Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (673.37 KB, 24 trang )


Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

1


Nội dung
• Một số vấn đề chung về tâm lý học.
• Các học thuyết tâm lý học quản trị.
• Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
và nhiệm vụ của môn học.


Mục tiêu Hướng dẫn học
• Nắm được đối tượng và các phương pháp
nghiên cứu môn học cơ bản.
• Nắm được các kiến thức cơ bản về tâm
lý học.
• Nội dung và ứng dụng của các học thuyết
tâm lý quản trị.


Thời lượng học

• 9 tiết
• Để học tốt bài này cần có cái nhìn tổng
quan về quá trình phát triển của tâm lý
học đặt trong mối quan hệ với khoa
học triết học.
• Trong quá trình học cần có sự so sánh
giữa các học thuyết với nhau để thấy


được sự tiến bộ của từng học thuyết.
• Để có thể vận dụng được các học
thuyết về tâm lý quản trị cần rút ra
được ưu nhược điểm của từng học
thuyết để vận dụng thành công.


BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ TÂM LÝ HỌC

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

2
1.1. Một số vấn đề chung về tâm lý học
1.1.1. Khái niệm, chức năng và đặc điểm của tâm lý học
1.1.1.1. Khái niệm tâm lý học
Thuật ngữ “tâm lý học” hình thành từ hai từ Hy Lạp cổ được phiên âm ra tiếng Latinh
là Psychologie. Từ “Psyche” có nghĩa là tâm hồn, từ “chologie” có nghĩa là khoa học,
như vậy có thể hiểu tâm lý học chính là khoa học về tâm hồn. Trong lịch sử ngôn ngữ
học, thuật ngữ “tâm hồn” đã xuất hiện khá sớm được dùng để chỉ các hiện tượng tâm
lý. Trong tiếng Việt, thuật ngữ “tâm hồn” được hiểu là ý nghĩ và tình cảm, tạo thành
đời sống nội tâm của con người. “Tâm” là tình cảm, ý chí còn “hồn” là tư tưởng, tinh
thần của con người.
Tâm lý học là môn khoa học nghiên cứu sự hình thành, vận động và phát triển của các
hoạt động tâm lý.
Tâm lý học là khoa học nghiên cứu tâm lý con người, nó nghiên cứu cái chung trong
tâm tư của con người và những quan hệ tâm lý của con người với nhau. Hay nói cách
khác, tâm lý là sự hiểu biết về ý muốn, nhu cầu thị hiếu của người khác, là sự cư xử
hoặc cách xử lý tình huống của người nào đó, khả năng chinh phục đối tượng.
1.1.1.2. Chức năng của tâm lý
Tâm lý học nghiên cứu và giải thích những hiện tượng tâm lý khác nhau như các quá

trình tâm lý (cảm giác, cảm xúc, tri giác, tư duy, tưởng tượng ), các trạng thái tâm lý
(xúc động, tâm trạng ) và các thuộc tính tâm lý (năng khiếu và sở thích, năng lực, tư chất,
tính khí, tính cách ) và các quy luật tâm lý. Tâm lý học cũng nghiên cứu các hoạt
động đặc trưng của con người. Ý thức là yếu tố đặc biệt, cần thiết cho hoạt động tâm
lý chủ yếu của con người. Do đó hiện tượng tâm lý có các chức năng sau:
• Chức năng nhận thức: Tâm lý giúp con người nhận biết được thế giới khách quan,
giúp con người phân tích, đánh giá các sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh họ.
• Chức năng là động lực thúc đẩy hành động: Thông thường động lực của các hoạt
động là những tình cảm nhất định (say mê, tình yêu, căm thù ). Trong các trường
hợp khác cũng có thể là các hiện tượng tâm lý khác còn kèm theo c
ảm xúc như
tưởng tượng, ám thị, hụt hẫng.
• Chức năng kiểm soát: Tâm lý điều khiển kiểm soát quá trình hoạt động bằng một
mẫu hình, chương trình, kế hoạch hay cách thức thực hiện. Tâm lý giúp con người
điều chỉnh hoạt động của mình. Để thực hiện chức năng này con người có trí nhớ
và khả năng phân tích so sánh.
Các hiện tượng tâm lý có nhiều chức nă
ng quan trọng như vậy cho nên trong hoạt
động giao tiếp, quản lý con người… Nhà quản trị cần phải nắm vững tâm lý tác động
phù hợp với qui luật tâm lý của họ mới có thể đạt được kết quả cao nhất trong quá
trình quản trị của mình.
1.1.1.3. Đặc điểm của tâm lý
Hiện tượng tâm lý có bốn đặc điểm sau:
• Vô cùng phong phú, phức tạp, bí ẩn và có tính tiềm tàng. Tâm lý là thế giới bên
trong của mỗi con người, nó vô cùng phức tạp, hấp dẫn, kỳ diệu, thậm chí kỳ lạ và

