Tải bản đầy đủ (.doc) (57 trang)

Tính thời vụ trong du lịch & các biện pháp khắc phục tại Công ty Cổ phần du lịch Ao Vua

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (336.21 KB, 57 trang )

Đề tài :

TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH VÀ CÁC BIỆN PHÁP
KHẮC PHỤC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH AO VUA
LỜI NÓI ĐẦU
Hà Tây là một trong những tỉnh có tiềm năng to lớn trong việc phát triển
Du lịch. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (Năm1999) đã xác định
“Trong năm năm tới phải tăng cường đầu tư phát triển du lịch thành ngành kinh
tế mũi nhọn...”. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Tây đến năm 2010
được lập năm 1994 cũng đã chỉ ra những tiềm năng cho sự phát triển của du
lịch Hà Tây và xác định cụm Sơn Tây - Ba Vì là một trung tâm của sự phát
triển đó với các tiềm năng thế mạnh cho du lịch sinh thái, du lịch nghỉ ngơi
cuối tuần, vui chơi giải trí và tham quan các di tích lịch sử văn hố.
Ba Vì là một vùng đất cổ có truyền thống văn hố lịch sử lâu đời và đến
nay vẫn bảo lưu được nhiều giá trị đặc sắc. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Ba Vì
một vùng rừng núi “nhất cao là núi Ba Vì” gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh
- Thuỷ Tinh với những giá trị sâu sắc về địa hình, khí hậu, động thực vật... để
hình thành nên một khu vực với rất nhiều những điểm phát triển hoạt động du
lịch. Đó là Ao Vua, Khoang Xanh – Suối Tiên, Thác Mơ, Thác Ngà, Thác
Hương, Vườn Quốc gia Ba Vì, hồ Suối Hai, rừng nguyên sinh Bằng Tạ, nguồn
nước khoáng thiên nhiên Thuần Mỹ, đồi cò Ngọc Nhị, khu di tích K 9... Trong
đó Ao Vua chính là điểm nổi bật với việc trở thành điểm du lịch đầu tiên đã trải
qua quá trình phát triển hiện chiếm tới trên 60% số lượng du khách, 50%
doanh thu, 80% nộp ngân sách của ngành du lịch Ba Vì.
Quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Du lịch Ao Vua đã cho thấy do
quá phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên lại chủ yếu là các loại hình du lịch sinh
thái, tham quan nghỉ dưỡng tại vùng núi Ba Vì nên đặc điểm nổi trong hoạt
động kinh doanh du lịch ở đây là khá rõ rệt. Nghiên cứu về tính thời vụ sẽ cho
ta một cái nhìn đúng đắn về du lịch Ao Vua, tìm ra những phương hướng, giải
pháp tháo gỡ những khó khăn và giúp cho sự phát triển của Công ty.


2


Chính vì vậy bản báo cáo thực tập tốt nghiệp với đề tài “Tính thời vụ
trong du lịch và các biện pháp khắc phục tại Công ty cổ phần Du lịch Ao Vua”
đã ra đời.
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài khơng chỉ đơn thuần là tính thời vụ
trong kinh doanh du lịch mà còn cả các vấn đề khác có liên quan đến hoạt động
kinh doanh du lịch của công ty: tiềm năng phát triển, các vấn đề nhân lực,
marketing, mối quan hệ với chính quyền và nhân dân địa phương... Trong
phạm vi không gian chủ yếu tại khu du lịch Ba Vì ngồi ra cịn đề cập thêm tới
ngành du lịch của huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây nói chung.
Trong q trình nghiên cứu sẽ vận dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu là: Phương pháp duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử, Phương pháp
thống kê, Phương pháp phân tích tổng hợp, Phương pháp diễn giải, phương
pháp quy nạp.
Mục tiêu của đề tài “Tính thời vụ du lịch và các biện pháp khắc phục tại
Công ty cổ phần du lịch Ao Vua” mong muốn trình bầy được những có sở lý
luận về tính thời vụ trong du lịch, khái quát về Công ty cổ phần du lịch Ao
Vua, và đặc biệt là việc phân tích những yếu tố thời vụ qua hoạt động kinh
doanh của Công ty, qua đó đã khái qt được về tính thời vụ ở đây đồng thời
đã đề ra được một số những giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng bất
lợi của nó.
Vì vậy phần nội dung được bố cục như sau:
Chương 1: Lý luận chung về kinh doanh du lịch và tính thời vụ trong du lịch.
I.
Khái niệm chung về kinh doanh du lịch
1. Du lịch
2. Khách du lịch
3. Tài nguyên du lịch

4. Điểm du lịch, khu du lịch
5. Kinh doanh du lịch
6. Sản phẩm du lịch
7. Doanh nghiệp kinh doanh du lịch
II.
Tính thời vụ trong du lịch
1. Khái niệm
2. ảnh hưởng của tính thời vụ trong du lịch
3. Các nhân tố quyết định
4. Các căn cứ để khác phục tính thời vụ trong du lịch
5. Các biện pháp khắc phục
Chương 2: Giới thiệu về Công ty cổ phần Du lịch Ao Vua

3


I.

Khái quát chung
1. Hoàn cảnh ra đời
2. Lịch sử phát triển
3. Chức năng nhiệm vụ
II.
Cơ sở vật chất kỹ thuật
1. Sơ đồ tổng thể khu du lịch Ao Vua
2. Các khu vực
3. Cơ sở hạ tầng khác
III.
Cơ cấu tổ chức
1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức

2. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
3. Nguồn lao động
IV. Chính sách đối với một số dịch vụ bổ trợ
V.
Mối quan hệ với chính quyền và dân cư địa phương
VI. Kết quả hoạt động kinh doanh
1. Kết quả
2. Nhận xét
VII. Phương hướng, mục tiêu phát triển của Công ty tới năm 2005
Chương 3: Tính thời vụ trong du lịch tại Cơng ty cổ phần Du lịch Ao Vua
I.
Các nhân tố tác động
1. Địa hình
2. Khí hậu
3. Khả năng đón tiếp của Cơng ty
II.
Kết quả kinh doanh theo thời vụ
1. Kết qủa
2. Nhận xét
III.
Kết luận
IV. Giải pháp khắc phục tính thời vụ trong du lịch tại Công ty cổ phần Du lịch
Ao Vua
1. Giải pháp sản phẩm
2. Giải pháp phân phối
3. Giải pháp giá cả
4. Giải pháp xúc tiến hỗn hợp
5. Giải pháp lao động
V.
Kiến nghị đối với Nhà nước.


