Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

10.ly thuyet tam ly xa hoi trong quan tri

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 22 trang )

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC.................................................................................................................................................1

1. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT TÂM LÝ XÃ HỘI TRONG QUẢN TRỊ: ......................................2

1.1. Tổng quan về Tâm lý:...................................................................................................................................... 2

1.2. Đối tượng nghiên cứu của tâm lý trong quản trị:............................................................................................ 2

1.3. Phương pháp nghiên cứu của tâm lý học quản trị: ......................................................................................... 3

1.3. Lịch sử phát triển của tâm lý học quản trị:...................................................................................................... 4

2. CÁC TRƯỜNG PHÁI CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT TÂM LÝ XÃ HỘI TRONG QUẢN TRỊ .......6

2.1. Robert Owen (1771 – 1858) :......................................................................................................................... 6

2.2. Hugo Munsterberg (1863 – 1916) :................................................................................................................ 6

2.3. Mary Parker Follett (1863 – 1933):................................................................................................................. 7

2.4. Abraham Maslow (1908 – 1970) : .................................................................................................................. 8

2.5. Donghlas Mc Gregor (1906 – 1964) :............................................................................................................. 8

2.6. Hawthorne do Elton Mayo (1880 – 1949) Giáo sư của Đại học Havard, ông đã thực hiện và kế thừa nhiều
kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác của các nhà tâm lý công nghiệp................................................................ 9


2.7. Những quan điểm về hành vi con người:....................................................................................................... 9

3. THUYẾT NHU CẦU CỦA ABRAHAM MASLOW VÀ ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT NHU CẦU
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ: ....................................................................................................10

3.1. Tiểu sử: .......................................................................................................................................................... 10

3.2. Một số nội dung về thuyết nhu cầu của A.Maslow ...................................................................................... 10

3.3 Ứng dụng thuyết Maslow trong thực tiễn:..................................................................................................... 13

3.4. Những hạn chế của thuyết nhu cầu Maslow: ................................................................................................ 15

4. NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA LÝ THUYẾT TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI TRONG
QUẢN TRỊ: ...........................................................................................................................................19

4.1. Thành tựu:...................................................................................................................................................... 19

4.2. Hạn chế: ......................................................................................................................................................... 19

PHỤ LỤC: TRÒ CHƠI BẠN LÀ AI?...................................................................................................21



2

1. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT TÂM LÝ XÃ HỘI TRONG QUẢN TRỊ:
1.1. Tổng quan về Tâm lý
:
1.1.1. Khái niệm tâm lý:

Tâm lý là sự phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan, não làm
chức năng phản ánh đó. Sự phản ánh này có tính chất chủ thể và mang bản chất
xã hội - lịch sử.
1.1.2. Đặc điểm của tâm lý người:
Khi nói đến tâm lý người cần nắm một số đặc điểm cơ bản sau:
- Tâm lý là hiện tượng tinh thần là đời sống nội tâm củ
a con người.
- Tâm lý là một hiện tượng tinh thần gần gũi, thân thuộc với con người.
- Tâm lý người phong phú, đa dạng và đầy tính tiềm tàng.
- Tâm lý người có tính chất chủ thể nên tâm lý không ai giống ai.
- Tâm lý người là kết quả của quá trình xã hội hoá.
- Tâm lý tốt có thể tăng thêm sức mạnh và ngược lại.
1.2. Đối tượng nghiên cứu của tâm lý trong quản trị
:
Là ngành khoa học nghiên cứu việc ứng dụng tâm lý vào công tác quản trị
kinh doanh. Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học quản trị là:
- Sự thích ứng của công việc SXKD với con người như phân công lao
động, đánh giá việc thực hiện, tổ chức chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, đưa
yếu tố thẩm mỹ vào SXKD...
- Mối quan hệ "Người - Máy móc", nghiên cứu việc thiết kế máy móc phù
hợp nh
ất với tâm sinh lý của người sử dụng.
- Mối quan hệ của con người với nghề nghiệp bao gồm lựa chọn những
người phù hợp với công việc, đào tạo những kỹ năng liên quan đến nghề
nghiệp…
- Sự thích ứng của con người với con người trong SXKD như bầu không
khí tâm lý tập thể, sự hoà hợp giữa các thành viên, mối quan hệ giữa lãnh đạo và
nhân viên, tạo độ
ng cơ thúc đẩy lao động...
- Tâm lý tiêu dùng. Những khám phá được tâm lý học quả trị tìm ra có thể

