Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Asian Foreign Exchange Risk Exposure
Asian Foreign Exchange Risk Exposure
( Nguy cơ rủi ro ngoại hối ở Châu Á )
( Nguy cơ rủi ro ngoại hối ở Châu Á )
DANH SÁCH NHÓM 15
DANH SÁCH NHÓM 15
STT HỌ TÊN GHI CHÚ
1
1
Nguyễn Thị Mỹ Duy
Nguyễn Thị Mỹ Duy
2
2
Lê Bá Quốc Hưng
Lê Bá Quốc Hưng
3
3
Bùi Thị Trà Mi
Bùi Thị Trà Mi
4
4
Phan Thanh Phong
Phan Thanh Phong
SVTH: Nhóm 15 Trang 1
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
TÓM TẮT:
Bài viết xem xét xem liệu có lối thoát nào cho bất kỳ mối quan hệ giữa lợi nhuận
cổ phần của các công ty châu á và sự biến động trong tỷ giá ngoại tệ. Một sự tăng giá
(giảm giá) tiền tệ các nước Châu Á so với đồng tiền nước ngoài có một ròng âm (dương)
ảnh hưởng đến lợi nhuận của các cổ phiếu các nước Châu Á. Những mức độ biến động
các công ty ảnh hưởng tới những thay đổi tỷ giá hối đoái với return horizon. Những rủi
ro trong ngắn hạn dường như được bảo hiểm tốt, khi những bằng chứng đáng kể của
những biến động trong dài hạn được tìm thấy. Những công ty với thanh khoản yếu, trong
ngắn hạn tỷ lệ chi trả cổ tức hoặc các doanh nghiệp ít lợi nhuận, có khuynh hướng biến
động nhỏ hơn. Chúng tôi cũng tìm thấy rằng tỷ lệ đòn bẩy cao trong các công ty hoặc các
doanh nghiệp với hệ số thanh toán nhanh thấp thì có nhiều biến động tới rủi ro tỷ giá hối
đoái.
GIỚI THIỆU:
Bài nghiên cứu này kiểm tra liệu có tồn tại bất kỳ mối quan hệ nào giữa lợi nhuận
từ chứng khoán của công ty tư nhân Châu Á và những biến động trong tỷ giá hối đoài
hay không. Liệu mô hình rủi ro hối đoái là ngành công nghiệp cụ thể hay không,và liệu
rủi ro hối đoái là hiển nhiên hơn qua việc gia tăng danh mục đầu tư theo thời gian hay
không. Để giải quyết vấn đề trên bài viết đi theo 5 phần sau:
1. Đo lường tính tính dễ bị tổn thương của tỷ giá hối đoái:
2. Lựa chọn mẫu các công ty đa quốc gia Châu Á, các nhân tố kinh tế, và tóm tắt các
thông tin thống kê.
3. Nguy co rủi ro tỷ giá của các công ty đa quốc gia Châu Á
4. Sự rủi ro tỷ giá hối đoái dài hạn:
5. Những yếu tố quyết định rủi ro tỷ giá hối đoái Châu Á
Mục tiêu nghiên cứu: Bài nghiên cứu này kiểm tra liệu có tồn tại bất kỳ mối quan hệ
nào giữa lợi nhuận từ chứng khoán của công ty tư nhân Châu Á và những biến động
trong tỷ giá hối đoái hay không? Liệu mô hình rủi ro hối đoái là ngành công nghiệp cụ
thể hay không,và liệu rủi ro hối đoái là hiển nhiên hơn qua việc gia tăng danh mục đầu tư
theo thời gian hay không? Bằng việc sử dụng một dãy dữ liệu tách rời của thu nhập từ
chứng khoán hàng tuần và biến động tỷ giá,nó dường như có khả năng rằng việc thiếu rõ
SVTH: Nhóm 15 Trang 2
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
ràng rủi ro tỷ giá hối đoái được chứng minh trước đây là chủ yếu do cả hai sử dụng
những biến kinh tế gộp chung và bỏ qua ảnh hưởng khoảng thời gian.
Các nghiên cứu trước đây:
1. Jorion (1990) tìm thấy rằng tác động của thay đổi tỷ giá hối đoái lên lợi nhuận cổ
phần chỉ có ý nghĩa thống kê ở 15 trên 287 công ty đa quốc gia ở Mỹ giai đoạn 1971-
1987.
2. Amidhud (1994) báo cáo không có tác động đáng kể nào của tỷ giá hối đoái ở 32 công
ty xuất khẩu lớn nhất của Mỹ từ năm 1979 đến năm 1988.
3. Bartov và Bodnar (1994) quan sát không có mối quan hệ đáng kể nào giữa tỷ giá hối
đoái của Mỹ với lợi nhuận cổ phiếu của 208 công ty có hoạt động quốc tế từ 1978 đến
1990.
4. Bodnar và Gentry (1993) chỉ ra rằng trong số 39 danh mục công nghiệp từ Mỹ, Nhật
Bản và Canada thì có 11 chịu tác động đáng kể của tỷ giá từ 1979 đến 1988. Tương tự,
ông ta và Ng (1998) tìm thấy rằng thời kỳ 1979 đến 1993, 25% trong số 171 công ty đa
quốc gia Nhật Bản chịu tác động.
5. Griffin và Stulz (2001) tìm thấy rằng cú sốc tỷ giá có tác động yếu ớt/không đáng kể
đối với giá trị các ngành công nghiệp trên thế giới.