4


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH DU LỊCH VÀ
TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KINH DOANH DU LỊCH

1. Du lịch
Du lịch có một lịch sử lâu đời, phạm trù du lịch được rất nhiều nhà khoa
học, kinh tế học, du lịch học trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm nghiên
cứu. Có rất nhiều định nghĩa về du lịch được mọi người công nhận, Michael M.
Coltman: du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội ngày càng phổ biến nảy sinh
ra các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế có tính tương hỗ lẫn nhau giữa bốn
nhóm nhân tố khách du lịch, các nhà kinh doanh phục vụ du lịch, dân cư địa
phương và chính quyền địa phương.
Tại Việt Nam, theo Pháp lệnh du lịch thì: Du lịch là hoạt động của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham
quan, giải trí nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.

2. Khách du lịch
Là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm
việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch nội địa là cơng dân Việt Nam, người nước ngồi cư trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.


3. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, cơng trình lao động sáng tạo của con người có thể được
sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các
điểm du lịch, khu du lịch; nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.

5


Tài nguyên du lịch được chia làm hai loại là Tài nguyên du lịch thiên
nhiên và Tài nguyên du lịch nhân văn

4. Điểm du lịch, khu du lịch
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên hấp dẫn có khả năng thu hút khách du
lịch
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch với ưu thế nổi bật về cảnh quan
thiên nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng
của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế xã hội và môi trường

5. Kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
Hoạt động kinh doanh du lịch được chia làm bốn mảng chính:
 Mảng kinh doanh vận chuyển khách du lịch (transportation) kinh
doanh vận chuyển là hoạt động nhằm tạo ra các dịch vụ vận chuyển khách du
lịch: đưa khách du lịch từ nơi cư trú thường xuyên đến điểm du lịch và ngược
lại; vận chuyển khách du lịch tại điểm du lịch.
 Kinh doanh khách sạn (Hospitality) là hoạt động kinh doanh nhằm
tạo ra dịch vụ và hàng hoá nhằm thoả mãn những nhu cầu về lưu trú, ăn uống

và vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch (Những dịch vụ phục vụ ăn uống, vui
chơi giải trí phải nằm trong quần thể khách sạn hoặc khu du lịch thì mới được
gọi là hoạt động kinh doanh du lịch.
 Kinh doanh lữ hành: gồm bốn hoạt động chức năng cơ bản: nghiên
cứu thi trường, xây dựng chương trình (trọn gói hoặc chương trình du lịch từng
phần), quảng cáo và tổ chức bán những chương trình du lịch đã được xây dựng,
tổ chức thực hiện
 Kinh doanh các dịch vụ khác như tư vấn du lịch, thông tin quảng
cáo về du lịch...

6


6. Sản phẩm du lịch
Là tập hợp tất cả các yếu tố có thể thoả mãn những nhu cầu khác nhau
của khách du lịch.
Sản phẩm du lịch bằng Tổng hợp của: Hàng hóa du lịch + Dịch vụ du
lịch + Tài nguyên du lịch.
Thể loại:
 Sản phẩm đơn lẻ là sản phẩm của những nhà cung ứng dịch vụ du
lịch ví dụ sản phẩm của một khách sạn, sản phẩm của một nhà hàng, ...
 Sản phẩm tổng hợp: những chương trình du lịch có thể là trọn gói
hoặc từng phần
Tính chất của sản phẩm du lịch:
 Sản phẩm du lịch chủ yếu mang tính dịch vụ (dịch vụ chiếm 80 –
90%). Giá trị của sản phẩm du lịch là từ dịch vụ dẫn đến sản phẩm du lịch chủ
yếu mang tính vơ hình suy ra có những yếu tố không do nhà kinh doanh quyết
định và như vậy sản phẩm du lịch không thể được đánh giá chất lượng theo
những chỉ tiêu từ phía các nhà kinh doanh mà được đánh giá từ sự cảm nhận
của khách hàng (tính chủ quan) do vậy gây khó khăn trong việc quản lý chất

lượng sản phẩm trong du lịch.
 Sản phẩm du lịch thường được gắn liền với tài nguyên du lịch.
Hướng vận động trong kênh sản xuất tiêu thu là ngược với sản xuất hàng hố
cung tìm đến cầu cịn trong du lịch cầu tìm đến cung dẫn đến gây khó khăn cho
tiêu thụ sản phẩm do thiếu tính chủ động của nhà kinh doanh do đó việc tìm ra
nguồn khách, khai thác nguồn khách là một trong những hoạt động quan trọng
nhất của nhà kinh doanh du lịch.
 Việc tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch là có sự trùng lặp về
mặt không gian và thời gian suy ra sản phẩm du lịch chỉ tồn tại trong một thời
điểm nhất định không thể vận chuyển đến nơi khác, khơng thể tồn kho lưu bãi,
gây khó khăn cho việc hạch toán kinh doanh.
 Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ. Tuy nhiên
mức độ ảnh hưởng của tính thời vụ là khác nhau đối với các loại hình du lịch
khác nhau, đối với các nhà kinh doanh khác nhau.

7


7. Doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Doanh nghiệp kinh doanh du lịch là tập hợp người và vốn có mục đích
kinh doanh để kiếm lời.
Doanh nghiệp du lịch chỉ có thể thực hiện việc tìm kiếm lợi nhuận tối đa
bằng cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch biến động theo hướng
ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn, cao cấp hơn.
Mục tiêu chung là không ngừng nâng cao hiệu quả kinh, mục tiêu cụ thể
gắn với hai loại hình doanh nghiệp, ngồi loại hình hoạt động sản xuất và cung
cấp các hàng hố cơng cộng với mục tiêu không ngừng nâng cao hiệu quả kinh
tế – xã hội trong nhiều trường hợp hiệu quả xã hội được đặt cao hơn hiệu quả
kinh tế. Các doanh ngiệp khác hoạt động theo cơ chế thị trường mục tiêu mà
chúng hướng tới là không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế, lợi nhuận là tiêu

chuẩn hàng đầu cho sự ra đời, tồn tại, phát triển thậm chí phá sản của doanh
nghiệp. Với việc cụ thể hoá mục tiêu hoạt động kinh doanh về mặt tài chính
(quản lý vốn): bảo toàn, phát tiển vốn sản xuất kinh doanh; theo độ dài thời
gian: trong thời kỳ ngắn hạn tìm kiếm lợi nhuận tối da trong điều kiện có thể,
trong thời kỳ dài hạn hướng tới lợi ích kinh tế tối ưu thể hiện ở ba mặt là đạt
được lợi nhuận tối ưu trong thời kỳ dài hạn, mức độ ổn định của hoạt động thị
trường, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Chức năng, có ba chức năng cơ bản là

Sản xuất và cung cấp các hàng hoá dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của
thị trường du lịch ngày càng đa dạng, cao cấp, và phong phú hơn

Làm chức năng phân phối theo hai hướng: tìm ra các kênh, luồng
phân phối để đưa các sản phẩm dịch vụ du lịch của mình đến với du khách một
cách có hiệu quả nhất và phân phối một cách công bằng hợp lý mọi kết quả sản
xuất kinh doanh đạt được.