sử dụng để thuê những nhân viên giỏi nhất, giảm bớt sự vắng mặt, cải thiện sự
truyền đạt thông tin, tăng thêm sự thảo mãn trong công việc, giải quyết vô số
vấn đề khác. Hầu hết các nhà tâm lý học I/O cảm thấy có sự giống nhau giữa hai
mặt: khoa học và thực hành. Do đó, trong sự giáo dụ
c các nhà tâm lý học I/O
đều có mô hình người nghiên cứu -ứng dụng, họ được dạy cả cách điều tra
nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn.
3

1.3. Phương pháp nghiên cứu của tâm lý học quản trị:
1.3.1. Các nguyên tắc cần tuân thủ khi nghiên cứu tâm lý người:
- Đảm bảo tính khách quan.
- Đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống.
- Đảm bảo tính biện chứng và tính lịch sử.
- Đảm bảo tính sâu sắc và khoa học.
- Phải kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu.
1.3.2. Các phương pháp nghiên cứu:
- Quan sát: là phương pháp dùng các giác quan để tri giác đối tượng và
thông qua những gì tri giác được mà đoán định về tâm lý của đối tượng. Quan
sát là dùng tai để nghe, mắt
để nhìn, mũi để ngửi mùi, da để cả, nhận sự đụng
chạm và thông qua đó đoán định tâm lý của đối tượng.
- Đàm thoại (phỏng vấn): Là phương pháp mà người nghiên cứu đặt ra một
loạt câu hỏi trong cuộc tiếp xúc trực tiếp để thông qua câu trả lời mà đoán định
tâm lý của đối tượng.
- Phương pháp bảng câu hỏi: là phương pháp dùng một bảng câu hỏi soạ
n
sẵn và dựa vào câu trả lời để đánh giá tâm lý của đối tượng.
- Phương pháp trắc nghiệm: là phương pháp dùng các phép thử, thường là
các bài tập nhỏ, đã được kiểm nghiệm trên một số lượng người vừa đủ tiêu biểu,

và dùng kết quả của nó để đánh giá tâm lý của đối tượng.
- Phương pháp thực nghiệm: là phương pháp mà người nghiên cứu đưa đối
tượng vào các tình hu
ống thực tế trong hoạt động hàng ngày của họ, chính người
tham gia cũng không biết là mình đang bị nghiên cứu, người nghiên cứu có thể
chủ động tạo ra các tình huống đặc thù để đối tượng bật ra tâm lý thực. Phương
pháp này thường được nhà quản trị sử dụng khi muốn tìm hiểu tính cách của
nhân viên mình, khi muốn kiểm tra năng lực của một cán bộ, nhân viên sắp được
đề bạt, khi muốn kiể
m tra mô hình quản lý mới.
- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: là phương pháp nghiên cứu các mối
quan hệ xã hội của đối tượng để suy ra tâm lý của họ; khi nghiên cứu cần nghiên
cứu về gia tộc huyết thống của người đó, các mối quan hệ xã hội, nhịp sống xã
hội của người đó.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: là phương pháp thông qua các sản
phẩm mà người đó làm ra để đ
oán định tâm lý của họ.
- Phương pháp trắc lượng xã hội: người nghiên cứu đưa ra một bảng hỏi từ
8-10 câu xoay quanh việc đối tượng chọn ai hoặc không chọn ai, thích ai, không
thích ai để từ đó nghiên cứu ra mối quan hệ trong nhóm và tập thể.
4


