Ở một số trường hợp, đau giảm dần
theo diễn tiến của bệnh, có thể do tuỵ không còn sản xuất được men tiêu hoá nữa.
Các triệu chứng khác bao gồm buồn nôn, nôn ói, sụt cân và tiêu phân mỡ.
Bệnh nhân viêm tuỵ mãn thường sụt cân, ngay cả khi ăn vẫn ngon miệng
và chế độ ăn vẫn bình thường. Sụt cân xảy ra do cơ thể không tiết đủ men tuỵ để
tiêu hoá thức ăn, do đó chất dinh dưỡng không được hấp thu đầy đủ. Tiêu hoá kém
dẫn đến bài tiết chất mỡ, chất protein, và chất đường trong phân. Nếu những tế bào
sản xuất insulin của tuỵ cũng bị tổn thương, đái tháo đường sẽ hình thành ở giai
đoạn này.


×