Làm chức năng xã hội, có trách nhiệm với cộng đồng, đối với địa
phương, đối với đất nước.

Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước cịn có chức năng là cơng
cụ điều tiết trong tay Nhà nước để làm bình ổn thị trường, tạo mơi trường và
điều kiện kinh doanh lành mạnh, công bằng cho mọi loại hình doanh nghiệp.
Vị trí (mối quan hệ cơ bản) của doanh nghiệp du lịch là:
8


Doanh nghiệp du lịch là một chủ thể kinh doanh có quyền tự chủ, độc
lập, tự quyết định những vẫn đề sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm cả
về mặt kinh tế và pháp lý đối với kết quả thực hiện.

Là một đơn vị kinh tế, một tế bào của nền kinh tế quốc dân và là một
phân hệ kinh tế mở trong nền kinh tế khu vực và thế giới.
Là một đơn vị, tổ chức xã hội nơi hàng ngày hàng giờ người lao động
thực hiện và giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối phát triển kinh
tế, nơi chăm lo phát triển toàn diện nhân tố con người
Nhiệm vụ của doanh nghiệp du lịch: được xem xét theo ba hướng: nhiệm
vụ đối với Nhà nước, đối với các doanh nghiệp khác và đối với nội bộ bản thân
doanh nghiệp.

9


II. TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH

1. Khái niệm
Tính thời vụ trong du lịch là những biến động lặp đi lặp lại theo một chu
kỳ thời gian của cung và cầu du lịch (đối với các sản phẩm du lịch) diễn ra
dưới tác động của một số nhân tố xác định như thời tiết, khí hậu, loại hình du
lịch... và trong thực tế thì đó là tập hợp những biến động theo mùa của cung và
cầu du lịch tại các khu du lịch.
Tính thời vụ có ở tất cả các điểm, các khu vực có hoạt động du lịch.
Nhưng quá trình diễn ra giữa các vùng, các khu vực có sự khác nhau phụ thuộc
vào các yếu tố khác.
Một điểm du lịch, khu du lịch thì có thể có một hoặc nhiều thời vụ du
lịch và nó phụ thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở khu vực đó.
Tại các khu vực mà hoạt động du lịch phát triển thì mùa du lịch thường
kéo dài hơn, mức độ thay đổi của cường độ hoạt động du lịch nhỏ hơn.
Độ dài của mùa du lịch và cường độ mùa chính cịn phụ thuộc vào thể
loại du lịch khác nhau. Thơng thường loại hình du lịch chữa bệnh thường có độ
dài hơn nhưng cường độ yếu vì giá trị tài nguyên du lịch phục vụ cho loại hình

du lịch này ít biến động trong năm. Trong khi đó du lịch nghỉ biển thì ngược
lại: mùa du lịch ngắn hơn nhưng cường độ mùa chính cao hơn nhiều vì tài
ngun du lịch phục vụ cho thể loại này phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu.
Để đơn giản hố ta có thể nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch qua sự
thay đổi của cường độ hoạt động kinh doanh du lịch qua các khoảng thời gian
(mỗi tháng, mỗi ngày). Về mặt tổng quát có thể biểu thị thời vụ du lịch theo đồ
thị sau:

10


Cường độ hoạt động

Một chu kỳ kinh doanh

Thời gian

Chính vụ
Trước vụ

Sau vụ
Đỉnh vụ

Trong đó:
Chính vụ: (trong vụ) là khoảng thời gian mà cường độ hoạt động du lịch
mạnh và cũng chính là thời gian mà doanh thu cũng như số lượng khách hàng
tập trung chủ yếu.
Đỉnh vụ: là thời điểm mà cường độ hoạt động đạt mức cao nhất.
Ngoài vụ: (trái vụ) là khoảng thời gian khơng phải là chính vụ, thời điểm
lượng khách cũng như doanh thu mang lại là ít, rất nhỏ bé so với thời điểm

chính vụ. Ngồi vụ bao gồm có trước vụ và sau vụ.
Trước vụ: khoảng thời gian trước chính vụ.
Sau vụ: khoảng thời gian sau chính vụ.
Tính thời vụ du lịch tồn tại một cách khách quan, nó gắn liền với ngành
du lịch và gây ra rất nhiều khó khăn cho việc kinh doanh đối với các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch. Ngoài ra nó cịn gây một số tác hại về mặt kinh tế
xã hội, tổ chức sản xuất kinh doanh... Sau đây xin được nêu các ảnh hưởng của
tính thời vụ trong du lịch.

11


2. Ảnh hưởng của tính thời vụ trong du lịch
Đối với tài nguyên du lịch. Tính thời vụ trong du lịch làm cho việc sử
dụng tài nguyên du lịch bất hợp lý, gây ra lãng phí lớn. Cụ thể là trong mùa
chính thì sử dụng q tải nguồn tài ngun dẫn đến xuống cấp, cạn kiệt hoặc
những hư hỏng. Trong khi đó khoảng thời gian trái vụ lại hầu như không được
sử dụng cũng như không kịp để sửa chữa, phục hồi.
Đối với môi trường sinh thái. Với cường độ hoạt động cao trong mùa vụ
sẽ dẫn đến những tác động không nhỏ tới môi trường sinh thái. Xả rác thải bừa
bãi, ô nhiễm nguồn nước, chặt cây phá rừng, làm hỏng cảnh quan.
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở kinh doanh du lịch.
Tính thời vụ làm cho hoạt động của cơ sở kinh doanh không đều, vào mùa vụ
thì cường độ hoạt động cao dẫn đến doanh thu, lợi nhuận cao cịn ngồi vụ thì
cường độ hoạt động thấp chỉ mang tính chất duy trì. Như vậy hiệu quả sản xuất
kinh doanh khơng đồng đều.
Tính thời vụ cịn tác động rất lớn tới tình hình nhân lực. Việc sử dụng
cũng như trình độ nhân lực gặp rất nhiều tác động xấu. Cụ thể là trong thời
gian chính vụ cần một đội ngũ lao động đơng đảo, với rất nhiều các công đoạn,
công việc cụ thể khác nhau trong khi đó ngồi vụ thì chỉ cần một lượng lao