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

3
huyền bí đến nỗi có một thời kỳ người ta cho rằng tâm lý là các hiện tượng thần

linh không thể giải thích nổi “khả cảm” nhưng “bất khả tri”. Ngày nay, nhờ sự tiến
bộ của khoa học và sự đóng góp của nhiều nhà tư tưởng, những hiểu biết về tâm lý
ngày càng được bổ sung, các bí ẩn về lĩnh vực tinh thần con người ngày càng được
giải thích có cơ sở khoa học và dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, với bộ óc cực kỳ tinh vi và
phức tạp, ở con người ngày càng xuất hiện những khả năng tâm lý kỳ lạ ví dụ như khả
năng ngoại cảm, siêu tâm lý…
• Các hiện tượng tâm lý có mối quan hệ với nhau chặt chẽ. Các hiện tượng tâm lý
không tách rời nhau, mà chúng tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau như: Sự tác
động giữa tâm lý – nhận thức và tình cảm khi đánh giá một người nào đó (yêu nên
tốt, ghét nên xấu), giữa các cảm giác của con người (nhà sạch thì mát, bát sạch
ngon cơm)
• Tâm lý là hiện tượng tinh thần, nó tồn tại trong đầu óc của chúng ta, chúng ta
không nhìn thấy nó, không thể sờ thấy, không thể cân đo đong đếm một cách
trực tiếp như các hiện tượng vật chất khác. Mặt khác hoạt động tâm lý học có cơ
sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được phát sinh từ hoạt
động sống của con người, gắn bó mật thiết với các quan hệ xã hội. Tâm lý được
thể hiện ra bên ngoài thông qua hoạt động, hành động, hành vi, cử chỉ nét mặt,
chính vì vậy chúng ta có thể nghiên cứu nó bằng cách quan sát những hành vi, cử
chỉ và biểu hiện bề ngoài của con người. Tuy nhiên không được tuyệt đối hóa
những quan sát khi đánh giá một con người bởi vì những biểu hiện bên ngoài
không phải bao giờ cũng thống nhất với tâm lý bên trong. Cũng có khi:
“Ngoài thì xơn xớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao”,
hay: “Khẩu xà tâm phật” Chính vì vậy để tìm hiểu tâm lý của một người chúng ta
cần phải thận trọng để không bị vẻ bên ngoài của họ đánh lừa.
• Hiện tượng tâm lý có sức mạnh vô cùng to lớn trong đời sống con người, nó có thể
làm cho chúng ta trở nên khỏe mạnh hơn, sung sức hơn, hiệu quả hơn và ngược lại.
Tâm lý có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả làm việc của một người. Khi chúng ta làm
việc với một tâm trạng vui vẻ, hứng thú thì chúng ta sẽ cảm thấy ít mệt mỏi và
hiệu quả cũng cao hơn khi làm việc với tâm trạng chán nản, buồn rầu. Do vậy khi

đánh giá sức mạnh của một người thì ngoài yếu tố thể lực cần quan tâm tới khả
năng ổn định tâm lý của người đó nữa. Chính khả năng ổn định tâm lý giúp con
người phát huy được sức mạnh tiềm tàng của mình trong những tình huống khó
khăn. Nếu khả năng ổn định tâm lý kém thì khi gặp những tình huống bất trắc
người đó sẽ trở nên yếu đuối và mất đi tính hiệu quả trong giải quyết vấn đề.
Tóm lại với các đặc điểm trên của hiện tượng tâm lý, trong cuộc sống cũng như trong
các hoạt động quản trị cần chú ý:
• Không nên phủ nhận hoàn toàn những hiện tượng tâm lý khó hiểu phức tạp mà cần
nghiên cứu một cách thận trọng, khoa học.
• Chống các hiện tượng mê tín dị đoan hoặc tin tưởng quá vào các hiện tượng thần
linh để thần bí hóa chúng dẫn tới nhữ
ng sai lầm đáng tiếc.

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

4
• Khi nhìn nhận đánh giá một con người cần kết hợp xem xét bản chất của họ với
những biểu hiện bề ngoài.
• Cần tạo ra những hiện tượng tâm lý tích cực, thoải mái để con người có thể phát huy
sức mạnh vật chất cũng như tinh thần góp phần tăng hiệu quả lao động sản xuất.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của tâm lý học
1.1.2.1. Những quan điểm của tâm lý học thời kỳ cổ đại
Quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người
bắt đầu từ cách đây khoảng 10 vạn năm. Qua các di chỉ
khảo cổ từ thời kỳ nguyên thủy cho thấy rằng người
nguyên thủy cũng đã quan tâm đến các hiện tượng tâm
lý, họ đã đề cập đến đời sống của “hồn” và “phách”.
Ngoài ra trong các kinh của Ấn Độ cổ đã có những nhận
xét về tính chất của hồn, đã có những ý tưởng sơ khai về
tiền khoa học tâm lý.

Khổng Tử đã có những nhận xét khá sâu sắc về mối quan
hệ giữa trí nhớ và tư duy. Ông cho rằng chữ “tâm” của con
người là nhân, trí, dũng. Quan điểm này được các học trò
của ông phát triển thành “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”
Trong thời kỳ này đã xuất hiện rất nhiều quan điểm và học thuyết khác nhau về tâm lý
con người, phụ thuộc vào các quan điểm về triết học và tôn giáo khác nhau.
• Học thuyết duy tâm thời cổ đại
Học thuyết thời kỳ này quan niệm: Tâm lý là một hiện tượng
phi vật chất, là phần đối lập với cơ thể sống (phần xác).
Phần hồn do tạo hóa, Thượng đế sinh ra và được đặt vào
trong con người cụ thể lúc mới sinh ra. Phần hồn (linh
hồn) là bất tử. Khi con người ta mất đ
i chỉ có phần xác là
mất đi, còn phần hồn sẽ lìa khỏi xác tiếp tục sống luẩn
quẩn đâu đấy mà con người không thể biết được. Đại
diện tiêu biểu của trường phái này là nhà triết học duy
tâm cổ đại Platon (428 – 348 tr C.N).
Ông cho rằng: Tâm hồn là cái có trước, thực tại là cái có sau, tâm hồn do thượng
đế sinh ra. Tâm hồn trí tuệ nằm trong đầu và chỉ có ở giai cấp chủ nô. Tâm hồn
dũng cảm n
ằm ở ngực và chỉ có ở tầng lớp quý tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở bụng
và có ở tầng lớp nô lệ.
• Học thuyết duy vật cổ đại
Học thuyết thời kỳ này quan niệm tâm lý có nguồn gốc vật chất (được tạo ra từ các
chất nhất định). Điển hình cho trường phái này là Talet, Anaximen, Hêcralit họ
quan niệm rằng tâm lý, tâm hồn cũng như vạn vật được cấu tạo từ các vật chất
như: Nước, lửa, không khí, đất. Đemocrit cho rằng tâm hồn là do nguyên tử cấu
thành, trong đó nguyên tử là cốt lõi tạo nên tâm lý. Thuyết ngũ hành cho rằng:
Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tạo nên vạn vật, trong đó có tâm lý. Nhà triết học cổ đại