6. Levi (1994) cho rằng những chứng cứ yếu ớt tìm thấy cho việc tác động của tỷ giá có
lẽ là do sự khó khăn từ việc đạt được phương pháp đo lường tác động của tỷ giá,.hay hạn
chế của việc áp dữ liệu và sử dụng nhiều phương pháp kinh tế hồi quy trong những
nghiên cứu trước đây đề xướng bởi Choi và Prasad (1995), Dahlquist và Robertsson
(2001), Dominguez và Tesar (2001), hoặc bởi sự phớt lờ tác động khoảng thời gian hiện
thời (Chow, Lee và Solt (1997); hoặc do định giá sai một cách hệ thống gây ra bởi lỗi của
các nhà đầu tư trong việc ước tính mối quan hệ giữa thay đổi tỷ giá hối đoái và giá cổ
phần (Bartov và Bodnar (1994)).
7. Andrew B. Bernard (2008) (Chinese exporters, exchange rate exposure, and the value
of the renminbi): bài paper nghiên cứu tác động tỷ giá và quản trị rủi ro tỷ giá ở những
công ty dệt may xuất khẩu Trung Quốc. Những công ty xuất khẩu Trung Quốc có một
ảnh hưởng ròng lớn đối với USD. Trung bình giá trị đồng renminbi tăng 10% so với đô la
Mỹ sẽ làm giảm doanh thu thuần xuống 5.4% nếu các công ty không thay đổi giá cả. Một
phần lớn hàng xuất khẩu ở đầu ra và phần nhỏ chi phí nhập khẩu mang ý nghĩa là hầu hết
các công ty bị tác động bởi biến động tỷ giá. Tác động tỷ giá nội tệ so với đồng USD lớn
SVTH: Nhóm 15 Trang 3
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
có lẽ giúp giải thích sự e ngại của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa trong việc cho phép
đồng RMB thực hiện tăng giá nhanh so với USD.
8. Horst Entorf, Gosta Jamin (2002) (Dance with the dollar: Exchange rate exposure on
the German stock market): Dữ liệu chứng khoán gồm 28 chỉ số của những công ty ở Đức.
Tác động tỷ giá của đồng USD khác nhau giữa xuất khẩu và nhập khẩu và khá bất ổn qua
thời gian. Trái ngược với những nghiên cứu trước đây cho rằng có ít tác động, tác giả xác
nhận lại kết quả nghiên cứu gần đó của Dominguez và Tesar (2001) nói rằng sự can thiệp
càng nhiều yếu tố nước ngoài vào sẽ làm cho tác động của tỷ giá hối đoái càng cao ít nhất
là ở Đức. Hơn nữa, kết quả cho biết tác động tỷ giá cũng phụ thuộc vào mức độ hiện thời
của tỷ giá đô la Mỹ.
9. John A. Koukas, Patricia H. Hall and Larry H. P. Lang (2001) (Exchange rate
exposure at the firm and industry level): Trong bài nghiên cứu, tác giả kiểm tra mối quan
hệ giữa thu nhập chứng khoán và thay đổi tỷ giá đối với 1079 công ty giao dịch ở thị
trường chứng khoán Tokyo thời kỳ 1975-1995. Kế đến, tác giả nghiên cứu những rủi ro
tỷ giá được xác định như thế nào ở thị trường chứng khoán Tokyo sử dụng quy trình
kiểm tra định giá tài sản đa nhân tố có điều kiện và không có điều kiện.Tác động tỷ giá
lên công ty đa quốc gia và xuất khẩu lớn thì cao hơn so với công ty xuất khẩu quy mô
nhỏ và công ty nội địa. Tác giả tìm thấy chứng cứ ủng hộ quan điểm rằng currency
exposure thay đổi theo thời gian.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Tác giả sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với phương pháp thống kê mô tả
để miêu tả dữ liệu. Công cụ được tác giả sử dụng trong bài là phương pháp phân tích
dòng thời gian bằng mô hình GARCH (generalized autoregressive conditional
heteroskedasticity) của Bollerslev (1986).