động vừa phải với tính chất cơng việc chỉ là nhằm duy trì. Điều này dẫn tới rất
khó khăn cho đơn vị kinh doanh du lịch trong việc tuyển chọn đào tạo và sử
dụng nguồn nhân lực trong mùa vụ, thường thì khi chuẩn bị vào mùa vụ lại
phải tổ chức tuyển chọn và đào tạo cho một số lao động lớn nhưng khi hết mùa
vụ thì lượng lao động này lại khơng có việc và họ phải tìm kiếm các cơng việc
khác nhằm duy trì cuộc sống, đến vụ sau việc tuyển chọn và đào tạo gần như
phải làm mới hoàn toàn với những con người mới. Chính vì vậy trình độ của
đội ngũ lao động khơng được đảm bảo.
Tính thời vụ trong du lịch cịn ảnh hưởng cả đến các du khách. Đó là
việc du khách vào chính vụ thì qúa đơng dẫn đến nhìn xung quanh lúc nào
cũng chỉ thấy người là người, các dịch vụ thì có khi lại khơng đảm bảo chất
lượng với việc xô bồ lộn xộn, giá cả cao hoặc bị chèn ép, có khi lại gặp những
trường hợp quá tải dẫn đến khơng có dịch vụ đáp ứng như khơng có phịng cho
th, khơng có hàng ăn, giải khát...

12


Ngồi ra tính thời vụ trong du lịch cũng có ảnh hưởng đến nhiều đối
tượng khác như: đối với dân cư địa phương bị ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế
xã hội đặc biệt là đối với những người có đời sống gắn liền với hoạt động du
lịch ví dụ những người bán hàng rong... ; chính quyền địa phương thất thu các
khoản thuế, lệ phí khơng nhỏ ngồi mùa vụ; các ngành nghề lĩnh vực kinh tế
khác như ngành nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ,
điện, nước, viễn thông cũng bị ảnh hưởng trong việc cung cấp các sản phẩm,
dịch vụ phục vụ cho hoạt động du lịch.

3. Các nhân tố quyết định
Các nhân tố quyết định đến tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch được
xem xét là những nhân tố có tác động đến các tính chất, độ dài, cường độ, sự

dao động... của tính mùa vụ, các nhân tố này bao gồm có khí hậu, địa hình, đặc
điểm tài ngun, thời gian rỗi, phong tục tập quán, đặc điểm của đơn vị kinh
doanh.
Khí hậu. Khí hậu là nhân tố cơ bản quyết định tới tồn bộ lĩnh vực kinh
doanh du lịch chứ khơng chỉ là tính mùa vụ. Khí hậu bao gồm có các yếu tố:
nhiệt độ, độ ẩm, số ngày mưa, nắng cùng các hiện tượng thời tiết đặc biệt khác.
Các yếu tố này có sự thay đổi theo một quy luật nhất định hình thành nên các
mùa khác nhau trong năm như mùa xuân - hạ - thu - đông, mưa - khơ, nóng lạnh. Và theo sự thay đổi này mà hình thành nên tính mùa vụ của hoạt động
kinh doanh du lịch.
Địa hình. Địa hình có mối quan hệ khăng khít với khí hậu và chúng làm
nên các giá trị tài nguyên thiên nhiên cho điểm du lịch. Các yếu tố địa hình
nhìn chung mang tính ổn định lâu dài nhưng khơng vì thế mà khơng có sự ảnh
hưởng đến tính thời vụ trong du lịch . Sự ảnh hưởng thể hiện ở việc địa hình
làm nên đặc điểm của tài nguyên du lịch thiên nhiên và tác động đến cung cầu
của hoạt động kinh doanh du lịch.
Văn hóa. Văn hóa và du lịch là hai lĩnh vực khác nhau nhưng lại có mối
quan hệ mật thiết vì lẽ văn hoá là tài nguyên của du lịch, là sản phẩm đặc trưng
của du lịch và nó cũng là một trong những điều kiện để cho du lịch phát sinh và
phát triển. Văn hoá được định nghĩa là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực
tiễn trong sự trường tồn giữa mơi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hố
13


trong du lịch được nhắc đến chủ yếu là các tài nguyên du lịch nhân văn - là một
trong những nguồn lực cho sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn
tác động tới hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh doanh du lịch trong đó có
tính thời vụ. Nó thể hiện qua các giá trị văn hoá của vùng đất diễn ra hoạt động
du lịch, qua các phong tục tập quán (chính là những tập tục, nền nếp thói quen
lâu đời của người dân) và qua các giá trị tín ngưỡng tơn giáo của người dân.

Điều này càng có ý nghĩa trong các thể loại du lịch văn hoá: lễ hội – thường
diễn ra chủ yếu và xung quang dịp lễ hội như du lịch lế hội Chùa Hương
thường diễn ra từ sau Tết Nguyên đán dến hết mùa xuân; du xuân – thường
diễn ra vào mùa xuân sau tết Cổ truyền của dân tộc; các cuộc hành hương về
quê hương, đất tổ, vùng đất thánh ...
Thời gian rỗi. Đây là một nhân tố rất quan trọng, cũng là một điều kiện
cho sự phát triển du lịch. Có thời gian rỗi thì du khách mới có thời gian đi du
lịch. Thời gian rỗi bao gồm thời gian nghỉ cuối tuần, nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ
hè... Thời gian rỗi quyết định đến thời điểm đi du lịch của du khách và vì vậy
dẫn đến tính thời vụ trong du lịch. Cụ thể đối với các điểm du lịch thì thời điểm
cuối tuần bao giờ cũng đơng khách nhất, các chương trình du lịch nghỉ biển thì
đơng khách vào mùa hè, với đối tượng khách là học sinh, sinh viên thì mùa hè
chính là thời điểm họ đi du lịch nhiều nhất. Tại các điểm du lịch khác nhau cần
dựa vào thị trường mục tiêu của mình với các đặc điểm thời gian rỗi như thế
nào mà cần có một chính sách hợp lý cho hoạt động kinh doanh.
Đơn vị kinh doanh du lịch. Thể hiện sự tác động tới tính thời vụ ở khả
năng sẵn sàng đón tiếp khách chủ yếu được thể hiện trong các khoảng thời gian
trái vụ là như thế nào, có đáp ứng được những yêu cầu về sản phẩm dịch vụ du
lịch khơng, chất lượng cung cấp là tốt hay xấu.
Ngồi những nhân tố trên cịn có một số các nhân tố khác nhưng mức độ
tác động yếu hoặc chỉ trong một số trường hợp cá biệt.