Khổng Tử
Platon

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

5
Hy Lạp, Hypocrat quan niệm rằng tâm lý được cấu tạo bởi bốn chất lỏng: Máu ở
trong tim, nước nhớt ở trong não, mật vàng trong gan và mật đen trong dạ dày.
Tùy theo tỷ lệ pha trộn của bột chất trên mà mỗi người cụ thể có thể có những đặc
điểm tâm lý khác nhau
Có thể nói trong thời kỳ cổ đại, những kết quả nghiên cứu sơ khai ban đầu trên đã mở
đường cho khoa học tâm lý phát triển. Tuy nhiên trong thời kỳ này, tâm lý vẫn chỉ là
một bộ phận của triết học, chưa đủ điều kiện tách ra để trở thành một ngành khoa học
độc lập.
1.1.2.2. Những quan điểm tâm lý học cho đến nửa đầu thế kỷ 19 (tâm lý học truyền thống)
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tâm lý học cũng tiếp tục phát triển nhanh
chóng. Đến giữa thế kỷ 19, tâm lý học đã chính thức trở thành một khoa học độc lập,
khẳng định vị trí của nó trong hệ thống các khoa học và có những thành tựu đáng kể.
Ở thời kỳ này xuất hiện rất nhiều tư tưởng tâm lý tiến bộ.
• Thuyết nhị nguyên: Đại biểu cho trường phái này là
Đêcác. Ông cho rằng vật chất và tâm hồn là hai thực
thể tồn tại song song. Ông coi cơ thể phản xạ như một
chiếc máy. Còn bản thể tinh thần, tâm lý con người thì
không thể biết được. Ông là người đặt cơ sở đầu tiên
cho việc tìm ra cơ chế phản xạ trong hoạt động tâm lý.
• Nội dung của cơ chế phản xạ có thể mô tả như sau:
Khi có một kích thích từ bên ngoài tác động vào một
giác quan nào đó sẽ gây ra một xung đột thần kinh đáp
lại thông qua cử động phản xạ của một cơ quan nào đó
trong cơ thể – cơ quan thực hiện phản xạ.

• Nhà triết học Đức Vôn-phơ đã cho xuất bản cuốn “Tâm lý học kinh nghiệm” vào
năm 1732 và “Tâm lý học lý trí” năm 1734. Trong các tác phẩm này thuật ngữ tâm
lý học đã được sử dụng khá phổ biến, qua đó chứng minh được sự độc lập tương
đối của một phân ngành khoa học mới.
• Học thuyết tiến hóa của Đac-uyn: Học thuyết này là cơ sở để giải thích sự phát triển
tâm lý của các loài sinh vật từ thấp đến cao và vai trò của tâm lý trong quá trình
thích nghi với môi trường để tồn tại và phát triển của các loài sinh vật.
• Các nhà triết học duy tâm chủ quan như Becoli và E.Makhơ cho rằng thế giới
không có thực mà chỉ là sự phức hợp của các cảm giác chủ quan của con người và
cho rằng con người không thể biết các cảm giác đó được hình thành như thế nào.
• Hê ghen đưa ra ý niệm tuyệt đối và cho rằng tất cả vật chất đều có tư duy
• Phơ-bách cho rằng: Tinh thần, tâm lý không thể tách rời khỏi não bộ của con người.
Nó là sản phẩm vật chất phát triển tới mức độ cao.
Cuối thế kỷ 19 tâm lý học đã được phát triển như một môn khoa học thực nghiệm ở
Anh, Nga, Mỹ, Pháp Phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên do Vuntơ (Wundt) thành
lập ở Lai-xic (Đức) thành lập năm 1879. Thực chất đây là một phòng thí nghiệm
sinh lý – tâm lý và tâm lý học thời kỳ này mới được coi là một ngành khoa học độc
lập thực sự với triết học, có đối tượng, phạm vi nghiên cứu, chức năng và nhiệm vụ riêng.
Descartes

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

6
1.1.2.3. Những quan điểm tâm lý học hiện đại
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trước những đòi hỏi của nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội
đã xuất hiện nhiều học thuyết mới trong tâm lý học quản lý và đã mở ra giai đoạn mới
trong lịch sử phát triển của khoa học tâm lý – giai đoạn tâm lý học hiện đại.
Trong giai đoạn này có 3 học thuyết nổi bật (không thuộc dòng tâm lý Macxit):
• Học thuyết “hành vi chủ nghĩa”
• Học thuyết S. Freud

• Học thuyết Ghextan
Nhưng đỉnh cao của khoa học tâm lý trong giai đoạn này là
những thành tựu của dòng tâm lý Macxit.
• Các học thuyết không thuộc dòng tâm lý học Macxit
o Thuyết hành vi chủ nghĩa: Trường phái tâm lý học
hành vi do Watson (1878 – 1958) dày công xây
dựng. Học thuyết này quan tâm nghiên cứu những
hành động đáp ứng, các hành vi, cách ứng xử mà
bỏ qua mối quan hệ bản chất của con người trong
xã hội – lịch sử nhất định. Ông đưa ra một công
thức nổi tiếng S – R (S – Stimuli – kích thích;
R – Response – hành động đáp ứng), coi con người
là một hộp đen, chỉ cần nghiên cứu, đối chiếu đầu
vào đầu ra là đủ điều khiển nó.