1.4. Lịch sử phát triển của tâm lý học quản trị
:
Lịch sử tâm lý học quản trị có thể chia thành các giai đoạn sau:
1.4.1. Những năm đầu 1900-1916 – Giai đoạn hình thành:
Giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của tâm lý học quản trị. Tâm lý học quả
trị ra đời từ sự kết hợp tự nhiên giữa ý tưởng nghiên cứu tâm lý để vận dụng vào
trong thực tiễn và sự mong muốn của các kỹ sư công nghiệp trong cả

i tiến năng
suất lao động. Với những tên tuổi nổi tiếng trong giai đoạn này như: năm 1897
W.L.Bryan viết một bài báo (Bryan &Harter, 1897) về phát triển kỹ năng nghề
nghiệp của nhân viên điện báo trong việc gửi và nhận tín hiệu Morse; Cặp vợ
chồng Frank and Lillian Gilbreth góp phần tiên phong cho những hiểu biết về
thời gian cử động trong sản xuất công nghiệp; Walter Dill Scott với hai cuốn
sách: lý thuyết quảng cáo (1903) và tâm lý học trong qu
ảng cáo (1908);
Frederick W. Taylor với quyển sách những nguyên lý của quản trị khoa học
(1911); Hugo Münsterberg với quyển sách của ông Tâm lý học và năng suất
công nghiệp (1913) phân biệt 3 phần: lựa chọn người lao động, thiết kế điều
kiện làm việc, và sử dụng tâm lý học trong bán hàng.
1.4.2. Giai đoạn 1917-1945- Giai đoạn phát triển và khẳng định vai trò:
Giai đoạn này tâm lý học quản trị chịu tác động mạnh mẽ của hai cuộ
c
chiến tranh thế giới. Có thể chia thành các giai đoạn nhỏ như sau:
) Giai đoạn 1917-1918
:
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đưa tâm lý học nói chung và tâm lý quản
trị nói riêng lên vị trí được tôn trọng. Với những nghiên cứu và đóng góp, các
nhà tâm lý được coi trọng như những người có thể tạo ra những đóng góp có giá
trị cho xã hội và cho việc ứng dụng của các doanh nghiệp, và cho nền kinh tế.
Cũng năm 1917 tạp chí lâu đời và tiêu biểu nhất trong lĩnh vực tâm lý học
quản trị - Tạp chí tâm lý h
ọc ứng dung- bắt đầu được xuất bản. Một số bài báo
trong số đầu tiên là “Những mối quan hệ thực tế giữa tâm lý học và chiến tranh”
của Hall, “Kiểm tra trí lực của sinh viên đại học” của Bingham, và “Người khờ
dại là một vấn đề của chiến tranh” của Mateer. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất,
là thời kỳ bùng nổ các công ty tư vấn và các cơ quan nghiên cứu tâm lý. Sự ra
đờ

i của các cơ quan này báo hiệu kỷ nguyên mới của tâm lý học quản trị.
) Giai đoạn 1919-1940
:
Giai đoạn này xã hội đã bắt đầu nhận thức rõ rằng tâm lý học quản trị có
thể giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Tiếp sau chiến tranh, một vài cơ quan
nghiên cứu tâm lý thực sự đạt đến thời kỳ rực rỡ. Tiêu biểu như ở Mỹ Viện
nghiên cứu nghệ thuật bán hàng của trường Đại học kỹ thuật Carnegie
được
Walter Bingham mở rộng.


5

) Giai đoạn 1941-1945:
Trong thời gian này, các nhà tâm lý học nghiên cứu các vấn đề tuyển chọn
người lao động và bố trí công việc và tiến hành lựa chọn họ với những kỹ thuật
lớn lao hơn. Trong giai đoạn này việc sử dụng các test cho nhân viên trong công
nghiệp tăng lên nhiều. Vì các doanh nghiệp cần một lực lượng lao động sản xuất
ra nhiều, các nhà tâm lý được gọi đến giúp làm giảm sự vắng mặt của người lao
độ
ng (Pickard, 1945).
1.4.3. Giai đoạn phân hoá (1946-1963):
Trong thời kỳ này, tâm lý học quản trị tiến triển thành lĩnh vực chính thống
của khoa học điều tra, tự nó đã có uy tín như một nghề thực nghiệm được thừa
nhận. Nhiều trường đại học và tổng hợp mở cá lớp “tâm lý học công nghiệp”, và
đào tạo cả cấp độ cao học và tiến sĩ. Sự quan tâm đến một chuyên ngành bắt
đầu
kết tinh, và tâm lý học công nghiệp tạo thành một lĩnh vực riêng.
Vào những năm 1950, sự quan tâm tăng lên đối với nghiên cứu tổ chức.
Các nhà nghiên cứu dành sự chú ý hơn đến các ảnh hưởng của xã hội đã tác