14


4. Các căn cứ để khắc phục tính thời vụ trong du lịch .
Việc khắc phục tính thời vụ du lịch là một yêu cầu cấp thiết trong kinh
doanh du lịch đặc biệt là đối với các điểm du lịch bị ảnh hưởng nặng của nó.
Một số căn cứ để đề ra các biện pháp khắc phục là:
• Căn cứ vào sức hấp dẫn và khả năng tiếp nhận của tài ngun du lịch

hiện có ở khu du lịch.
• Căn cứ vào số lượng khách du lịch hiện tại của Công ty cũng như số
lượng khách du lịch tiềm năng mà Cơng ty sẽ thu hút được trong tương lai.
• Căn cứ vào sức tiếp nhận của cơ sở vật chất kỹ thuật ở khu du lịch là
lớn hay nhỏ.
• Căn cứ vào nguồn cung ứng lao động ở địa phương, trình độ nghiệp
vụ của cán bộ cơng nhân viên cũng như kinh nghiệm tổ chức hoạt động du lịch
tại điểm du lịch.
• Căn cứ vào khả năng kết hợp các loại hình du lịch có đồng nhất hay
khơng. Theo hướng phát triển đồng thời nhiều thể loại du lịch nhằm hạn chế
tính thời vụ ở khu du lịch. Để phát triển các loại hình du lịch ở khu du lịch còn
phụ thuộc vào các yếu tố tại khu du lịch đó như:
o Tính hấp dẫn của tài ngun du lịch ngồi mùa chính đối với thể
loại du lịch cơ bản.
o Khả năng huy động những tài nguyên chưa được khai thác, tức là
những tài nguyên có khả năng phát triển cho loại hình du lịch
khác.
o Cơ cấu nguồn khách du lịch tiềm năng cho thể loại du lịch mới.
o Nguồn vốn đầu tư để có thể huy động cho việc xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ cho loại hình du lịch mới (chú ý xét tới
tính hiệu quả của nó) và việc thực hiện các loại hình du lịch đó.

15


5. Các biện pháp khắc phục
5.1 Đối với doanh nghiệp
Thứ nhất: làm tăng cầu du lịch tại các thời điểm ngoài mùa vụ. Tổ chức
nghiên cứu thị trường nhằm xác định thị trường mục tiêu cần chú ý quan tâm
đến những vấn đề sau:

• Tập trung thu hút khách du lịch cơng vụ đến điểm du lịch của mình
bởi ưu điểm của loại khách này là không phụ thuộc nhiều vào thời vụ du lịch
và có khả năng thanh tốn cao.
• Tập trung thu hút nhóm khách du lịch tiềm năng là cán bộ công nhân
viên chức mà do đặc điểm nghề nghiệp, họ khơng có thời gian rỗi trong mùa vụ
chính.
• Tập trung thu hút nhóm khách hàng là những người hưu trí cao tuổi,
ưu điểm của loại khách này là không bị ràng buộc về thời gian đi du lịch,
thương hay lưu trú dài ngày.
• Tập trung thu hút nhóm khách hàng là các gia đình có con nhỏ, thu
nhập thấp và những người có nhu cầu đặc biệt khơng liên quan đến mùa vụ
chính.
Qua đó bằng các chính sách Markettinh – mix: chính sách sản phẩm, giá
cả, phân phối và xúc tiến bán để có thể lơi kéo thị trường mục tiêu này đến với
doanh nghiệp nhất là trong các khoảng thời gian trước và sau mùa vụ với mục
tiêu thu hẹp dần khoảng cách về cường độ hoạt động du lịch giữa trái vụ và
chính vụ.
Thứ hai: Nâng cao khả năng sẵn sàng đón tiếp khách tại các thời điểm
ngồi chính vụ của doanh nghiệp. Theo hướng này cần chú trọng đến những
vấn đề sau đây: Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm phục vụ du khách ngồi
mùa vụ chính; ln trong trạng thái sẵn sàng các yếu tố dịch vụ cung cấp cho
du khách; đội ngũ cán bộ, công nhân viên đầy đủ, sẵn sàng phục vụ kịp thời
các yêu cầu của công việc.
Thứ ba: Ngiên cứu đặc điểm của doanh nghiệp để có thể phát triển
nhiều loại hình thể loại du lịch. Vì như vậy sẽ có được nhiều chương trình, sản
phẩm du lịch mới đưa ra thị trường làm hạn chế thêm những tác động của các
nhân tố ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch .
5.2 Về phía Nhà nước
16



Khơng chỉ có những tác động xấu tới bản thân doanh nghiệp mà qua
những phân tích ở trên ta thấy rằng tính thời vụ trong du lịch cịn gây ảnh
hưởng bất lợi tới các yếu tố kinh tế – xã hội của địa phương, tới các ngành
nghề khác có liên quan và tới cuộc sống của nhân dân. Chính vì vậy Nhà nước
mà cụ thể là các cấp chính quyền, cơ quan quản lý ngành du lịch, các cơ quan
quản lý các ngành có liên quan cần phải có chính sách hỗ trợ và khuyến khích
các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ngồi thời điểm chính vụ.
Nhà nước có thể hỗ trợ bằng các cách khác nhau sau đây:


Miễn, giảm thuế, lệ phí trong các khoảng thời gian ngồi chính vụ.


Miễn, giảm giá thành các yếu tố đầu vào của q trình sản xuất
kinh doanh như điện, nước...

Có các biện pháp hỗ trợ đời sống cho những người dân bị ảnh
hưởng bởi hoạt động kinh doanh du lịch bị giảm sút đình trệ như: tổ chức nghề
phụ, trợ cấp ....

