Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

BÀI 7: CON NGƯỜI, NHÂN CÁCH, MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI (2 tiết) pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (116.62 KB, 5 trang )

Giáo án Chính trị Lê Thị Mỹ An
BÀI 7
CON NGƯỜI, NHÂN CÁCH, MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN
VÀ XÃ HỘI(2 tiết)
I. Mục đích, yêu cầu
1. Mục đích:
- Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể, xã hội.
2. Yêu cầu:
- Khái niệm cấu trúc nhân cách.
- Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể, xã hội.
II. Giảng bài mới
Nội dung Giáo viên
I. BẢN CHẤT CON NGƯỜI
1. Khái niệm về con người
+ Từ giác độ triết học người ta đưa ra một định
nghĩa khái quát: “Con ngưới là một thực thể sinh
học–xã hội, luôn giữ vai trò chủ thể trong mọi
hoạt động”.
+ Với tính cách là thực thể sinh vật, cơ thể con
người luôn luôn chịu sự quy định của những quy
luật sinh học để tồn tại và phát triển. Với tư cách
một thực thể xã hội, con người trong quá trình tồn
tại đã có những sinh hoạt cộng đồng như lao
động, giao tiếp, thông qua đó mà một hệ thống
quan hệ xã hội được thiết lập.
2. Bản chất con người
+ Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cho rằng, bản
chất con người do lực lượng siêu tự nhiên chi
phối như “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “cái phổ
biến”, “chúa”, “thượng đế”…
+ Các loại chủ nghĩa duy vật: siêu hình, máy móc,


tầm thường, nhân bản… thường giải thích con
người một cách phiến diện, tuyệt đối hóa mặt này
hay mặt kia.
+ Các khoa học cụ thể như: y học, nhân chủng
học, tâm lý học, giáo dục học… nghiên cứu từng
mặt, từng bộ phận về con người.
- Khắc phục những khiếm khuyết của các quan
điểm trên đây, Mác viết: “Trong tính hiện thực
của nó bản chất con ngưới là tổng hòa của những
quan hệ xã hội”.
II. NHÂN CÁCH
1. Khái niệm và cấu trúc của nhân cách
Yếu tố sinh học của con người là điều kiện đầu
tiên quy định sự tồn tại của con người. Cơ thể con
người là giới tự nhiên, con người là một bộ phận
của tự nhiên, là quá trình lâu dài của môi trường
tự nhiên.
Con người sản xuất ra những tlsx của mình – đó
là bước tiến do tổ chức cơ thể con người quy
định. Tính xã hội của con người biểu hiện trog
hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động sản xuất
vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội
của con người.
Con người là sản phẩm tự nhiên và xã hội nên
luôn chịu tác động của 3 hệ thống quy luật: quy
luật tự nhiên, quy luật tâm lý, ý thức, quy luật xã
hội.
Không có con người trừu tượng, cách ly mọi hoàn
cảnh điều kiện. Con người luôn cụ thể, xác định
sống trong điều kiện lịch sủ nhất định. Trong điều

kiện đó con người tạo ra giá trị của cải vật chât và
tinh thần. Chỉ trong toàn bộ các quan hệ xã hội đó
(giai cấp, chính trị, dân tộc, thời đại, kinh tế, gia
đình…) con người mới bộc lộ bản chất của mình.
Nhưng ko phủ nhận mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên.
Trang 1
Giáo án Chính trị Lê Thị Mỹ An
a) Khái niệm nhân cách
+ Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo quan niệm có
“tính người bẩm sinh”; “nhân cách là yếu tố tinh
thần đầu tiên của tồn tại người và chúa là nhân
cách tối cao nhất có trước và chi phối nhân cách
con người”…
+ Chủ nghĩa duy vật ngoài mácxít và các khoa
học cụ thể thường có xu hướng tuyệt đối hóa mặt
tâm lý, sinh lý, xem nhẹ mặt xã hội hay tách rời
mặt xã hội và mặt tự nhiên của nhân cách.
+ Ngày nay do thành tựu của nhiều ngành
khoa học nghiên cứu về nhân cách, người ta đã
đưa ra một quan niệm tổng hợp và đúng đắn về
nhân cách: nhân cách là toàn bộ những năng lực
và phẩm chất xã hội–sinh lý–tâm lý tạo thành một
chỉnh thể mà nhờ nó mỗi cá nhân người có thể
đóng vai trò chủ thể, tự ý thức, tự đánh giá, tự
khẳng định, tự điều chỉnh mọi hoạt động của
mình.
Nhân cách là tổ hợp thái độ, thuộc tính
riêng trong quan hệ hành động của từng người
với giới tự nhiên, với xã hội và bản thân.