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
I.Đo lường tính tính dễ bị tổn thương của tỷ giá hối đoái:
Mở rộng lý thuyết về biến động tỷ giá hối đoái theo Adler và Dumas (1984) và
Jorion (1990) định nghĩa độ nhạy của tỷ giá hối đoái gọi là firm-specific exposures, tác
động của tỷ giá hối đoái vào giá trị của công ty thì vượt xa những phản ứng của thị
trường về sự thay đổi tỷ giá hối đoái. Để tính toán những biến động tỷ giá của công ty ta
sử dụng mô hình sau:
R
it
= α
i
+ β
i
R
mt
+ γ
i
X
t
+ ε
it
SVTH: Nhóm 15 Trang 4
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
R
it
: tổng lợi nhuận của công ty i tại thời điểm t
R
mt
: tổng thu nhập của thị trường chứng khoán tại thồi điểm t
β
i
: độ nhạy của thu nhập công ty i đối với những giao động của thị trường
X
t
: tỷ lệ của thu nhập giữa hai đồng tiền Châu Á mạnh nhất (đo lường bằng tỷ giá
hối đoái của các nước Châu Á)
γ
i
: Độ biến động của ty giá hối đoái công ty độc lập với những hiệu ứng khác nhau
trên tổng thể thị trường. Nó miêu tả độ nhạy thu nhập của cổ phiếu khi có những thay đổi
bất ngờ trong tỷ giá hối đoái. Một đánh giá của các đồng tiền Châu Á thì nó làm cho giá
nhập khẩu mắc hơn so các loại ngoại tệ khác. Và nó dẫn đầu cho việc giảm nhu cầu ngoại
tệ và doanh số bán hàng nước ngoài. Mặc khác các công ty nhập khẩu sẽ có lợi ích từ
việc đánh giá đồng tiền nội tệ. Do đó hệ số này có thể dương hoặc âm so với nhập khẩu
ròng. Hơn thế nữa, sự biến đổi trong tỷ giá hối đoái giá trị các đồng nội tệ
ε
it
: sai số, độ nhiễu
Một trong những tính năng quan trọng của tài chính với chuỗi thời gian hàng tuần
là đoán được sự hiện diện của heteroskedasticity. Thật vậy, giả thuyết của phương sai
không đổi mà chúng tôi đề cập ở trên thường bị từ chối bởi những chuỗi thời gian hàng
tuần như tỷ giá hay chuỗi thu nhập cổ phiếu. Khi xuất hiện heterokedasticity làm mất
hiệu lực của các số liệu thống kê kiểm tra, chúng tôi bắt đầu với việc kiểm tra với việc
kiểm tra số dư εit heteroskedasticity với chuỗi thời gian khác nhau. Chúng tôi sử dụng
thử nghiệm Engle xuất phát từ nguyên tắc nhân tử Larange để kiểm tra tính hợp lý của
các giả thuyết rằng ε không có heteroskedasticty. Nếu như không có bát bỏ giả thuyết
chúng tôi sử dụng mô hình hồi quy. Mặc khác chúng tôi thêm GARCH (1,1) – đặc điểm
kỹ thuật dùng mô hình hồi quy cơ bản. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy GARCH (1,1) có
giá trị cho mô hình hóa các quá trình tạo ra phương sai của chuỗi thời gian tài chính. Mô
hình hồi quy được mô tả như sau:
R
it
= α
i
+ β
i
R
mt
+ γ
i
X
t
+ ε
it
ε
it
= µ
it
* (h
it
)
1/2
(2)
H
it
= ð
i
+ πε
2
i,t-1
+ vh
i,t-1
(3)
Trong đó H
it
thể hiện phương sai có điều kiện của các số dư và µ thể hiện lỗi khoản ồn
trắng. Để kiểm tra tính chất của tỷ giá hối đoái bằng cách tăng tầm nhìn, bắt đầu bằng t
tới t+T với T tương đương 1, 4, 12 và 54 tuần.
R
it
= α
i
+ β
i
R
mt,t+T
+ γ
i
X
t
+ ε
it
(4)
SVTH: Nhóm 15 Trang 5
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Sử dụng ma trận hiệp phương sai để làm rõ định nghĩa của µ
i,t
V= Ao
-1
BoAo
-1
Trong đó ma trận A
0
là
II. Lựa chọn mẫu các công ty đa quốc gia Châu Á, các nhân tố kinh tế, và tóm tắt
các thông tin thống kê.
1.Các công ty đa quốc gia Châu Á
Thủ tục lựa chọn mẫu các công ty đa quốc gia Châu Á bao gồm hai bước. Đẩu tiên
chúng tôi xác định các yếu tố cấu thành những chỉ số thị trường Hong Kong, Indonesia,
Hàn Quốc, Malaysia, Philipine, Singapore và Thái Lan được cung cấp bởi chuỗi dữ liệu
quốc tế. Những công ty không có văn phòng tại các nước này được loại trừ. Tổng 4573
công ty thì được xác định. Bước thứ hai lựa chọn công ty có ít nhất dữ liệu thu nhập cổ
phiếu hành tuần có trong dữ liệu của Datastream International. Chúng tôi loại 939 công ty
không thỏa điều kiện cuối. 3634 công ty trong mẫu cuối cùng được sắp xếp thành 20
nhóm ngành công nghiệp phân loại chỉ số hóa công nghiệp (SIC), (các công ty có văn
phòng đăng ký ở Hồng Kông (569), In-đô-nê-xi-a (259), Hàn Quốc (216)
Malaysia (336), Philippines (531), Singapore (1101) và Thái Lan (622))
biết rằng Datastream International áp dụng cùng một tiêu chí để xác định các ngành
công nghiệp giữa các quốc gia.
Đối với tất cả các công ty mẫu của chúng tôi, chúng tôi có được các chỉ tiêu tài
chính chủ yếu từ Datastream International và khoảng 80% trong số họ, chúng ta có thể
quan sát bảng cân đối kế toán
1
.
Tổng tài sản giá trị và số lượng con số nhân viên trong bảng chỉ sự hiện diện của
một số doanh nghiệp tương đối lớn trong mẫu của chúng tôi. Hơn nữa, dường như các
công ty đa quốc gia Châu Á không có lợi nhuận cao.
Mẫu bắt đầu vào 13 tháng Giêng năm 1993 đến ngày 08 năm 2003 chia thành ba
giai đoạn: tháng 1 năm 1993 đến tháng 12 năm 1996, tháng 1 năm 1997 đến Tháng 12
năm 1999 và tháng 1 năm 2000 đến tháng 1 năm 2003.