Tạo cơng việc cho bản thân khu du lịch hay phía doanh nghiệp
như giao tổ chức các hoạt động khác cho Nhà nước, hay tổ chức ra các chương
trình du lịch hoạt động phục vụ lợi ích cơng cộng.

Lợi dụng thời điểm ngồi chính vụ để tổ chức các lớp học đào tạo,
nâng cao trình độ nghiệp vụ cho người lao động cũng như dân cư địa phương,
làm các công việc mà có thể ảnh hưởng xấu cho hoạt động du lịch nếu tổ chức
vào chính vụ ví dụ sửa chữa đường xá.
5.3 Về phía người dân

Người lao động tại đơn vị kinh doanh du lịch và người dân có hoạt động
gắn liền với hoạt động kinh doanh du lịch phải chủ động đối mặt với tính thời
vụ du lịch, khơng để nó gây ra những bất lợi cho mình hoặc là hạn chế đến
mức thấp nhất những bất lợi đó.
Với du khách cần có suy nghĩ đúng đắn trong việc lựa chọn thời điểm đi
du lịch. Nếu có thể thì đi du lịch vào những thời điểm ngoài mùa vụ khi mà vẫn
đạt được lợi ích mà mình đặt ra.

17


CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH AO VUA.

I. KHÁI QUÁT CHUNG

1. Hoàn cảnh ra đời.
Giữa những năm 80 của thế kỷ, sau những bộn bề lo toan, hồi phục của
đất nước sau thời chiến, những khó khăn của xã hội quan liêu bao cấp và cùng
với công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhu cầu đi tham quan thắng
cảnh, vui chơi giải trí của người dân bắt đầu được chú trọng. Một số các địa
điểm có phong cảnh đẹp, đặc sắc bắt đầu được khai phá.
Nằm trong một khu vực đồi núi rộng với quần thể núi Ba Vì hùng vĩ.
Đây là dãy núi đá vơi bao gồm nhiều ngọn núi trong đó có ba đỉnh cao nhất là
đỉnh Vua 1.296 m, đỉnh Tản Viên 1.226 m và đỉnh Ngọc Hoa 1.220 m. Sườn
núi phía đơng thoai thoải, sườn phía Tây dốc ngược xuống dòng Đà giang hung
dữ. Vùng đồi gò dưới chân và bao quanh núi Ba Vì có độ cao trên 11 m so với
mực nước biển với rất nhiều khe nứt gẫy bị cắt sẻ do sự xâm thực của các dòng
nước chảy từ trên đỉnh núi xuống như thác trong mùa mưa cùng nhiều hồ nước
lớn như hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô - Ngải Sơn... Thảm động thực vật ở đây cực
kỳ phong phú với nhiều loài động thực vật quý hiếm, khu rừng nguyên sinh với

100 ha trên độ cao từ 800 m trở lên.
Khu vực này cịn là một vùng đất cổ có lịch sử quần cư lâu đời, với ba
dân tộc là người Kinh, Mường, Dao cùng sinh sống. Cũng là một vùng đất có
vị trí chiến lược về quân sự với rất nhiều các đơn vị quân đội; các trường học,
cơ quan hành chính sự nghiệp...
Trong bối cảnh như vậy khu du lịch Ao Vua ra đời từ rất sớm qua sự
phát hiện của dân cư địa phương. Ao Vua ở sườn núi phía bắc của núi Ba Vì,
trên độ cao từ 70 - 80 mét giữa cảnh trí thanh u của một vùng núi rừng tĩnh
mịch, một dòng suối đẹp từ trên cao đổ xuống đã tạo ra nhiều cái thác và
những bồn tẵm thiên nhiên đầy thú vị. Đẹp nhất là thác dưới cùng tức thác Ao
Vua, dưới chân thác là một hồ nước nhỏ nơi sâu nhất khoảng 5 - 6 mét, nước
trong xanh và không bao giờ cạn. Hồ nước này chính là Ao Vua theo truyền
thuyết đây là bãi chiến trường của huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh để giành
lấy công chúa Ngọc Hoa con của vua Hùng Vương thứ 18. Trở thành địa điểm
tham quan duy nhất lúc bấy giờ của thể loại lội suối, ngắm cảnh rừng núi. Sau
đó cùng với tiến trình đổi mới, đời sống của nhân dân khấm khá lên, nhu cầu
18


nghỉ ngơi, du lịch trở nên bức thiết hơn. Đã địi hỏi khu vực này cần có một
khơng gian cảnh quan, phương thức tổ chức quy củ hơn.
2. Lịch sử phát triển.
Đó là vào khoảng giữa những năm 80, đến năm 1988 UBND huyện Ba
Vì đã cho thành lập ở đây một Tổ Dịch vụ nhằm đưa các hoạt động du lịch vào
nề nếp để quản lý và phục vụ du khách. Tổ Dịch vụ lúc đầu do các xã viên của
Hợp tác xã nơng nghiệp Tản Lĩnh làm nịng cốt cịn mang tính chất thơ sơ dân
dã, sau đó đã được chuyên trách hơn (thực chất là hình thức “thầu” của một số
tư nhân), được Thành phố Hà Nội (lúc bấy giờ) UBND huyện Ba Vì chú ý và
đầu tư. Thời điểm này Tổ Dịch vụ đã làm được khá nhiều việc như xây dựng
đường giao thông trải nhựa từ Tỉnh lộ 87 vào tận chân thác dài 4 km, cải tạo

dòng suối làm đường đi lên theo dòng suối, các hàng rào bảo vệ và các biện
pháp an toàn cho du khách, xây dựng các khu nhà khách, phòng ăn và các dịch
vụ khác. Năm 1988 nơi đây đón được 8000 lượt người.
Đầu năm 1994 với sự phát triển của khu du lịch một dự án đầu tư lớn
hơn được thực hiện, Cơng ty du lịch Ba Vì ra đời thay thế cho Tổ Dịch vụ,
Khách sạn Hương Rừng với 30 phòng được xây dựng. Lúc này khu du lịch Ao
Vua được lột xác hoàn toàn với sự bề thế tiện nghi hơn. Tiếng tăm của khu du
lịch bắt đầu được lan xa, lượng khách đến với khu du lịch đông lên rất nhiều,
không chỉ từ các vùng lân cận mà khách từ Hà Nội và các địa phương khác.
Ngày 1-4-1999 trở thành cái mốc chính thức ra đời Công ty Cổ phần Du
lịch Ao Vua theo Quyết định 267 của UBND tỉnh Hà Tây trên cơ sở sự sát
nhập của hai doanh nghiệp là Công ty Du lịch Ba Vì và Khách sạn Hương
Rừng. Bao gồm 8 cổ đơng, trong đó Nhà nước chiếm 8%. Tổng số vốn ban đầu
gồm có 4 tỷ 658 triệu đồng, trong đó vốn lưu động là 223 triệu đồng. Đến nay
ước tính tổng giá trị tài sản của cơng ty lên tới 17,5 tỷ đồng.

