Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Bò sát ( phần 1 ) Sự tiến hoá của bò sát (Reptilia) doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.95 KB, 5 trang )

Bò sát ( phần 1 )
Sự tiến hoá của bò sát (Reptilia)
Thằn lằn sọ đủ có thể coi như là nguồn gốc của tất cả bò sát chính. Sự
tiến hoá của các nhóm nầy về cơ bản thích nghi với đời sống hoạt động
nên bộ xương trở nên nhẹ và chắc hơn: chi dài, số đốt sống chậu tăng (ít
nhất có 2 đốt) đai vai nhẹ.
Ðặc biệt sọ nhẹ nhờ tiêu giảm các xương bì để hình thành hố thái dương.
Hố này là chỗ bám của cơ nhai. Các hố thái dương được hình thành theo
2 cách chủ yếu: một đôi hố thái dương hoặc 2 đôi hố thái dương. Do đó
dựa vào hố thái dương mà toàn bộ bò sát có thể chia làm 4 nhóm:
1. Nhóm không cung (Anapsida)
Giáp sọ nguyên vẹn (không có hố thái dương) gồm thằn lằn sọ đủ và rùa.
Rùa là bò sát cổ nhất ở kỷ Tam diệp rùa có cấu tạo tương tự như ngày
nay.
2. Nhóm một cung trên (Euryapsida)
Giáp sọ có một đôi hố thái dương nằm ở phía trên cung thái dương được
hợp bởi xương sau ổ mắt và xương vảy gồm thằn lằn Cổ rắn
(Plesiosauria) và thằn lằn Vây cá (Ichthyosauria). Thằn lằn cổ rắn dài từ
2,5 - 15m sống ở biển, có da trần, thân dẹp, chi khoẻ hình bơi chèo,
cổ dài, đầu nhỏ, đuôi ngắn. Thằn lằn vây cá chuyển hoá với đời
sống ở dưới nước hơn thằn lằn cổ rắn; dài từ 1 - 14m, có da trần, hình
thoi, cổ không rõ ràng, đầu dài, đuôi dị hình chi hình bơi chèo ngắn, chi
sau nhỏ hơn chi trước, ăn cá.
3. Nhóm một cung bên (Synapsida)
Giáp sọ có một đôi hố thái dương nằm ở trên cung thái dương hợp bởi
xương gò má và xương vuông gồm bò sát hình thú (Theromorpha) bắt
nguồn trực tiếp từ thằn lằn sọ đủ. Chúng có bộ hàm khoẻ với cơ hàm phát
triển, răng nằm trong lổ chân răng, song đốt sống vẫn lõm hai mặt. Ðến
cuối kỷ Permi, xuất hiện bò sát hình thú cao (Theriodonta), chúng mang
nhiều đặc điểm của thú như bộ răng đã phân hoá thành răng cửa, răng
nanh và răng hàm, có khẩu cái thứ sinh, lồi cầu chẩm ngăn đôi, xương


răng rất lớn át các xương khác của hàm dưới.
Có thể kể Cynognathus một dạng ăn thịt ít chuyển hóa, Inostrancevia
ăn thịt chuyên hoá. Vào cuối kỷ Tam diệp, các bò sát hình thú bị tiêu diệt
do sự cạnh tranh của các bò sát khổng lồ ăn thịt. Có lẻ một hay một số
loài hình thú nào đó là nguồn gốc trực tiếp của lớp thú hiện nay.
4. Nhóm hai cung (Diapsida)
Giáp sọ có hai
đôi hố thái dương, bao gồm tất cả những loài bò sát hiện nay.
- Chủy đầu (Prosauria) là nhóm bò sát nguyên thủy được biết từ kỷ Tam
diệp.
Di tích cổ nhất là Hatteria (Sphenodon punctatus) còn tồn tại đến ngày
nay.
- Nhóm Pseudosuchia bắt nguồn từ chủy đầu, có răng nằm trong lổ chân
răng, đa số vận chuyển bằng chi sau. Nhóm nầy gồm rất nhiều dạng và
phân hoá thành nhiều nhánh trong đó có 3 nhánh phát triển mạnh mẽ ở kỷ
Juria và bạch phấn. Ðó là cá sấu (ở nước), thằn lằn khổng lồ (ở cạn) và
thằn lằn cánh (ở trên không).
+ Cá sấu xuất hiện vào cuối kỷ Tam diệp, có mõm và khẩu cái thứ sinh
còn ngắn, đốt sống lõm hai mặt. Ðến kỷ Bạch phấn xuất hiện các dạng cá
sấu như hiện nay.
+ Thằn lằn khổng lồ (Dinosauria) là nhánh đa dạng nhất thời đó,
kích thước thay đổi từ 1 - 30m, các thằn lằn khổng lồ nặng đến 40 - 50
tấn, có dạng chuyển vận bằng bốn chân, có dạng bằng hai chân sau, song
tất cả đều có sọ nhỏ. Thằn lằn khổng lồ chia làm hai bộ là bộ Hông thằn
lằn và bộ Hông chim khác nhau chủ yếu ở cấu tạo đai hông.
* Bộ thằn lằn khổng lồ Hông thằn lằn (Saurischia) khởi đầu gồm các
dạng ăn thịt có kích thước trung bình, di chuyển bằng hai chi sau, hai chi
trước để bắt mồi hay cầm thức ăn, đuôi dài là chỗ tựa cho cơ thể,
điển hình là thằn lằn sừng (Ceratosaurus). Tiếp đó xuất hiện các dạng
ăn thực vật, đi bằng bốn chân dài bằng nhau có kích thước khổng lồ như