b) Cấu trúc của nhân cách
Một cách khái quát cấu trúc của nhân cách
bao gồm:
- Hạt nhân của nhân cách là thế giới quan của cá
nhân.
- Cái bên trong của nhân cách là những năng lực
và phẩm chất xã hội của cá nhân.
- Cái sâu kín và nhạy cảm nhất của nhân cách là
tâm hồn con người.
2. Những tiền đề và quá trình hình thành nhân
cách của con người mới XHCN Việt Nam
a) Những tiền đề
+ Tiền đề vật chất, trước hết nhân cách phải dựa
trên cơ sở sinh học, tức là một con người có sự
phát triển đầy đủ, không khiếm khuyết về cơ thể,
giác quan và tư duy. Tiền đề vật chất đóng vai trò
“điều kiện đủ” chính là môi trường xã hội, đó là
gia đình và xã hội với những truyền thống, những
giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
+ Tiền đề tư tưởng và giáo dục, nòng cốt của tiền
đề tư tưởng là chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh.
Sự hình thành nhân cách nói chung và nhân cách
XHCN nói riêng diễn ra trong cả đời người, trong
đó giáo dục và tự giáo dục có vai trò đặc biệt
quan trọng, nhất là với lứa tuổi trẻ.
b) Quá trình hình thành nhân cách con
người mới XHCN Việt Nam
Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng
biệt của mỗi cá nhân, nội dung tính chất bên trong

của mỗi cá nhân.
Bao gồm toàn bộ cá yếu tố như quan điểm, lý
luận, niềm tin, định hướng lý luận…
Cơ thể sinh học là điều kiện cần và môi trường xã
hội là điều kiện đủ để hình thành nhân cách con
người.
Trang 2
Giáo án Chính trị Lê Thị Mỹ An
+ Nhân cách của mỗi cá nhân không phải hình
thành một lúc, một lần là xong mà diễn ra theo
một quá trình, suốt cả đời người.
+ Trước hết phải từng bước tạo lập những tiền đề
cho sự hình thành nhân cách XHCN Việt Nam:
tiền đề vật chất là nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN; tiền đề tư tưởng là chủ nghĩa
Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; và tiền đề
giáo dục là cải cách hệ thống giáo dục quốc dân
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi
dưỡng nhân tài.
III. QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VỚI TẬP
THỂ, CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
1. Quan hệ giữa cá nhân với tập thể
a) Khái niệm cá nhân và tập thể
+ Cá nhân người là một chỉnh thể đơn nhất với
một hệ thống những đặc điểm cụ thể, không lặp
lại khác biệt với những cá nhân khác về mặt sinh
học cũng như về mặt xã hội.
+ Khái niệm cá nhân trên đây làm rõ hơn một vấn
đề là: không bao giờ được “cào bằng” giữa các cá
nhân với nhau.

+ Tập thể là một tập hợp quan hệ các cá nhân
thành từng nhóm xã hội dựa trên những quan
điểm chung về lợi ích, về những nhu cầu kinh tế,
chính trị, đạo đức, thẩm mỹ… và quan điểm tư
tưởng.
b) Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể
Giữa cá nhân và tập thể có quan hệ biện chứng,
tức là vừa thống nhất vừa đối lập với nhau:
+ Sự thống nhất biện chứng giữa cá nhân với tập
thể. Bản chất đời sống loài người là tính cộng
đồng, mỗi cá nhân chỉ tồn tại và phát triển được
trong một cộng đồng nhất định.
+ Sự đối lập biện chứng giữa cá nhân và tập thể.
Do mỗi cá nhân là một cá thể đơn nhất, có những
đặc điểm riêng, có nhu cầu nên trong quan hệ với
tập thể, mỗi cá nhân một mặt không thể tách khỏi
tập thể, chỉ tồn tại được trong tập thể và mặt khác
cũng luôn luôn có khuynh hướng muốn đứng đối
diện với tập thể, không chịu sự quy định, ràng
buộc của tập thể.
Để tạo lập mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân
và tập thể cần tuân theo những nguyên tắc sau
đây:
- Kết hợp hài hòa cả lợi ích và địa vị xã hội của cá
nhân và tập thể.
- Cá nhân tôn trọng tập thể.
- Tập thể luôn luôn quan tâm đến mỗi cá nhân.
Là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một
xã hội nhất định và được phân biệt với các cá
nhân khác qua tính đơn nhất và tính phổ biến của