2. Yếu tố kinh tế
1
Phụ lục: Bảng 1
SVTH: Nhóm 15 Trang 6
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Chúng tôi sử dụng hai yếu tố kinh tế trong nghiên cứu này: yếu tố rủi ro thị trường và tỷ
giá hối đoái yếu tố nguy cơ. Tính đại diện của danh mục đầu tư thị trường được sử dụng
làm trọng số. Chỉ số thị trường châu Á được cung cấp bởi Datastream International. Rủi
ro tỷ giá được đo lường bằng sự phân tách song phương liên tục phức tạp giữa đồng đô
la Mỹ và Yên Nhật (đồng tiền địa phương tương ứng với mỗi Mỹ đồng đô la và đồng yên
Nhật).Sự lựa chọn của chúng ta về các tỷ giá hối đoái được hỗ trợ bởi thực tế rằng Mỹ và
Nhật Bản là hai đối tác thương mại quan trọng nhất của thị trường Châu Á.
3. Tóm tắt thông tin thống kê
Bảng II cung cấp số liệu thống kê tóm tắt về sự thay đổi giá hàng tuần của 5 loại tiền tệ
của châu Á: đồng rupiah Indonesia, Hàn Quốc wong, đô la Hồng Kông, Ringgit
Malaysia, và đồng peso của Philippine cho mỗi đồng đô la Mỹ và yên Nhật
2
.
Giai đoạn 13 tháng một năm 1993 đến ngày 08 tháng 1 2003 tất cả thay đổi giá
đăng nhập hàng tuần dương, cho biết tất cả các đồng tiền châu Á giảm giá so với đồng
Yên Nhật và đồng đô la Mỹ. Các tiêu chuẩn độ lệch của đổng rupiah so với đồng USD và
JPY lớn hơn các loại tiền Châu Á khác. Hơn nữa, việc phân phối lợi nhuận tỷ giá hối đoái
hàng tuần cao lệch về bên phải, có thể là một kết quả của các phong trào bất đối xứng
trong tỷ giá hối đoái điều chỉnh chẵn lẻ. Phương pháp kurtosis có giá trị lớn hơn phân
phối thông thường, điều này nói lên rằng phân phối có fat tails. Nhìn chung, các số liệu
thống kê nói lên rằng các thu nhập về tỷ giá hối đoái hàng tuần không có khả năng được
rút ra từ phân phối bình thường
III. Nguy co rủi ro tỷ giá của các công ty đa quốc gia Châu Á
Bảng III cung cấp mặt cắt ngang phân phối của 3634 các công ty Châu Á ước tính hệ số
tiếp xúc. γ đã được định nghĩa lần lượt trong phương trình (1), (2), (3) cho giai đoạn của
tất cả các mẫu và giai đoạn 3 mẫu phụ. Nó báo cáo số trung bình, trung vị, phương sai,
lớn nhất nhỏ nhất của γ cùng với số lượng đáng kể hệ số tương quan dương và tương
quan âm
3
.
2
Phụ lục: Bảng 2
3
Phụ lục: Bảng 3
SVTH: Nhóm 15 Trang 7
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhìn chung, các bằng chứng cho thấy rằng trong giai đoạn mẫu đầy đủ các công ty
Châu Á thể hiện tỷ giá hối đoái có tiếp xúc – exposure đáng kể, khoảng 25% các công ty
Châu Á có effect với đồng tiền USD (22% có exposure dương và 3% có exposure âm) và
22.5% có effect với đồng JPY (19% có hệ số Exposure dương và 3.5% có hệ số âm).
Các mở rộng tiếp xúc với tỷ giá hối đoái là khá cao, khác biệt đáng kể so với trước
đây. Cao hơn tỷ lệ ở các công ty có tham gia thương mại quốc tế. Hệ số γ âm cho thấy
đồng USD và JPY so với đồng Châu á có một tác động tiêu cực trở lại thị trường chứng
khoán. Đây là trường hợp các công ty nhập khẩu ròng hay các công ty có hoạt động xuất
khẩu trên thị trường thế giới. Mặc khác nếu γ dương cho thấy rằng các công ty Châu Á có
hiệu quả tích cực khi đồng USD và JPY được đánh giá cao. Đây là trường hợp các công
ty xuất khẩu ròng hay công ty có các có thiết lập hoạt động ở nước ngoài để bán hàng địa
phương. Ưu thế của γ dương chỉ ra rằng giá trị của các cổ đông các công ty Châu Á có lợi
(tổn thương) khi đồng tiền Châu Á được định giá cao (giảm giá). Điều này phản ánh các
công ty Châu Á phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu để tiêu dung và xuất sang thị
trường thế giới.
Hơn nữa, bằng chứng cho thấy sự thay đổi exposure của các công ty tại các
khoảng thời gian. Hệ số γ tăng từ 565 (exsposure của USD là 273 và 292 – JPY), trong
giai đoạn hai là 1663 (941 và 722) và giảm 819 (344 và 475) giai đoạn ba. Dường như sự
biến động tỷ giá hối đoái trong thời kỳ hỗn loạn từ tháng 1 năm 1997 đến tháng 12 năm
1999 mà các công ty đa quốc gia Châu Á đã phải đối mặt đã dẫn đến 1 tỷ lệ % cao hơn
rủi ro cho các công ty exposure đối với tỷ giá. Nhìn chung toàn bộ quy mô của các đồng
ngoại tệ không phải là 1 mẫu phụ thuộc, sự tăng giá (giảm giá) của đồng tiền Châu Á so
với đồng tiền USD và JPY có một tác động bất lợi (thuận lợi) trên thu nhập từ cổ phiếu
đối với các công ty đa quốc gia.