thằn lằn sấm (Brontosaurus) dài 20m, nặng 30 tấn, thằn lằn hai óc
(Diplodocus) dài 26m.
* Bộ thằn lằn khổng lồ Hông chim (Ornithischia) có đai hông giống chim,
có kích thước không lớn so với bộ trên nhưng rất đa dạng. Có bộ giáp
phát triển đôi khi kèm theo sừng và gai. Ða số có răng ở phía sau
hàm, phần trước hàm có lẽ phủ mỏ sừng. Tất cả đều ăn thực vật. Ðại
diện thằn lằn nhông (Iguanodon) cao 5m - 9m , di chuyển bằng hai chi
sau, thiếu giáp, sau đó xuất hiện đi bằng bốn chân như thằn lằn gai sống
(Stegosaurus) dài 6 m có hai hàng tấm xương tam giác dọc sống lưng và
nhiều gai nhọn ở đuôi; thằn lằn ba sừng (Triceratops) có hình dạng tê
giác, một sừng lớn ở mõm, một sừng nhỏ phía trên mặt và nhiều mấu
nhọn ở cạnh sau sọ. Thằn lằn cánh (Pterosauria) giống chim và dơi, đốt
sống gần với nhau, xương lưỡi hái lớn, xương chậu phức tạp, xương rỗng.
Chi trước dài, có ngón thứ tư căng một màng da dính bên thân. Hàm dài
có răng hay mỏ. Thằn lằn cánh có thể ăn cá và sống bờ đá của các vực
nước, có loài cánh giương rộng đến 7m.
- Các dạng có vảy (Squamala) bao gồm thằn lằn và rắn. Thằn lằn ở cạn
xuất hiện từ kỷ Jura, còn rắn ở kỷ Bạch phấn. Bắt đầu chuyển sang kỷ Ðệ
tam khi hầu hết bò sát bị tiêu diệt thì bộ có vảy đã phát triển và phân hoá
thành nhiều họ còn tồn tại đến ngày nay.
Nguồn gốc của Bò sát (Reptilia)
ều kiện hình thành bò sát đâu tiên
Vào cuối kỷ Thạch thán, khí hậu ấm và ẩm trên quả đất do những quá
trình tạo sơn lớn trở nên khô ráo và nhiều vùng lớn trên quả đất trở thành
sa mạc. Giới thực vật đầm lầy phong phú trước đó nay bị tiêu diệt gần hết
chỉ để lại những cây mộc tặc khổng lồ và vài loại dương xĩ dạng cây.
Những điều kiện sống như trên không phù hợp với lưỡng cư giáp đầu do
đó đa số luỡng cư cổ bị tiêu diệt vào đầu kỷ Permi. Tuy nhiên một số
lưỡng cư cổ đã phát sinh vài đặc điểm thích nghi với điều kiện sống mới
sống ở cạn (da có lớp ngoài hóa sừng tránh được sự thoát hơi nước, khả

năng sinh sản ở cạn (đặc biệt là cấu tạo trứng), não bộ phát triển tương
đối cao) để trở thành các bò sát cổ. Sau khi hình thành, bò sát đã chiếm
ưu thế ở ngay đầu đại trung sinh và tiến hóa theo nhiều hướng khác nhau:
một số trở lại sống môi trường nước, một số có đời sống trên không
trung. Vì vậy đại trung sinh được gọi là niên đại bò sát.

Trứng không thấm nước của bò sát
(Trứng có màng ối là sự kiện quan trọng nhất để bò sát thích nghi với
điều kiện trên cạn): 1. Phôi; 2. Vỏ da; 3. Vỏ trong; 4. Túi niệu; 5. Túi
nõan hoàng; 6. Màng ối
Bò sát cổ xưa nhất
Các loài bò sát cổ thuộc bộ thằn lằn Sọ đủ (Cotylosauria), từ cuối
kỷ Thạch thán. Thằn lằn Sọ đủ có thân nặng nề dài từ vài centimet đến
vài mét và mang nhiều đặc điểm nguyên thủy giống với lớp lưỡng cư như
sọ phủ kín bởi những xương bì, để hở lổ mũi, mắt và lổ đỉnh (do đó có tên
là sọ đủ). Di tích hóa thạch của thằn lằn sọ đủ cổ nhất là giống Seymouria
ở kỷ Permi. Cơ thể dài khoảng 0,5 mét, ngoài những đặc điểm của bò sát
(cột sống, đai chi, đặc điểm của sọ ) nó còn giữ nhiều đặc điểm của
lưỡng cư như: cổ không rõ ràng, răng nhọn dài, sọ giống lưỡng cư giáp
đầu. Vì lẽ đó người ta xếp nó vào lớp lưỡng cư. Thằn lằn sọ đủ gồm
nhiều loài, ăn thực vật và đa dạng. Có thể kể Pareiasaurus dài 2 - 3 mét,
ăn thực vật. Ða số thằn lằn sọ đủ bị tiêu diệt vào cuối kỷ Permi.

×