động đến hành vi trong tổ chức. Các điều kiện như sự thay đổi của tổ chức và sự
phát triển của tổ chức được xuất bản thành tài liệu thườ
ng xuyên hơn. Hành vi tổ
chức là sự pha trộn của tâm lý học công nghiệp, tâm lý xã hội và xã hội học.
1.4.4. Giai đoạn có sự giám sát của chính phủ (1964 đến nay):
Vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, dưới tác động của
Liên Hiệp Quốc về vấn đề nhân quyền, các quốc gia bắt đầu tăng cường quan
tâm đến quyền của công dân, đến các khía cạnh công bằng trong công việc. Từ
trước đó Tâm lý h
ọc quản trị đã được xem như một nghề, các nhà tâm lý học
quản trị tương đối được tự do và ít bị kiểm soát trong việc sử dụng trạng thái
muôn màu muôn vẻ rộng lớn của các phương pháp đánh giá tâm lý (như là,
test, phỏng vấn, và vân vân) để đưa ra các quyết định về lao động. Kết quả của
các quyết định lao động dựa trên đánh giá tâm lý bị cho là tạo ra sự hạn chế

không cho phép các nhóm thiểu số (đáng kể nhất là người da đen và nữ giới)
tham gia làm việc. Các chính phủ bắt đầu qui định sự giám sát và các thủ tục
cá nhân của người lao động. Như vậy, tâm lý học quả trị phục vụ cả hai yêu
cầu. Thứ nhất là thực hiện công việc với chất lượng cao, điều đó dẫn tới các
nghiên cứu khoa học hoặc các dịch vụ phụ
c vụ cho khách hàng. Thứ hai là đáp
ứng sự khảo sát và đánh giá của chính phủ. Các nhà tâm lý học quản trị hiện
nay đã chấp nhận tầm quan trọng của việc chịu trách nhiệm pháp lý đối với
hành vi của mình. Sự giám sát của pháp luật, nhắc nhở các nhà tâm lý học quản
trị mở rộng tầm nhận thức của họ để đảm bảo được chấp nhận các vấn đề họ

hướng đến và các giải pháp họ đề xuất. Một nhà tâm lý học hiện đại đòi hỏi
phải lưu tâm các qui định của luật pháp.

6


2. CÁC TRƯỜNG PHÁI CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT TÂM LÝ XÃ HỘI
TRONG QUẢN TRỊ

2.1. Robert Owen (1771 – 1858) :
Ông sinh trưởng ở Newtown vùng Mongomery, nước Anh, trong một gia
đình thợ thủ công bình thường. Cuộc đời của Robert Owen trải qua các thời kỳ của
cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh. Khi học hết tiểu học và học dở dang
trung học, Owen tham gia vào việc kinh doanh vải, sau đó là chủ xưởng dệt.
Năm 19 tuổi, ông trở thành chủ xưởng dệt ở Manchester. Năm 28 tuổi,
Owen quản lý nhà máy dệt New Lanak (Scotland). Trong thời gian quản lý nhà
máy (1797 - 1824), Robert Owen đã tham gia nghiên c
ứu kinh tế và chính trị
học. Với khả năng trí tuệ nhạy bén và môi trường hoạt động, ông đã làm nhiều
việc để cải thiện điều kiện lao động và đời sống của công nhân. Ông có những
suy nghĩ sâu sắc về xã hội tư bản và nhưng dự định cải tạo xã hội đó. Ông
chuyển dần từ chủ nghĩa từ thiện sang chủ nghĩa xã hộ
i không tưởng. Ông là
người đầu tiên nói đến nhân lực trong tổ chức. Ông chỉ trích các nhà công
nghiệp bỏ tiền ra phát triển máy móc nhưng lại không cải tiến số phận của
những “máy móc người”.
Học thuyết của Robert Owen được thể hiện trong những tác phẩm, chủ yếu
được ông viết từ 1812 - 1849. Nổi bật trong số các tác phẩm đó là: Báo cáo về xí
nghiệp ở New Lanak (1812), Quan điểm mới về
xã hội hay tiểu luận về nguồn
gốc của sự hình thành đặc tính nhân loại (1814), Thế giới đạo đức mới (1844),
Cách mạng trong ý thức và hoạt động của nhân loại (1849), Tự thuật cuộc đời
của Robert Owen (1857). Trong học thuyết của mình, Robert Owen phê phán
những cơ sở của chế độ tư bản chủ nghĩa như: chế độ tư hữu, kết c
ấu giai cấp xã