19


3. Chức năng, nhiệm vụ
Tổ chức kinh doanh khai thác hoạt động du lịch tại khu du lịch Ao Vua.
Công ty đã đầu tư xây dựng nhiều cơng trình hạng mục phục vụ cho yêu cầu
nhiệm vụ của mình. Đã tổ chức tốt việc kinh doanh, đón và phục vụ du khách
đến khu du lịch.
Tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động tại công ty cũng như các
dịch vụ khác có thu nhập cho người dân địa phương.
Thực hiện các công tác xã hội tại địa phương và nghĩa vụ nộp thuế cho
nhà nước.

20



II. CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT

1. Sơ đồ tổng thể khu du lịch Ao Vua
Đồi núi
Đồi
núi

Ao Vua

Khu chân thác
Đồi
núi

Bể bơi

Khu
Trung
Tâm

Khu
Nhà
Sàn

Bể
bơi

Khu
Khách

Sạn

Đền thờ
Đức
Thánh

Nhà
dân

Đồi
núi

Tản

Nhà
Hàng
Bình
Dân
C

ng
ph

Khu
Ni
Thú

Hồ
n
Diên


Đồi
núi

Hồng
Cổng


Nhà dân
21


2. Các khu vực
Tọa lạc trên diện tích gần 20ha (khu vực chính), quần thể khu du lịch Ao
Vua được chia làm sáu khu vực là: khu Trung tâm, khu Chân thác, khu Nhà
sàn, khu Khách sạn, khu Vườn thú và Nhà hàng bình dân.
Khu Trung tâm: gồm 3 tịa nhà hai tầng được dùng làm văn phòng làm
việc, phòng tiếp khách, 1 phòng hội thảo 50 chỗ, 1 nhà hàng 100 chỗ, 9 phòng
mát-xa, 2 phòng karaoke và 30 phòng nghỉ, khu y tế; ba bể bơi, hệ thống cầu
trượt gồm 4 làn cao 11m, dài 60m cùng các cầu trượt nhỏ; khu đu quay đảo, trò
chơi dân gian cùng với các hình thức dịch vụ khác
Khu Chân thác: gồm có một nhà hàng giải khát hai tầng rất rộng với
khoảng 400 chỗ ngồi có cảnh quan rất đẹp tuy được bố trí cịn đơn giản bằng
bàn ghế nhựa. Một nhà hàng ăn uống một tầng với khoảng 100 chỗ phục vụ các
món ăn đơn giản. Hai bể bơi rộng, xây dựng khá đẹp, với bốn làn trượt nước
hai làn cao thiết kế hình con rồng và hai làn nhỏ thiết kế hình con rắn. Cùng
các phịng th, thay quần áo, gửi đồ, phòng tắm.
Khu Nhà sàn: gồm một nhà sàn to trung tâm với quầy bar, chỗ ngồi uống
nước, xây dựng bằng gỗ theo đúng dáng dấp nhà sàn dân tộc Mường. Và 20
nhà sàn nhỏ là các phòng nghỉ (mỗi căn nhà chia làm hai hoặc bốn phịng)

được xây dựng bê tơng, khép kín với đầy đủ trang thiết bị.
Khu Khách sạn: gồm một nhà ăn rộng 200 chỗ với các trạng thiết bị khá
hiện đại, một phòng hội thảo rộng 150 chỗ, và 20 phòng nghỉ tiện nghi và một
số phòng dùng làm phỏng ở cho nhân viên, nhà kho.
Khu Vườn thú: mới được xây dựng sẽ hoàn thành vào cuối tháng 3 năm
2002 với tổng vốn đầu tư vào khoảng 1 tỷ đồng. Bao gồm có hồ nước rộng gần
1 ha sẽ được dùng cho bơi thuyền, nhà nổi; khu Thuỷ Cung, động Sơn Tinh –
Thuỷ Tinh; khu vườn thú với các loài thú quý hiếm như hổ, báo, gấu, khỉ vượn;
khu vườn Bướm, chim chóc....; vườn cây cảnh với phong lan, địa lan, và các
cây quý khác; nhà dịch vụ...
Khu nhà ăn Bình dân: là một khu nhà cấp bốn rộng toạ lạc gần cổng,
phục vụ nhu cầu ăn uống bình dân của du khách
Khu vực bán hàng lưu niệm: vừa được xây dựng lại bàng tôn khá đẹp
(trước là bằng tre lợp rơm) trên nền xi măng cao ráo dọc bên đường đi nhưng
không hề gây cản trở cho giao thông cũng như gây mất mỹ quan. Có 40 gian

22


hàng quán được xây dựng kiểu này. Khi vào vụ cịn có khá nhiều gian hàng
qn khác được mở thêm.
Các bãi trông giữ xe cho khách là các khoảng không gian rộng lớn giữa
các khu vực đủ cho một lượng xe rất lớn.
Đền thờ Đức Thánh Tản phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của
du khách
...

3. Các cơ sở hạ tầng khác
3.1 Hệ thống nước
Được dẫn qua hệ thống ống dẫn từ dòng suối trên núi chảy về, qua một

bể lắng lọc rồi trữ trong một bể nước to để chủ động phục vụ nhu cầu sinh hoạt
cho cả khách và nhân viên của công ty ngay trong mùa mưa cũng như mùa
khơ. Mặt khác đây cịn là nguồn cung cấp nước cho hệ thống bể bơi, cầu trượt
nước ...
3.2 Hệ thống thông tin liên lạc
Đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thông tin liên lạc viễn thông của Công ty
cũng như du khách với hệ thống liên lạc bằng điện thoại cả trong nước và quốc
tế, điện thoại cơng cộng dùng thẻ có một trạm, điện thoại di động đã được phủ
sóng với chất lượng rất tốt.
3.3 Hệ thống giao thơng
Có được sự quan tâm đầu tư của tỉnh, huyện và bản thân Công ty. Đường
giao thông rải nhựa từ ngoài đường tỉnh lộ 87 vào tận công ty dài 4 km với chất
lượng tốt, bề rộng 4 mét cùng khoảng lưu không rộng 3 met hai bên đường.
Đường đi trong cơng ty tồn bộ được đổ đê tơng, ơ tơ ca có thể dễ dàng vào tới
tận sát các khu vực. Hệ thống cấu cống cũng được xây dựng hiện đại với hai
cây cầu lớn bằng bê tông bắc qua suối. Đường lội suối được chỉnh sửa hay giữ
nguyên nét hoang sơ với nhiều lối đi khác nhau bằng những bậc đá, xi măng
hoặc bằng tre, gỗ với các biện pháp đảm bảo an toàn đến tận cùng của dòng
suối.