Để hiểu sâu hơn về bản chất của các tiếp xúc ngoại hối của các công ty Châu Á, chúng tôi
phân tách các công ty đa quốc gia bởi từng quốc gia. Bảng IV cung cấp phân phối mặt cắt
ngang của hệ số exposure ước tính của mỗi công ty trong bảy nước Châu Á
4
.
Một số lượng đáng kể doanh nghiệp tiếp xúc với rủi ro giá đồng đô la Mỹ có tính
chất tương đồng từ 20.5% tại Singapore đến 30% tại Thái Lan, trong khi doanh nghiệp
tiếp xúc với rủi ro tỷ giá đồng JPY là 20% tại Hongkong và 27% tại Indonesia. Phù hợp
4
Phụ lục: Bảng 4
SVTH: Nhóm 15 Trang 8
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
với kết quả của bảng II, tất cả các nước Châu Á trải nghiệm 1 hiệu ứng tiếp xúc chủ yếu
là tích cực thời cũng thay đổi từ 20,5% trong Xin-ga-po đến 30% ở Thái Lan
5
.
Nhìn chung, các bằng chứng cho thấy tầm quan trọng của tiếp xúc ngành công
nghiệp là tương đối lớn. Phù hợp với các kết quả của Bảng III, tất cả các ngành công
nghiệp châu Á có một tiếp xúc ngoại tệ có hiệu lực tích cực. Hơn nữa các công ty có tác
dụng tiếp xúc không đáng kể chỉ tập trung ở 5 ngành công nghiệp cụ thể là dầu khí, lọc
dầu, dược phẩm, dịch vụ truyền thông, công nghiệp bán lẻ. Rõ ràng các công ty hoạt
động trong lĩnh vực công nghiệp ít exposure với những sự thay đổi ngoại tệ hơn những
ngành khác. Trong một thị trường không hoàn hảo việc mở rộng sử dụng các công cụ
phái sinh sẽ làm giảm bớt các exposure cho các công ty. Ngoại tệ chủ yếu là tiêu cực tiếp
xúc có hiệu lực. Hơn nữa, các công ty có tác dụng tiếp xúc không đáng kể được chỉ tập
trung ở năm ngành công nghiệp, cụ thể là dầu khí lọc dầu, dược phẩm, dịch vụ truyền
thông, công nghiệp bán lẻ và các. Rõ ràng, các công ty hoạt động trong các ngành công
nghiệp tương đối ít tiếp xúc với các phong trào ngoại tệ hơn những người khác. Trong
một thế giới của sự không hoàn hảo của thị trường, mở rộng sử dụng các công cụ tài
chính phái sinh để giảm các exposure cho công ty. Do đó trường hợp các công ty có
ngành công nghiệp sử dụng các công cụ phái sinh tiền tệ và các công cụ tài chính để làm
tắm chắn cho công ty trước những sự thay đổi của đồng USD và JPY.
IV. Sự rủi ro tỷ giá hối đoái dài hạn:
Bảng VI cho thấy rắng sự phân loại của những hệ số nguy cơ rủi ro hối đoái đối
với khoảng thời gian đo lường lợi nhuận đối với 1 tuần,4 tuần,12 tuần vá 54 tuần.
Sự khám phá của tác giả cho thấy rằng ,có một sự gia tăng chung trong tổng số
những hệ số rủi ro tỷ giá tích cực và tiêu cực đáng kể từ danh mục 1 tuần đến thời hạn dài
hơn danh mục 54 tuần.Vì thế, tổng số những công ty mà họ cho thấy sự gia tăng hệ số rủi
ro của đôla Mỹ đáng kể từ 864 đối với lợi nhuận danh mục đầu tư 1 tuần đến 1742 đối
với lợi nhuận danh mục đầu tư 4 tuần,đến 2218 đối với 12 tuần và đến 2574-đại diện 71%
toàn mẫu-đối với danh mục dài hạn 54 tuần. Tuy nhiên,tác giả phát hiện rằng hệ số rủ ro
tỷ giá trở nên lớn hơn và đáng kể hơn khi danh mục nhiều thêm. Do đó, rủi ro ngoại hối
của Châu Á hiển nhiên hơn khi danh mục lợi nhuận nhiều thêm.Thật thú vị, những con
số này có thể so sánh với những số liệu mà nó được chứng minh bằng tài liệu về rủi ro
ngoại hối dài hạn của những công ty Nhật Bản bởi Chow và Chen(1998) nhưng cao hơn
đáng kể là những số liệu được báo cáo bởi Di Iorio và Faff(2001) về lợi nhuận từ chứng
5
Phụ lục: Bảng 5
SVTH: Nhóm 15 Trang 9
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
khoán của Australia. Tuy nhiên Di Iorio và Faff (2001) tập trung riêng về rủi ro dài hạn
của những danh mục đầu tư dài hạn, do đó bỏ qua những vấn đề tập hợp. Lý do khác
đáng tin cậy hơn với tỷ lệ cao hơn của rủi ro dài hạn là tính biến động lớn hơn được gắn
liền với những đồng tiền Châu Á. Vì nó có thể mất vài ngày cho sự biến động ngẫu nhiên
đối với lợi nhuận ròng.