hội, sự bần cùng hóa nhân dân lao động. Ông đánh giá khá đúng đắn ý nghĩa to
lớn của sự phát triển lực lượng sản xuất trong thời đại cách mạng công nghiệp.
Owen cho rằng chế độ tư hữu là nhân tố duy trì và tăng cường sự suy đồi về đạo
đức của các giai cấp trong xã hội; là nguyên nhân của thù hằn và đấu tranh giữa
các dân tộc. Ông cũng có thái độ phủ định gay gắ
t với giáo hội Thiên Chúa và
chế độ hôn nhân tư sản. Từ đó Robert Owen đưa ra những dự định về việc xây
dựng một xã hội mới. Xã hội mới đó vận hành theo nguyên tắc sở hữu chung và
lao động chung, kết hợp lao động trí óc và chân tay, sự phát triển toàn diện của
cá nhân, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
2.2. Hugo Munsterberg
(1863 – 1916) :
Một số Giáo sư cho rằng chính Hugo Munsterberg là người đã lập ra một
ngành khoa học mới là ngành tâm lí học công nghiệp. Trong tác phẩm nhan đề
"Tâm lí học và hiệu quả trong công nghiệp" xuất bản năm 1913. Munsterberg
đặt vấn đề nghiên cứu một cách khoa học về hành vi con người để tìm ra những
chuẩn mực chung và những điểm khác biệt. Ông cho rằng năng suất lao động sẽ
tăng lên nếu công việc phù hợp với tâm lý ngườ
i lao động và đề ra nhiệm vụ
nghiên cứu, phân tích các đặc điểm tâm lý của họ. Munsterberg đề nghị dùng
các bài trắc nghiệm tâm lí để tuyển chọn nhân viên, và phải tìm hiểu tác phong
7

con người trước khi đi tìm những kĩ thuật thích hợp để kích thích họ làm việc.
Khi Munsterberg còn sống, những ý kiến ấy đã không được giới quản lý chú ý
nhưng ngày nay lại đang được ứng dụng nhiều.
Trong tác phẩm nhan đề “tâm lý học và hiệu quả trong công nghiệp” xuất bản
năm 1913, ông nhấn mạnh là phải nghiên cứu một cách khoa học tác phong của
con người để tìm ra những mẫu mực chung và giải thích nhữ
ng sự khác biệt. Ông

cho rằng năng suất lao động sẽ cao hơn nếu công việc giao phó cho họ được nghiên
cứu phân tích chu đáo, và hợp với những kỹ năng cũng như tâm lý của họ.
2.3. Mary Parker Follett
(1863 – 1933): là nhà nghiên cứu quản trị và đã chú ý
đến tâm lý trong quản trị ngay từ những năm 20, bà có nhiều đóng góp có giá trị
về nhóm lao động và quan hệ xã hội trong quản trị.
Thuyết quản lý của M.P. Follet thể hiện các nội dung chủ yếu sau
- Giải quyết mâu thuẫn: M.P.Follet quan niệm mâu thuẫn không phải là sự
tranh chấp mà là sự khác biệt về ý kiến. Nó không xấu và cũng không tốt, tất cả
tuỳ thuộc s
ự nhận biết của nhà quản lý để có thể sử dụng hay loại trừ (giống như
hiện tượng ma sát trong vật lý). Có 3 phương pháp chủ yếu để lựa chọn khi giải
quyết mâu thuẫn, đó là: áp chế, thỏa hiệp và thống nhất.
+ Áp chế đem lại thắng lợi dễ dàng cho nhà quản lý, nhưng không làm
cho người lao động tự nguyện chấp nhận, để lại hậu quả
lâu dài.
+ Thỏa hiệp thường được các công đoàn thực hiện song chỉ là chấp nhận
tạm thời.
+ Phương pháp thống nhất là tốt nhất vì nó tạo ra giá trị phụ trội lớn hơn
tổng giá trị của các cá thể, giải quyết được triệt để mâu thuẫn. Cần công khai
mâu thuẫn, sau đó xem xét ý muốn của mỗi bên, tìm ra “tiếng nói chung” như là
nhu cầu chung cần đạt.
- Ra mệnh lệnh: Ra m
ệnh lệnh quản lý là việc cần thiết, song không coi đó
là sự áp đặt theo “chủ nghĩa ông chủ” khiến người chấp hành thụ động thiếu tự
nguyện. Ra mệnh lệnh phải đạt tới sự thống nhất với thái độ phù hợp tâm lý đối
tượng, trong đó họ thấy sự cần thiết và phần trách nhiệm chung, không bị thúc
ép miễn cưỡng.
- Quyền lực và thẩm quyề
n: Phân biệt quyền lực do tổ chức “ban” cho với