o Học thuyết S.Freud: Ông cho rằng không thể chỉ
nghiên cứu ý thức mà bỏ qua vô thức. Chính vô thức
mới là yếu tố quyết định trong tâm lý con người.
Muốn nghiên cứu được vô thức thì phải dùng một
phương pháp khác là phép phân tâm. Do đó học
thuyết này còn có tên gọi là học thuyết phân tâm.
o Học thuyết Ghextan: Là do các nhà tâm lý học người
Đức sáng lập. Trường phái này cho rằng không nên
nghiên cứu tâm lý theo cách chia nhỏ như chia thế
giới tự nhiên thành các nguyên tử. Theo họ bản chất
của các hiện tượng tâm lý đều có tính chất theo xu
hướng tổng thể. Do đó, phải nghiên cứu tâm lý theo
cấu trúc chỉnh thể (cấu trúc luận) thì mới thích hợp
và đạt hiệu quả.

Nhìn chung cả 3 học thuyết này đều có những đóng góp nhất định trong lịch sử tâm
lý học, tuy nhiên sai lầm chủ yếu của những học thuyết này là sử dụng chân lý cục
bộ làm nguyên lý phổ quát cho khoa học tâm lý, bỏ qua các mối quan hệ bản chất
của con người, bỏ qua việc nghiên cứu đời sống tâm lý của con người, coi con người
như một sinh vật, một cỗ máy mà bỏ qua mặt xã hội của họ. Chính vì vậy sau 10
năm phát triển, cả 3 trường phái này đều rơi vào bế tắc.
Watson
S.Freud
STIMULI
RESPONSE

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

7
• Các học thuyết thuộc dòng tâm lý học Macxit
Triết học Mác – Lênin ra đời đã đánh dấu bước phát
triển quan trọng của khoa học tâm lý. Khoảng đầu thế
kỷ 20, tâm lý học mới xác định được đối tượng
nghiên cứu một cách đúng đắn nhờ những đóng góp
tích cực của các nhà tâm lý học Liên xô. Dòng tâm lý
này lấy triết học biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ
sở lý luận và phương pháp luận. Tâm lý học là khoa
học tổng hợp nên không thể một lúc quán triệt và bao
quát được tất cả các ngành và phân ngành, cả lý luận
và thực tiễn, cả những công trình nghiên cứu cụ thể.
Tâm lý học Macxit cho rằng:
o Tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan của bộ não thông qua hoạt động của
con người. “Tâm lý là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” (VI.Lênin).
Tức là những sự vật hiện tượng của thế giới khách quan tác động vào cơ quan
cảm giác của chúng ta và được chúng ta phản ánh, tạo nên hình ảnh tâm lý về

các sự vật, hiện tượng đó. Nguồn gốc của tâm lý không phải từ thượng đế, mà
cũng không phải từ “lửa, khí, nước” mà là từ hiện thực khách quan, trong đó
bao gồm thế giới tự nhiên, thế giới xã hội và bản thân con người.
o Tâm lý người mang tính chủ thể, có bản chất xã hội, được hình thành, phát triển
và thể hiện trong hoạt động và trong mối giao lưu của con người trong xã hội.
Ngoài những bản năng được truyền lại trong gen, con người còn tiếp thu kinh
nghiệm thông qua các tài liệu, sách vở, thông qua các hoạt động và giao lưu.
Tuy nhiên tâm lý mỗi cá nhân không phải là sự sao chép một cách máy móc mà
biến đổi thông qua đời sống tâm lý của mỗi người. Vì vậy, tâm lý của mỗi người
vừa mang những nét chung đặc trưng cho xã hội, lịch sử vừa mang những nét
riêng biệt tạo nên cá tính của mỗi cá nhân.
o Tâm lý người không có sẵn và tự bộ óc cũng không sản sinh ra tâm lý, óc là khí
quan của tâm lý và tâm lý là chức năng của óc. Tâm lý của một người muốn
phát triển bình thường phải thỏa mãn hai điều kiện:
 Người đó có bộ não phát triển bình thường.
 Người đó phải có mối quan hệ trong xã hội và với thế giới tự nhiên.
1.2. Tâm lý học Quản trị kinh doanh
1.2.1. Một số khái niệm về Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Trong quá trình nghiên cứu Tâm lý học Quản trị kinh doanh cần hiểu rõ các khái niệm sau:
1.2.1.1. Kinh doanh
• Khái niệm kinh doanh
Từ lâu kinh doanh được hiểu như là một công việc, một nghề. Song kinh doanh
không chỉ đơn thuần là một nghề, mà còn là mối quan hệ giữa người với người.
Trong kinh tế, tất cả các hoạt động kinh doanh đều liên quan tới việc sử dụng công
sức và tiền vốn để tạo ra sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) và cung ứng cho thị
trường nhằm mục đích kiếm lời.
V.I.Lenin