V. Những yếu tố quyết định rủi ro tỷ giá hối đoái Châu Á
Trong phần này chúng ta kiểm tra xem liệu rủi ro tỷ giá hối đoái được xác định bởi
các biến mà những nghiên cứu hiện tại có quan trọng trong việc giải thích chính sách
phòng hộ của một công ty hay không. Đối với mức độ mà những chinh sách phòng hộ có
hiệu quả, những hoạt động phòng hộ của một công ty nên ảnh hưởng đến mức độ mà
công ty bị rủi ro đối với biến động tỷ giá hối đoái. Bartov và Bodnar (1994) cho rằng sự
thiếu hiểu biết về chính sách phòng hộ công ty của những nhà đầu tư một phần giải thích
tai sao họ làm sai phương pháp khi mô tả mối quan hệ giữa giá trị công ty và sự biến
động tỷ giá hối đoái. Bartov, Bodnar và Kaul (1996) cho rằng bằng chứng thực nghiệm
không có tính thiết phục trong việc chứng minh rủi ro tỷ giá hối đoái có thể là một mức
độ chắc chắn được giải thích bởi thực tế là các công ty đã phòng hộ một cách có hiệu quả
rủi ro của họ. Nhận thức về sự tác động của những hoạt động phòng hộ của những công
ty về sự phát hiện của họ. Một số nhỏ những nghiện cứu hiện tại phân tích mối quan hệ
giữa những động cơ phòng hộ và rủi ro tỷ giá hối đoái.Việc sử dụng mẫu 171 công ty đa
quốc gia của Nhật. He and Ng(1998) cho thấy rằng, những công ty sử dụng đòn bẩy tài
chính cao, những công ty nhỏ hơn hay những công ty với tính thanh khoản ngắn hạn yếu,
khuynh hướng có những rủi ro thấp hơn đối với rủi ro tỷ giá.Tuy nhiên,Chow và Chen
(1998) chứng minh bằng tài liệu rằng mức cổ tức tiền mặt có một tác động tích cực lên
rủi ro ngoại hối. Do đó chúng tôi cung cấp những phân tích tương tụ mối quan hệ những
đặc điểm tài chính của những công ty đa quốc gia Châu Á và độ nhảy cảm rủi ro tỷ giá
của chúng.
Những lý thuyết phòng hộ tối ưu đòi hỏi rằng những công ty mà phòng hộ có thể ít
bị rủi ro đối sự biến động tỷ giá hơn đối với những công ty không phòng hộ.Từ dữ liệu
về những hoạt động phòng hộ thì hầu như không đầy đủ và khó khăn để đạt được.Bản
chất chính xác của các sản phẩm tài chính thường không được tiết lộ.Chúng tôi sử dụng
những biến số mà những động cơ của những công ty ủy quyền để phòng hộ để kiềm tra
mối quan hệ giữa những hoạt động phòng hộ và những rủi ro tỷ giá hối đoài dự kiến.
Nance, Smith và Smithson(1993) cho rằng, bởi vì việc quản lý rủi ro nước ngoài đòi hỏi
chi phí cao mà nó cung cấp cho qui mô hoạt động ,tài chính và thông tin,những công ty
có lý do đẻ phòng hộ nếu lợi nhuận phòng hộ lớn hơn chi phí. Những công ty lớn hơn với
SVTH: Nhóm 15 Trang 10
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
nền kinh tế qui mô trong chi phí phòng hộ có khả năng phòng hộ hơn những công ty nhỏ.
Trái lại những công ty nhỏ đối mặt với chi phí phá sản cao hơn vì xác suất khủng hoảng
tài chinh của họ cao hơn. Do đó những công ty này có nhiều động cơ hơn đẻ phòng hộ
hơn những công ty lơn hơn và sẽ bị ít nguy cơ rủi ro ngoại hối hơn. Do đó ảnh hưởng của
qui mô công ty về rủi ro thì mơ hồ và phải kiểm tra lại một cách thực tiễn.Để kiểm tra
mối quan hệ này,chúng tối sử dụng việc kiểm tra tự nhiên giá trị tài sản của thị trường
như là sự đại diện cho qui mô công ty.
Một cách khác để do lường xác suất khủng hoảng tài chính của một công ty là tỷ
lệ nợ dài hạn của nó.Thật vậy,những công ty với tỷ lệ nợ cao hơn có khuynh hướng
đương đầu với chi phí phá sản cao hơn và do vậy có động cơ phòng hộ hơn và do đó
giảm chi phí khủng hoảng tài chính dự kiến. Khi những công ty này có nhiều động cơ
tham gia những hoạt động phòng hộ thì họ kỳ vọng bị ít rủi ro hơn đối với rủi ro tỷ giá
hối đoái.