thẩm quyền (quyền hạn) được sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ cần tiến
hành. Nhà quản lý cần tập trung vào thẩm quyền (quyền lực liên kết) thay vì
quyền lực tuyệt đối; gắn với chức năng thay vì chức vị.
- Trách nhiệm tích luỹ: Đó là trách nhiệm chung mà mỗi cấp quản lý dự

phần trong việc ra quyết định và người thừa hành ý thức được. Cần tăng cường
các mối quan hệ ngang (phối hợp – cộng tác) thay vì chỉ điều khiển – phục tùng.
- Lãnh đạo và điều khiển: Quyền điều khiển thuộc về người lãnh đạo
(đứng đầu). Người đó phải có hiểu biết sâu rộng nhất về hoàn cảnh cần có quyết
định; ph
ải có năng lực thuyết phục; biết tạo điều kiện và rèn luyện cho cấp dưới
biết cách tự điều khiển, tự ra quyết định và chịu trách nhiệm.
8

Nhìn chung, thuyết này quan tâm đến yếu tố tâm lý trong việc ra quyết định và
điều hành các hoạt động; khơng lạm dụng quyền lực. Song nó mới chỉ đề cập một số
nội dung cụ thể, chưa đủ khái qt để trở thành một thuyết hồn chỉnh

2.4. Abraham Maslow (1908 – 1970) : Là nhà tâm lý học đã xây dựng một lý
thuyết về nhu cầu của con người gồm 5 bậc được xếp từ thấp lên cao theo thứ tự (1)
nhu cầu sinh lý, (2) nhu cầu an tồn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tơn trọng
và (5) nhu cầu tự hồn thiện.










Sơ đồ 2 : Sự phân cấp nhu cầu của Maslow.
9 Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp : cấp cao và cấp thấp.
Các nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và an tồn, an ninh.
Các nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng, và tự thể hiện.
Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu
từ bên ngồi, trong khi các nhu cầu cấp cao được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại
của con người

2.5. Donghlas Mc Gregor (1906 – 1964) :
Mc Gregor cho rằng các nhà quản trị trước đây đã tiến hành các cách thức quản
trị trên những giả thuyết sai lầm về tác phong của con người.
Gregor gọi những giả thiết đó là X, Những giả thiết đó cho rằng

Phần đơng mọi người đều khơng thích làm việc,
Thích được chỉ huy hơn là tự chịu trách nhiệm,
Hầu hết mọi người làm việc vì lợi ích vật chất,
 Như vậy các nhà quản trị đã xây dựng những bộ máy tổ chức với quyền
hành tập trung đặt ra nhiều quy tắc thủ tục, đồng thời với một hệ thống kiểm
tra giám sát chặt chẽ.
Gregor đề nghị một loạt giả thuyết khác mà ơng gọi là Y
: Thuyết Y cho rằng
con người sẽ thích thú với cơng việc nếu có được những thuận lợi và họ có thể
Nhu
cầu tự
thân vận động
Những nhu cầu
về sự tôn trọng
Những nhu cầu về
liên kết và chấp nhận

Những nhu cầu về an
ninh hoặc an toàn
Những nhu cầu về sinh lý

×