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học


8
Theo điều 2 Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì “Kinh doanh là việc thực hiện
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”.
Một cách tổng quát có thể hiểu kinh doanh là một quá trình lập kế hoạch và thực
hiện các chính sách về sản xuất, phân phối (thương mại), dịch vụ và quảng cáo các
sản phẩm nhằm tạo ra lợi nhuận.
Qua các khái niệm trên ta thấy rất rõ mục đích của các chủ thể kinh doanh trên thị
trường là lợi nhuận và thỏa mãn các mục tiêu cá nhân của mình. Kinh doanh luôn
gắn với thị trường có nghĩa là kinh doanh phải được thực hiện trên thị trường, phải
tuân theo các thông lệ và các quy luật của thị trường.
• Các nhiệm vụ chủ yếu của kinh doanh
o Nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu tập quán tiêu dùng, kiểu mốt,
khả năng thanh toán, của người tiêu dùng, dự đoán nhu cầu tiêu dùng của xã hội
trước mắt và lâu dài.
o Hoạch định và thực thi các chiến lược và chính sách kinh doanh (chính sách
sản phẩm, chính sách giá, chính sách xúc tiến, ) nhằm đảm bảo cho sản phẩm
tiếp cận với người tiêu dùng và khai thác tối đa các loại nhu cầu của thị trường.
• Các đặc điểm của kinh doanh
o Kinh doanh ít nhất phải do 1 chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh.
Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.
o Kinh doanh phải gắn với thị trường, thị trường và kinh doanh gắn với nhau, đi
liền với nhau như hình với bóng, không có thị trường thì không có khái niệm
kinh doanh.
o Kinh doanh phải gắn với sự vận động của vốn, các chủ thể kinh doanh không
chỉ cần có vốn mà phải nắm bắt được hoạt động của vốn.
o Mục đích chủ yếu của kinh doanh là sinh lời.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra
hết sức gay gắt trên cả hai mặt: quy mô cũng như cường độ. Vũ khí để các doanh
nghiệp cạnh tranh chính là nguồn lực: Sản phẩm, tài chính, con người, khoa học công

nghệ; lợi nhuận là chiến lợi phẩm, khách hàng là đối tượng của kinh doanh, là người
quyết định ai sẽ là người thành bại trên thị trường.
1.2.1.2. Quản trị
• Khái niệm Quản trị
Quản trị là một hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc
thông qua nỗ lực của người khác. Hay có thể hiểu, quản trị là một hoạt động thiết
yếu đảm bảo phối hợp có hiệu quả các hoạt động của các cá nhân khác trong một tổ
chức. Ngoài ra, quản trị cũng có thể hiểu là sự phối hợp có hiệu quả các hoạt động
của những cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu chung của nhóm.

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

9
Qua các khái niệm trên ta thấy: Quản trị là sự tác động có mục đích, có định hướng,
có kế hoạch và có hệ thống thông tin từ chủ thể quản trị đến khách thể (đối tượng
bị quản trị) của nó nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra. Quản trị là sự tác
động có tổ chức của chủ thể quản trị lên đối tượng bị quản trị nhằm đạt được mục
tiêu chung của tổ chức.
Sơ đồ biểu diễn khái niệm quản trị
Chủ thể quản trị
Khách thể
Mục tiêu
Môi trường

• Các yếu tố của Quản trị:
o Có chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra tác động quản trị và đối tượng bị quản trị
phải tiếp nhận và thực hiện động tác quản trị, tác động có thể một hoặc nhiều lần.
o Có mục tiêu cho cả chủ thể và đối tượng bị quản trị, mục tiêu này là căn cứ tạo
ra các tác động.
o Chủ thể quản trị có thể là một hoặc nhiều người, đối tượng bị quản trị có thể

một người, nhiều người hoặc máy móc, thiết bị, vật tư
Quản trị vốn là chức năng của mọi tổ chức phát sinh từ sự cần thiết phải phối hợp các
hoạt động của các cá nhân, bộ phận trong tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu chung
được đặt ra cho tổ chức.
Như vậy, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều cần có hoạt động quản trị, trong đó các
nhiệm vụ của tổ chức cần được đề ra và có sự phân công, phối hợp hoạt động giữa các
bộ phận, các thành viên của tổ chức.
1.2.1.3. Quản trị kinh doanh
• Khái niệm Quản trị kinh doanh
Quản trị kinh doanh là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể
doanh nghiệp lên tập thể lao động trong doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất
mọi tiềm năng và cơ hội để đạt mục tiêu đề ra theo đúng luật pháp và chuẩn mực
xã hội.
Thực chất sự tác động liên tục, có tổ chức, có mục đích của chủ thể doanh nghiệp
lên tập thể người lao động là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản trị
nhằm phối hợp các mục tiêu và động lực hoạt động của mọi người lao động trong
doanh nghiệp với mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Thực chất của quản trị kinh doanh là sự kết hợp mọi nỗ lực chung của tập thể lao
động trong doanh nghiệp để đạt tới mục đích chung của doanh nghiệp và mục đích
riêng của mỗi người một cách khôn khéo và có hiệu quả nhất.
• Các chức năng của quản trị kinh doanh
o Hoạch định (Planning);
o Tổ chức (Organising);

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

10
o Lãnh đạo (Leading);
o Kiểm soát (Controlling).
Trong quá trình triển khai các nhiệm vụ quản trị kinh doanh, các nhà quản trị ở các

