Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM (Kỳ 3) potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (162.44 KB, 6 trang )

NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM
(Kỳ 3)
3.2.2. Viêm phế quản cấp (VPQC) hay viêm khí phế quản cấp (VKPQC):
- Thực ra, VPQC thường bao gồm cả viêm khí quản và các thành phần khác
của đường hô hấp trên và dưới. VKPQC thường gặp trong các bệnh cảnh của ho
gà, cúm, sởi, thương hàn, bạch hầu VKPQ tiên phát đơn thuần thường chỉ xảy ra
ở trẻ lớn, thiếu niên và thường do virus.
- Bệnh thường khởi đầu với viêm hô hấp trên trong vài hôm. Sau đó ho
khan tăng dần, thường là vào ngày thứ 3 - 4 sau viêm hô hấp trên. Ho khan không
có đàm dữ dội làm trẻ đau rát vùng sau xương ức hoặc đau ran cả lồng ngực. Trẻ
nhỏ thường nôn sau các cơn ho. Trẻ có thể có cò cử nhẹ. Sau vài ngày, ho bắt đầu
có đàm; lúc đầu đàm trong, sau dần có màu vàng. Trong vòng khoảng 10 ngày
đàm lỏng dần rồi hết. Khám thấy trẻ không sốt hoặc sốt nhẹ và thường có viêm
mũi họng đi kèm. Về sau nghe phổi có thể có âm thở thô, rải rác ran ẩm vừa hạt và
ran rít. Trẻ khỏe mạnh thường ít bị biến chứng hơn trẻ có sức khỏe kém hoặc suy
dinh dưỡng.
- Các biến chứng thường gặp là viêm tai giữa, viêm xoang và viêm phổi.
- Không có điều trị đặc hiệu. Ở trẻ nhỏ, nên thường xuyên thay đổi tư thế
nằm để dẫn lưu chất tiết, đờm dãi, tránh ứ đọng. Ho nhiều về đêm làm trẻ mất ngủ,
cho nên ở trẻ lớn có thể dùng các thuốc giảm ho một cách thận trọng. Các thuốc ức
chế phản xạ ho đồng thời cũng làm tăng nguy cơ bị các biến chứng nung mủ.
Không nên dùng thuốc kháng histamine vì thuốc làm khô chất tiết. Cách làm lỏng
đàm tốt nhất và đơn giản nhất là cho trẻ uống đủ nước. Kháng sinh không làm rút
ngắn thời gian bệnh hoặc làm giảm biến chứng. Tuy nhiên, ở những bệnh nhi bị
VPQ tái diễn, kháng sinh có thể cải thiện tình trạng bệnh. Chỉ có chỉ định kháng
sinh khi có bằng chứng bội nhiễm thực sự.
3.2.3. Viêm phổi (xem bài “Viêm phổi trẻ em” và “Viêm phổi do tụ cầu
vàng”).
3.2.4. Viêm tiểu phế quản cấp (VTPQC):
VTPQC là một bệnh phổ biến của đường hô hấp dưới ở trẻ nhỏ, hậu quả
của sự tắc nghẽn do viêm ở các khí đạo nhỏ như các tiểu phế quản. Bệnh thường