nó > Tính đơn nhất và tính phổ biến.
Cá nhân là chủ thể lao động , của mọi quan hệ xã
hội và của nhận thức nhằm thực hiện chức năng
cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn
lịch sử nhất định của lịch sử xã hội.
Trang 3
Giáo án Chính trị Lê Thị Mỹ An
2. Quan hệ giữa cá nhân với xã hội
a) Khái niệm xã hội
+ Khái niệm xã hội được xác định như là một
cộng đồng người có tổ chức liên kết các cá nhân
với nhau.
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là tất yếu và biện
chứng. Tất yếu vì không có cá nhân tồn tại, phát
triển bên ngoài xã hội và không có xã hội nếu
không có sự liên kết các cá nhân. Biện chứng vì
giữa cá nhân và xã hội có sự tác động qua lại với
nhau. Xã hội tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát
triển, nâng sức mạnh của mỗi cá nhân lên hơn bản
thân nó. Các cá nhân hợp thành xã hội không phải
là một tổng số đơn giản mà tạo ra một hợp lực lớn
hơn tổng số các cá nhân cộng lại.
+ Sự phát triển của xã hội làm cho mối quan hệ
giữa cá nhân và xã hội ngày càng đa dạng, phức
tạp và phong phú
+ Vai trò của cá nhân đối với xã hội phụ thuộc
vào sự phát triển của nhân cách.
b) Xây dựng quan hệ đúng đắn giữa cá nhân và
xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
+ Công cuộc xây dựng đất nước theo đường lối

đổi mới của Đảng ta, cùng với sự mở rộng giao
lưu quốc tế đã làm biến đổi sâu sắc quan hệ giữa
cá nhân và xã hội.
+ Để cho những mâu thuẫn đó phát triển lành
mạnh, không dẫn tới trì trệ khủng hoảng, cần
phải:
- Đảng và Nhà nước cần có chủ trương, chính
sách đúng đắn nhằm điều hòa lợi ích và nhu cầu
giữa cá nhân với xã hội.
- Giải quyết kịp thời những mâu thuẫn trong nội
bộ nhân dân, ngăn ngừa và chống lại những vi
phạm lợi ích chính đáng của cá nhân, tập thể xã
hội.
- Xây dựng Nhà nước với hệ thống pháp luật đầy
đủ, có hiệu lực để quản lý xã hội.
Xã hội càng phát triển thì cá nhân càng có đk tiếp
cận ngày càng nhiều các giá trị vật chất và tinh
thần. Mỗi cá nhân càng phát triển thì cá nhân
càng có đk để thúc đẩy xã hội.
Tăng lên các loại quan hệ về số lượng và chất
lượng; mỗi cá nhân không ngừng tiếp nhận được
nhiều giá trị văn hóa vật chất và tinh thần từ xã
hội; tính xã hội hóa ngày càng cao của LLSX;
nhiều vấn đề mang tính toàn cầu xuất hiện như:
chiến tranh hạt nhân, mội trường ô nhiễm, những
căn bệnh thế kỷ…
Những cá nhân có nhân cách lớn, có tài năng cao,
có ý chí sắt đá, có tầm nhìn rộng và có trách
nhiệm đối với xã hội, sẽ có tác động tích cực đến
sự phát triển của xã hội, ghi dấu ấn sâu sắc của cá

nhân vào xã hội từ quốc gia đến quốc tế, đó là
những lãnh tụ, danh nhân, vĩ nhân. Ngược lại,
những cá nhân có nhân cách thấp, hoặc thoái hóa,
biến chất về nhân cách thường gây hậu quả xấu,
thậm chí phá hoại sự phát triển của xã hội.
Trang 4
Giáo án Chính trị Lê Thị Mỹ An
- Mở rộng dân chủ.
- Tăng cường giáo dục, nâng cao trình độ dân trí.
Giáo viên hướng dẫn duyệt Giáo viên tập sự
Nguyễn Văn Trang Lê Thị Mỹ An
Trang 5

×