cấp khác nhau sẽ có sự phối hợp thời gian và công sức hợp lý cho các chức năng quản
trị, đảm bảo thành công cho các nhiệm vụ đề ra. Để thực hiện tốt công việc của mình,
các nhà quản trị cần phải có những kiến thức nhất định về đặc điểm và quy luật tâm lý
của các đối tượng quản lý (cá nhân và tập thể lao động dưới quyền) và đây chính là
nội dung chủ yếu của tâm lý học quản trị kinh doanh.
1.2.1.4. Tâm lý học Quản trị kinh doanh
• Khái niệm Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Tâm lý học Quản trị kinh doanh là môn khoa học chuyên ngành ứng dụng tâm lý
học vào hoạt động quản trị kinh doanh như một nghệ thuật tác động vào tính tích
cực của người lao động, thúc đẩy họ làm việc vừa vì lợi ích của cá nhân vừa vì lợi
ích của tập thể và lợi ích của toàn xã hội, tạo nên bầu không khí vui tươi đoàn kết trong
doanh nghiệp.
• Ứng dụng của Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, quản trị con người là phức tạp và tế nhị nhất,
do vậy các nhà quản trị phải nghiên cứu, phân tích các đặc điểm tâm lý của người
lao động, từ đó tìm cách kích thích, động viên tính tích cực của con người, khuyến
khích tính sáng tạo của họ trong các hoạt động được giao Việc nghiên cứu ứng
dụng tâm lý còn có tác dụng giúp các nhà quản trị biết mình, biết người để có được
thành công trong kinh doanh (biết mình biết người, trăm trận trăm thắng).
o Biết người: Hiểu được nhu cầu, sở thích, thị hiếu, thái độ, tâm trạng và khả năng
thanh toán của khách hàng để định hướng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm đưa ra thị trường những sản phẩm thỏa mãn tối đa nhu cầu của
khách hàng, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Ngoài ra, biết người có
nghĩa là nhà quản trị phải nắm được mặt mạnh, mặt y
ếu của đối thủ cạnh tranh,
tình hình cạnh tranh trên thị trường, những vận động của môi trường kinh
doanh, nắm được tâm lý của lãnh đạo cấp trên để đề ra các chiến lược và chính
sách kinh doanh đúng hướng.
o Biết mình: Nhà quản trị phải đánh giá được sản phẩm của mình, khả năng của
đội ngũ lao động và tiềm lực của doanh nghiệp để không ngừng hoàn thiện sản

phẩm, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, nhà quản trị phải
biết được mặt mạnh, mặt yếu của bản thân, từ đó biết mình nên làm gì, làm như
thế nào.
Khoa học tâm lý học ứng dụng trong quản trị kinh doanh sẽ giúp các nhà quản trị giải
quyết tốt những vấn đề liên quan trực tiếp đến người lao động như: tuyển dụng, bồi
dưỡng, bố trí sử dụng lao động, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, xử lý các xung đột
trong tập thể lao động

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

11
1.2.2. Một số lý thuyết về tâm lý quản trị
1.2.2.1. Các lý thuyết cổ điển
• Lý thuyết của Ferderick Winslow Taylor (1856 – 1915)
Ông là cha đẻ của lý thuyết quản lý theo khoa học. Phương pháp quản lý này sau
đó được áp dụng rộng rãi ở Anh và một số nước khác. Taylor nguyên là công nhân
và sau đó là kỹ sư trưởng của nhà máy Midvale, ông nhận thấy phương pháp quản
lý đương thời kiểu “trại lính” có rất nhiều nhược điểm, từ đó làm giảm năng suất
và rất lãng phí lao động. Năm 1890, Taylor rời Midvale. Năm 1901, ông thôi làm
việc và giành phần thời gian còn lại để nghiên cứu và phổ biến lý thuyết “Quản lý
theo khoa học” của mình.
o Đặc điểm của lý thuyết của Ferderick Winslow Taylor:
Dựa trên quan điểm về “tính hợp lý”của hành vi và những thao tác của con
người trong lao động, coi con người là một bộ phận của máy móc trong dây
chuyền sản xuất. Điểm cơ bản của phương pháp quản lý này là quản lý lao
động có huấn luyện, có định mức, có hoạch định và phân công chức năng theo
từng người rất khoa học, từ đó nâng cao được năng
suất lao động và giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng.
o Những nguyên tắc cơ bản của lý thuyết Taylor là:
 Nghiên cứu một cách khoa học mỗi tác động

của công nhân để thay thế cho cách làm cũ đơn
thuần dựa vào kinh nghiệm.
 Tuyển chọn, huấn luyện công nhân một cách
khoa học, đào tạo và giáo dục họ, giúp họ
trưởng thành. Còn cách làm cũ là để công nhân
chọn việc làm theo ý họ và căn cứ vào khả
năng của từng người để đào tạo.
 Xây dựng định mức lao động và phân công,
hợp tác lao động một cách khoa học.
 Chủ và thợ phải cùng nhau chia sẻ công việc và chức trách. Phía chủ gánh
vác phần việc quan trọng hơn, không đẩy hết mọi việc và phần lớn trách
nhiệm về phía công nhân như trước kia.
o Từ những nguyên tắc cơ bản trên, Taylor đã đề ra các biện pháp cụ thể như:
 Nghiên cứu toàn bộ quy trình thực hiện công việc của công nhân, chia nhỏ
các công việc trên thành các công đoạn khác nhau để tìm cách cải tiến, tối ưu
các thao tác và cuối cùng là đem lại thặng dư lớn cho các nhà tư bản.
 Xây dựng hệ thống khuyến khích vật chất để kích thích người lao động như
trả công theo sản phẩm.
o Ưu, nhược điểm cơ bản của lý thuyết này:
 Ưu điểm:
Giúp nhà quản trị có cách thức nhìn nhận, giao việc hợp lý, họ sẽ hình dung
các công việc được tiến triển như thế nào, có thuận lợi và khó khăn gì, trên
cơ sở đó hướng dẫn, tạo điều kiện cho người lao động thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao.
Ferderich Winslow Taylor