Ngoài ra một công ty có thể giảm xác suất rủi ro tài chính và chi phi đại diện bằng
việc duy trì tính thanh khoản ngắn hạn lớn hơn. Bằng việc giữ tỷ lệ chi trả nhanh cao hơn
(QUICK) hoặc bằng việc quyết định về chính sách chi trả cổ tức hạn chế hơn (DIV), do
đó một công ty ít bị buộc phải phòng hộ và do đó có nhiều nguy cơ rủi ro về tỷ giá hơn
Tuy nhiên chúng tôi biết rằng những hoạt động phòng hộ làm gia tăng chi phí mà
nó đặc biệt cao đối với những công ty nhỏ mà không thể có lợi nhuận từ những qui mô
hoạt động, tài chính và thông tin. Kết quả là chi phí phòng hộ có thể lớn hơn lợi nhuận
của nó đối với những công ty nhỏ và quyết định để phòng hộ có thể trở thành một tác
động tiêu cực lên lợi nhuận của những công ty này. Do đó khi lợi nhuận (EPS) của một
công ty nhỏ liên quan một cách tiêu cực đến những hoạt động phòng hộ của nó, thì nó sẽ
tích cực liên kết với rủi ro ngoại hối.
Bây giờ chúng tôi kiểm tra thực nghiệm những giả thuyết ở trên bằng việc quan
sát số lượng những hệ số rủi ro về tỷ giá quan trọng qua những mẫu phụ khác nhau của
những công ty hình thành theo những biến được đề cập trước đây (SIZE,QUICK,DY,EPS
và DE). Bảng điều chỉnh từ A đến D Bảng VII hiển thị các kết quả những danh mục dự
tính của 1,4,12 và 54 tuần. Trong cột đầu tiên chúng tôi quan sát 360 công ty nhỏ nhất
của mẫu của chúng tôi trong phương diện vốn hóa thị trường, trong khi cột thứ hai báo
cáo 360 doanh nghiệp lớn nhất. Mặt khác cột 3 và 4 báo cáo kết quả của 360 công ty với
mức thấp nhất -tương ứng cao nhất – tỷ lệ chi trả nhanh . Bốn mẫu phụ khác nhau sau đó
được phân loại theo tỷ lệ cổ tức, thu nhập hàng năm trên mỗi cổ phiếu đối với giá chứng
khoán, cuối cùng, tỷ lệ nợ. Đối với mỗi trong số các tiêu chí này, chúng tôi báo cáo số
SVTH: Nhóm 15 Trang 11
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
lượng những rủi ro đáng kể trong số 36 doanh nghiệp hình thành thập phân vị trên và
dưới.
Bảng này cho thấy một vài quan sát thú vị. Nhìn chung, những kết quả thì phù
hợp với kỳ vọng của chúng tôi xây dựng ở trên. Cùng với phát hiện trước đây bởi Chow
và Chen (1998), chúng tôi quan sát thấy rằng rất khó để đánh giá liệu các công ty lớn hay
nhỏ bị nhiều rủi ro hơn đối với biến động tỷ giá hay không. Tuy nhiên, chúng tôi quan sát
thấy rủi ro tỷ giá hối đoái danh mục dài hạn thì ít quan trọng hơn đối với những công ty
lớn. Điều này có thể được giải thích bằng thực tế là việc quản lý rủi ro kinh tế đòi hỏi chi
phí cao mà biểu hiện quan trọng nền kinh tế quy mô. Khi các công ty nhỏ phải đối mặt
với những khó khăn hơn không thể có lợi nhuận từ các nền kinh tế quy mô, họ ít có khả
năng để quản lý rủi ro kinh tế và hệ quả là bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi sự biến động tỷ
giá hối đoái dài hạn hơn những công ty lớn.
Hơn nữa bảng VII cho thấy rằng, đối với tất cả những danh mục đầu tư, phần
trăm cao nhất của những hệ số rủi ro quan trọng được tìm thấy trong số những công ty
với tỷ lệ chi trả nhanh thấp hơn.Thật thú vị, phát hiện này mâu thuẫn với tranh luận của
Froot, Schartftei và Stein (1993) là tính thanh khoản thì liên quan một cách tiêu cực đối
với những hoạt động phòng hộ.Tuy nhiên nó có thể dễ dàng được giải thích bởi thực tế
rằng những công ty mà tỷ lệ chi trả nhanh thấp hơn có khuynh hướng đối mặt với nhiều
khó khăn và miễn cưỡng hớn để tham gia những hoạt động phòng hộ, vì ảnh hưởng tiêu
cực quyết định này có thể có về tính thanh khoản của chúng.Tuy nhiên, kết quả phù hợp
với lập luận của Chow và Chen(1998) những người cho thấy rằng giá trị của những hoạt
động rủi ro đối với cổ đông thì lớn hơn khi tính thanh khoản thấp hơn khi tính thanh
khoản cao. Do vậy động cơ không phòng hộ thật sự có thể mạnh hơn khi tính thanh
khoản thấp.
Mặt khác chúng tôi quan sát liên tục tất cả những danh mục đầu tư rằng những
công ty với chi trả cổ tức thấp hơn thì bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi sự biến động của tỷ giá
hơn là những công ty chi trả cổ tức cao. Những kết quả này phù họp với mong đợi của
chúng tôi là một chính sách chi trả cố tức thấp có thể được sử dụng bởi những công ty
như là một sự thay thế đối với những hoạt động phòng hộ vì nó làm giảm bớt chi phí
khủng hoảng tài chính dự kiến.