xảy ra chủ yếu ở trẻ dưới 2 tuổi, với đỉnh cao nhất ở 6 tháng tuổi, vào mùa đông và
đầu xuân.
- Bệnh nguyên và dịch tễ học: RSV gây ra 50% các trường hợp; phần còn
lại do parainflueza 3 virus, mycoplasma, vài loại adenovirus, và một vài loại
virus khác. Adenovirus thường liên quan đến những biến chứng về lâu về dài như
viêm tiểu phế quản tắc nghẽn và hội chứng phổi tăng sáng một bên (hội chứng
Swyer-James). Nguồn nhiễm bệnh chủ yếu từ những người trong gia đình bị bệnh
hô hấp nhẹ. Yếu tố thuận lợi là tình trạng chức năng phổi bị sút giảm từ trước khi
bị bệnh.
- Lâm sàng:
+ Thời kỳ khởi bệnh: trẻ có biểu hiện viêm hô hấp trên trong vài ngày với
sốt cao 38,5 - 39°C, ho khan, chảy mũi nước.
+ Thời kỳ toàn phát: sốt giảm, nhưng xuất hiện suy hô hấp với từng đợt ho,
khò khè, kích thích. Trẻ thường bỏ bú vì thở nhanh. Trong trường hợp nhẹ, các
triệu chứng biến mất sau 1 - 3 ngày.
Ở một số trường hợp nặng, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, rầm rộ và
kéo dài. Trẻ thường không sốt hoặc sốt nhẹ. Khám thấy trẻ khó thở nhanh, rất
thiếu khí và tím tái, cánh mũi phập phồng, rút lõm không rõ vì tình trạng khí phế
thũng. Gan lách thường sờ được. Ran nổ mịn có thể nghe được ở cuối kỳ thở vào
và đầu kỳ thở ra. Kỳ thở ra kéo dài, tiếng khò khè có thể nghe bằng tai thường.
Trong trường hợp nặng, rì rào phế nang rất giảm, thậm chí không còn nghe
được. X quang cho thấy phổi quá căng dãn, tăng đường kính trước-sau trên phim
nghiêng. Khoảng 1/3 trường hợp có thể thấy hình ảnh mờ rải rác do xẹp phổi hoặc
viêm phế nang. Số lượng bạch cầu thường trong giới hạn bình thường. Giai đoạn
nghiêm trọng nhất là 48 - 72 giờ đầu sau khi xuất hiện ho và khó thở với bệnh
cảnh lâm sàng rất nặng với những cơn ngừng thở và nhiễm toan hô hấp.
+ Thời kỳ lui bệnh: Sau giai đoạn nặng, bệnh cải thiện nhanh chóng, khỏi
bệnh hoàn toàn trong vòng vài ngày. Tỷ lệ tử vong khoảng 1% do các cơn ngừng
thở dài, nhiễm toan hô hấp, mất nước do thở nhanh. Các biến chứng như PQPV,
viêm tai giữa và suy tim ít gặp.

- Ðiều trị:
+ Trẻ cần được điều trị nội trú tại các trung tâm có điều kiện chăm sóc tích
cực. Nên đặt trẻ trong môi truờng mát có độ ẩm cao và giàu oxy, không nên dùng
thuốc an thần. Tư thế tốt nhất là đặt trẻ ngồi 30 - 40° so với mặt giường hay nằm
kê vai đầu cao, cổ ngửa. Tăng cuờng cho uống nước, hoặc truyền dịch theo đường
tĩnh mạch. Nếu có nhiễm toan, cần điều chỉnh bằng các dung dịch chống toan theo
đường tĩnh mạch.
+ Ribavirin (Virazol®), một loại thuốc kháng virus rất có hiệu quả trong
các trường hợp VTPQC do RSV với điều kiện cho sớm. Thuốc được chỉ định ở trẻ
dưới 2 tuổi với bệnh cảnh lâm sàng nặng và có bằng chứng nghi ngờ do RSV,
hoặc trẻ nhỏ bị VTPQC nhẹ nhưng có bệnh kèm theo như tim bẩm sinh, bệnh phổi
mạn tính, suy miễn dịch. Thuốc được dùng bằng xông khí dung hạt nhỏ, 12 - 20
giờ/ngày, trong 3 - 5 ngày.
+ Kháng sinh không có chỉ định, trừ phi có bằng chứng của viêm phổi do vi
khuẩn.
+ Corticosteroids không có ích, thậm chí còn có hại. Thuốc dãn phế quản
dưới dạng khí dung thường được dùng. Khai khí quản không cần thiết. Trong
trường hợp suy hô hấp quá nặng, đôi khi cần đến hô hấp viện trợ.
4. Phòng bệnh:
Với tầm quan trọng của nó, việc phòng và giảm tỷ lệ tử vong do bệnh
NKHHCT đã được cụ thể hóa với chương trình ARI quốc gia. Trong đó, biện pháp
phòng bệnh chủ yếu là sự giáo dục các bà mẹ có con dưới 5 tuổi các kiến thức cơ
bản về phòng bệnh, phát hiện và xử trí NKHHCT:
- Kiến thức về chăm sóc con khỏe.
- Biết lúc nào cần đem con đến cơ sở Y tế khi con bị NKHHCT.
- Biết lợi ích của việc tiêm phòng (đặc biệt là tiêm phòng lao, BH-HG-UV,
sởi).
- Biết lợi ích của sữa mẹ.
- Biết tác hại của khói bụi, đặc biệt là khói thuốc lá.









×