23


III. CƠ CẤU TỐ CHỨC
1. Sơ đồ tổ chức
HĐQT

Giám đốc

Phó Giám đốc

An ninh trật tự cảnh quan

Tổ
Bảo
vệ

Tổ
Mơi
trường

Tổ
Xây
dựng

Phó giám đốc kiêm Trưởng
phịng Kinh doanh

Tổ
Hành
chính

Tổ
Y tế

Tổ
Cảnh
quan

Khu Trung tâm
Khu Chân thác


Văn phịng đại
diện tại Hà
Nội

Khu Nhà sàn

Khu Khách sạn

Khu Vườn Thú
Khu nhà ăn Bình dân
24


2. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
Hội đồng quản trị: Gồm 8 thành viên, do ông Nguyễn Mạnh Thản làm
Chủ tịch. Hội đồng quản trị và Chủ tịch có chức năng nhiệm vụ được quy định
theo như Điều lệ Cơng ty. Ngồi ra cịn có Ban Kiểm sốt.
Giám đốc: Nguyễn Mạnh Thản, là người đại diện theo Pháp luật của
Công ty, điều hành chung các công việc hàng ngày của Công ty và rất nhiều các
công việc khác, có quyền hành rất lớn.
Phó Giám đốc phụ trách An ninh trật tự cảnh quan: (Thiện) Chịu trách
nhiệm điều hành các công việc thuộc lĩnh vực về An ninh, trật tự, cảnh quan.
Quản lý trực tiếp ba tổ: tổ Bảo vệ, tổ Mơi trường và tổ Xây dựng. Ngồi ra cịn
thực hiện các cơng việc khác.
Tổ Bảo vệ: có một trưởng phịng phụ trách chung, xắp sếp cơng việc ca
trực, chấm cơng ... Có từ 15 đến 20 người tuỳ theo mùa vụ. Phịng bảo vệ thực
hiện các cơng việc về bảo vệ An ninh trật tự giữ gìn cảnh quan tài sản vật chất.
Tổ Môi trường: gồm 15 người, với nhiệm vụ giữ gìn vệ sinh chung, sửa
chữa cơ sở vật chật kỹ thuật toàn khu như các lĩnh vực điện nước, nhà cửa.

Trồng, chăm sóc, bảo vệ cây cảnh, hồ nước và rừng cây chung quanh.
Phó Giám đốc Phụ trách Kinh doanh, kiêm Trưởng phòng Kinh doanh:
(Điểm) Điều hành các công việc kinh doanh hàng ngày của Công ty, ngồi ra
cịn phụ trách phịng tài vụ, các cơng tác tài chính, chấm cơng, trả lương cho
người lao động. Quản lý năm khu vực là: khu Trung tâm, khu Chân thác, khu
Nhà sàn, khu Khách sạn và Vườn thú ; cùng tổ Hành chính, tổ Y tế, tổ Cảnh
quan.
Tổ Cảnh quan: gồm 5 người, làm công việc bán vé vào cổng.
Tổ Y tế: gồm 2 người, với các trang thiết bị, đồ dùng, thuốc thang, phục
vụ sơ cứu tạm thời.
Tổ Hành chính: gồm 5 người, thực hiện các cơng việc văn thư, đánh máy,
kế tốn tài chính, chấm cơng, trả lương cho người lao động.
Văn đại diện tại Hà Nội: mới được ra đời có trụ sở tại 78B Nguyễn Du –
Hà Nội. Văn phòng gồm 3 nhân viên và 5 người làm cộng tác viên.

25


3. Nguồn lao động
Đặc điểm nổi bật của lao động của Cơng ty là gần như tồn bộ lao động
được bố sinh hoạt trong khuôn viên của khu du lịch.
Thời gian lao động và các nội quy lao động được tuân thủ chặt chẽ.
Khối lượng công việc không nhiều (trừ số ít những lúc cao điểm) và ít
địi hỏi tính chun mơn hố, ln có sự cơ động thay thế giữa các bộ phận.
Kết cấu lao động:
Các chỉ tiêu
1. Tổng số lao động
2.Trình độ nghiệp vụ :
o Đại học, cao đẳng
o Trung cấp

o Sơ cấp
3. Lao động trực tiếp
4. Lao động gián tiếp
5. Số lượng Nam
6. Số lượng Nữ

(Số liệu tháng 4 năm 2002)
Số lượng (người)
Tỉ trọng (%)
120
100
12
40
68
100
20
37
83

10,0
33,3
57,7
83,3
16,7
30,8
69,2

Qua bảng trên ta thấy Lực lượng lao động gián tiếp của Công ty chỉ có
16,7% tổng số lao động nhưng chủ yếu là đội ngũ lãnh đạo các bộ phận đòi hỏi
ở bộ phận gián tiếp phải có trình độ chun mơn, trình độ quản lý giỏi thì mới

tổ chức và điều hành tốt việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra. Ngồi ra cịn địi
hỏi ở bộ phận này khả năng nắm bắt các thông tin kinh tế, sự thay đổi về nhu
cầu thị hiếu của khách du lịch, đồng thời phải xử lý các thơng tin đó một cách
nhanh nhạy và chính xác để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp, các kế
hoạch tối ưu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở cả hiện
tại và cả trong tương lai. Do vậy để đáp ứng địi hỏi đó, bộ phận gián tiếp của
cơng ty du lịch Ba Vì chủ yếu đã được đào tạo nghiệp vụ chun mơn ở trình
độ đại học. Bộ phận lao động gián tiếp không trực tiếp tạo ra doanh thu cho
doanh nghiệp nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh và tình
hình hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, lượng lao động ở bộ phận này lại
khơng chịu sự biến động của tính thời vụ du lịch nên chi phí hàng năm cho bộ
26


×