Hơn nữa, bằng chứng cho thấy rằng những công ty nhiều lợi nhuận hơn thì bị rủi ro hơn
đối với sự biến động của tỷ giá hơn những công ty it lợi nhuận. Kết quả này thì phù hợp
với tất cả những danh mục và ủng hộ lập luận được miêu tả ở trên rằng những chi phí phá
SVTH: Nhóm 15 Trang 12
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
sản cao hơn bị đối mặt bởi những công ty ít lợi nhuận hơn là một động cơ đối với chúng
để phòng hộ.
Cuối cùng,trái ngược với lập luận rằng những công ty với đòn bẩy tài chính lớn hơn thì
có khả năng phòng hộ nhiều hơn và do đó ít bị rủi ro tỷ giá hơn.Kết quả của của chúng
tối chỉ ra rằng, những công ty sử dụng đòn bẩy cao khuynh hướng có rủi ro cao. Bằng
chứng của chúng tôi về căn bản khác với những phát hiện trước đây ở Mỹ, nhưng nó phù
hợp với kết quả của Chow và Chen(1998) đối với những công ty Nhật Bản.
KÉT LUẬN:
Bài nghiên cứu này kiểm tra liệu có tồn tại bất kỳ mối quan hệ nào giữa lợi nhuận
từ chứng khoán của công ty tư nhân Châu Á và những biến động trong tỷ giá hối đoài
hay không. Liệu mô hình rủi ro hối đoái là ngành công nghiệp cụ thể hay không,và liệu
rủi ro hối đoái là hiển nhiên hơn qua việc gia tăng danh mục đầu tư theo thời gian hay
không.Bằng việc sử dụng một dãy dữ liệu tách rời của thu nhập từ chứng khoán hàng
tuần và biến động tỷ giá,nó dường như có khả năng rằng việc thiếu rõ ràng rủi ro tỷ giá
hối đoái được chứng minh trước đây là chủ yếu do cả hai sử dụng những biến kinh tế gộp
chung và bỏ qua ảnh hưởng khoảng thời gian.
Việc sử dụng mẫu 3634 công ty đa quốc gia Châu Á,chúng tối thấy rằng đối với
giai đoạn từ tháng 1 năm 1993 đến tháng 12 năm 2003,khoảng 25 % những công ty này
đã từng trải qua những ảnh hưởng rủi ro tài chính đáng kể đối với đôla Mỹ,và 22,5% đối
với Yen Nhật.Trong khi đó có sự khác nhau về thời gian trong sự ảnh hưởng rủi ro cùng
lúc tại cấp độ doanh nghiệp tư nhân,mức độ tổng thể của rủi ro không phải là sự phụ
thuộc mẫu. Một sự giảm giá (tăng giá) đồng tiền Châu Á so với ngoại tệ có tác động bất
lợi (thuận lợi) trên lợi nhuận chứng khoán của những công ty Châu Á. Chúng tôi cũng
nghiên cứu sự rủi ro của những công ty tư nhân trong những ngành công nghiệp khác
nhau.Những doanh nghiệp tư nhân trong những nhóm ngành công nghiệp này cho thấy
rủi ro tích cực cũng như tiêu cực cao.Những công ty Châu Á với những ảnh hưởng rủi ro
không quan trọng chỉ tập trung vào số lượng nhỏ những ngành công nghiệp. Hơn nũa
chúng tối điều tra bản chất của rủi ro hối đoái thông qua việc gia tăng khoảng thời gian
đo lường lợi nhuận.Phát hiện của chúng tôi cũng cho thấy rằng mức độ mà những công ty
Châu Á bị rủi ro đối với những biến động ngoại tệ thì khác biên độ lợi nhuận. Rủi ro
ngắn hạn dường như được phòng hộ tương đối mà ở đó bằng chứng đáng kể của rủi ro
dài hạn được tìm thấy.Thật sự, chúng tôi thấy rằng nhều hơn 70% những công ty Châu Á
bị ảnh hưởng đáng kể bới sự biến động tỷ giá đôla Mỹ trong dài hạn. Dường như những
người quản lý tài chính Châu Á bỏ qua rủi ro của cổ đông đối với những đồng tiền đối tác
SVTH: Nhóm 15 Trang 13
Asian Foreign Exchange Risk Exposure GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
thương mại chủ yếu của họ trong quá trình ra quyết định quản lý rủi ro của họ hoặc nó
đại diện cho một rủi ro kinh tế mà nó không liên quan đến những vấn đề làm ăn được biết
đến và do đó thì rất khó để quản lý.
Cuối cùng, một cuộc điều tra có tính chất thăm dò cho thấy rằng mức độ mà một
công ty bị rủi ro đối với những thay đồi trong tỷ giá nhìn chung được xác định bởi những
biến mà những biến này đại diện cho cho những chính sách phòng hộ của công ty. Chúng
tối thấy rằng những công tuy đa quốc gia Châu Á với một tỷ lệ chi trả cố tức thấp (tính
thanh khoản ngắn hạn mạnh) có ít động cơ hơn để phòng hộ và do đó có những rủi ro tỷ
giá lớn hơn. Do đó, những công ty nhiều lợi nhuận hơn thì nhiều rủi ro đối với sự biến
động tỷ giá hơn những công ty lợi nhuận ít hơn.Trái ngược với sự phát hiện của Mỹ,
chúng tôi thấy rằng những công ty sử dụng đòn bẩy cao hoặc những công ty với tỷ lệ chi
trả nhanh thấp hơn có khuynh hướng có rủ ro cao hơn đối với rủi ro tỷ giá.
SVTH: Nhóm 15 Trang 14