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

12
Chú ý phối hợp giữa các bộ phận, cá nhân, một các nhịp nhàng, hiệu quả thì

công việc kinh doanh mới đạt được kết quả mong muốn.
Quan tâm đến việc xây dựng định mức lao động và trả công hợp lý để kích
thích người lao động.
 Nhược điểm:
Máy móc hóa con người, coi người lao động là một mắt xích của quá trình
lao động và chỉ chuyên thực hiện một số thao tác nhất định theo vị trí công
việc của mình.
Cột chặt người lao động vào dây chuyền công nghệ sản xuất để quản lý.
Người lao động bị giới chủ khai thác, bóc lột sức lao động một cách thậm tệ.
Không quan tâm tới các nhu cầu tinh thần của người lao động.
• Lý thuyết của Henry Lawrence Gautt (1861 – 1919)
H.Gautt từng làm việc cùng và là trợ lý của Taylor. Sau
đó hai ông là cộng sự trong nghiên cứu lý thuyết quản
lý theo khoa học.
H.Gautt tập trung vào tính dân chủ trong công nghiệp.
Ông là người luôn cố gắng để làm cho ngành khoa học
quản lý mang tính nhân đạo. Ông cho rằng, thực chất
của dân chủ là tổ chức những hoạt động của con người
hài hòa với các quy luật tự nhiên, sao cho mỗi cá nhân
sẽ có cơ hội cho người khác để phát huy năng lực của
mình ở mức cao nhất.
Khác với Taylor, ông cho rằng việc một người lao động trong doanh nghiệp trong
suốt cuộc đời của mình chỉ tinh thông một công việc tại một vị trí cụ thể trong dây
chuyền là một điều bất công, thiếu dân chủ với người lao động. Bên cạnh đó ông
cũng nhận thấy tính “không thể thay thế” tại các mắt xích công việc sẽ khiến doanh
nghiệp rất thụ động trong quản lý nếu một “mắt xích” đó có “vấn đề”. Ông phân chia
nhiệm vụ nhỏ tới mức có thể giao cho bất kỳ người lao động có trình độ trung
bình, ông hợp lý hóa lao động theo dây chuyền để khai thác tối đa sức lao động và
đề ra khái niệm nhịp độ lao động, sau đó nguyên lý này đã được Henry Ford áp
dụng khá thành công.

Ngoài hệ thống trả lương theo sản phẩm của Taylor, H.Gautt đã bổ sung hệ thống
tiền thưởng để kích thích lao động nếu vượt qua một định mức nào đó. Tuy nhiên
để tránh việc người lao động chạy theo năng suất lao động mà coi nhẹ vấn đề chất
lượng, H.Gautt khuyên vượt mức nhưng cũng phải giới hạn.
Tóm lại: Trường phái tâm lý quản trị cổ điển tìm cách đưa ra các phương pháp quản
trị và tổ chức lao động sản xuất thuần túy khoa học đã máy móc hóa con người, quá đề
cao lợi ích vật chất, chưa quan tâm đúng mức ảnh hưởng của môi trường đến tâm lý
của con người và vai trò ý thức của con người.
1.2.2.2. Các lý thuyết về quản trị hành chính
Đây là các lý thuyết về quản lý chú trọng việc quản lý bằng các văn bản, giấy tờ. Quan
điểm này bổ sung cho lý thuyết quản trị theo khoa học và là một công cụ của quản trị
khoa học.
Lawrence Gautt

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

13
• Lý thuyết của Henry Fayol (1841-1925)
Trong khi thuyết quản lý theo khoa học của Taylor
được truyền bá rộng rãi từ Mỹ sang Châu Âu và có
ảnh hưởng lớn suốt nửa đầu thế kỷ 20 thì ở Pháp xuất
hiện một thuyết mới thu hút sự chú ý. Qua tác phẩm
“Quản lý công nghiệp và tổng quát” xuất bản năm
1949 của Henry Fayol đã tiếp cận quản lý ở tầm rộng
hơn và xem xét dưới góc độ tổ chức hành chính. Ông
cho rằng thành công của quản lý không chỉ nhờ
những phẩm chất của nhà quản lý mà chủ yếu nhờ
nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và nhờ những
phương pháp mà họ sử dụng. Với nhà quản lý cấp cao
thì phải có khả năng bao quát còn với cấp dưới khả

năng chuyên môn là quan trọng nhất.
Theo ông hoạt động kinh doanh có thể chia thành 6 nhóm:
o Kỹ thuật hay sản xuất
o Tiếp thị
o Tài chính
o Quản lý tài sản và nhân viên
o Kế hoạch thống kê
o Những hoạt động quản lý tổng hợp: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp
và kiểm tra.
Fayol xây dựng lý thuyết quản trị theo tổ chức với 14 nguyên tắc sau:
o Phân công công việc phù hợp, rõ ràng, tạo được sự liên kết.
o Tương quan giữa thẩm quyền và trách nhiệm: Mỗi người tự chịu trách nhiệm
về công việc của mình.
o Tính kỷ luật: Nhằm đảm bảo kỷ luật lao động trong doanh nghiệp.
o Tính thống nhất trong chỉ huy: Mỗi người nhận lệnh của một người (trong công việc).
o Thống nhất trong lãnh đạo: Thống nhất trong ý kiến lãnh đạo với cấp dưới.
o Cá nhân phụ thuộc vào lợi ích chung: Phải gắn lợi ích của cá nhân với lợi ích
tập thể, làm cho người lao động thấy được sự phát triển của tập thể sẽ có lợi
cho mỗi cá nhân, từ đó kích thích lao động, sáng tạo.
o Thù lao tương xứng: Nhằm khuyến khích người lao động làm việc sáng tạo,
nâng cao chất lượng công việc.
o Tập trung quyền lực: Quyền quyết định bên trong doanh nghiệp chỉ tập trung
vào một đầu mối, từ đó thống nhất trong chỉ đạo và hành động.
o Tuân thủ nguyên tắc thứ bậc: Các nhà quản trị các cấp và nhân viên dưới quyền
sẽ được phân cấp theo thứ bậc dựa trên công việc được phân công trong tổ chức.
o Trật tự: Tổ chức phải được sắp xếp, phân cấp.
o Đảm bảo tính công bằng: Tránh mâu thuẫn trong tập thể lao động bằng cách
phân công nhiệm vụ rõ ràng, chế độ khen thưởng, kỷ luật minh bạch, đối xử
công bằng với các thành viên trong doanh nghiệp.
Henry Faylol


Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

14
o Đảm bảo tính ổn định trong việc hưởng thụ và sử dụng: Tạo cho người lao
động thấy đây là chỗ làm việc ổn định, lâu dài, từ đó có ý thức phấn đấu trong
công việc.
o Tính sáng tạo: Tạo ra nhiều cái mới, bước đẩy, tạo ra những nét riêng, bản sắc
cho doanh nghiệp mình so với các doanh nghiệp khác.
o Tính đồng đội: Xây dựng tinh thần tập thể, tính đoàn kết trong toàn doanh
nghiệp, từ đó tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc.
Với nội dung nói trên, thuyết quản lý này có ưu điểm nổi bật là tạo được kỷ cương
trong tổ chức. Song nó chưa chú trọng đầy đủ mặt tâm lý và môi trường lao động,
đồng thời chưa đề cập đến mối quan hệ với môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
• Lý thuyết của Max.Weber (1864 – 1920):
Ông là nhà xã hội học đã có nhiều đóng góp cho quản lý
ở tầm vĩ mô gọi là hệ thống thư lại, đó là sự phân công
nhiệm vụ căn cứ vào chức vụ theo quy định và thể lệ.
Lý thuyết của Weber còn được gọi là lý thuyết hành
chính trong quản trị.
Theo lý thuyết này, để quản trị kinh doanh có hiệu quả
cần phải xây dựng một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đồng
thời đề ra hệ thống các quy định luật lệ và chính sách
hợp lý, phân công, phân cấp quản trị có hiệu quả.
Tư tưởng chính của ông là:
o Quản lý các bộ phận chức năng, các khâu của công
việc (sử dụng quan điểm của Fayol).
o Quản lý chất lượng của từng công việc.
Như vậy các lý thuyết về quản trị hành chính chú trọng tới các vấn đề cơ bản sau:
o Mọi hành động trong tổ chức đều phải được đưa vào văn bản quy định.

o Chỉ có những người có chức vụ mới có quyền ra quyết định.
o Chỉ có người có năng lực mới được giao chức vụ.
o Mọi quyết định trong tổ chức phải mang tính khách quan: Phù hợp với người
lao động và có thể thực hiện được nhằm tạo ra một bộ máy làm việc nhịp
nhàng, hiệu quả, có sự liên kết, kết nối để phân chia quyền lực và phân chia
công việc.
1.2.2.3. Các lý thuyết về tâm lý xã hội trong quản trị kinh doanh
• Lý thuyết của Elton Mayo (1880 – 1949)
Elton Mayo là giảng viên về triết học, logic học và đạo đức học ở Đại học Tổng
hợp Queensland, Australia, sau đó chuyển đến Mỹ làm giáo sư nghiên cứu công
nghiệp tại Đại học Harvard.
Ông nghiên cứu trên 10 công nhân nữ làm việc trong điều kiện cơ sở vật chất tốt,
lương cao, không khí làm việc tốt và nhận thấy rằng năng suất lao động tăng giảm
không nhiều khi ông thay đổi các yếu tố trên.
Max. Weber

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

15
Sau đó ông quyết định chia họ thành hai nhóm: Nhóm 1 (nhóm tích cực) và nhóm 2
(nhóm tiêu cực) và nhận thấy năng suất lao động thay đổi rất nhiều khi các điều
kiện trên thay đổi. Từ đó, ông rút ra kết luận rằng: Những yếu tố phi vật chất (yếu tố
tâm lý) tác động rất mạnh đến năng suất của người lao động.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đó, Mayo đã đưa ra
những nguyên lý mới nhằm hoàn thiện về quản lý xí
nghiệp. Đó là:
o Công nhân là con người xã hội, là thành viên của hệ
thống xã hội phức tạp.
o Trong xí nghiệp, ngoài tổ chức chính thức còn có tổ
chức phi chính thức.

o Năng lực lãnh đạo kiểu mới được thể hiện thông
qua việc nâng cao mức độ hài lòng của nhân viên,
khích lệ tinh thần công nhân viên, do đó mà đạt
được mục đích nâng cao năng suất lao động.
Nói chung công nhân có xu hướng tuân theo các quy ước của tập thể, dù không
chính thức. Lý thuyết này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong quản trị, gọi là lý
thuyết quan hệ người – người. Công trình này góp phần thúc đẩy nghiên cứu và
vận dụng một cách trực tiếp khoa học vào quản lý sản xuất kinh doanh, thúc đẩy
việc ứng dụng tâm lý học vào quản trị kinh doanh.
• Lý thuyết của Douglas Mc.Gregor (1906 –1964)
Ông được coi là một trong những lão thành trong các
nhà khoa học hành vi và đã dành cả cuộc đời mình để
nghiên cứu hành vi của con người trong tổ chức.
Gregor thấy rằng, mặc dù một người nắm vững kỹ
thuật để phát triển kinh tế và cải thiện cuộc sống
như
ng anh ta chưa chắc đã có đủ kỹ năng quản lý để
làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả.
Trong cuốn “Mặt nhân văn của xí nghiệp”, Mc. Gregor
đã đưa ra một loạt các đánh giá về con người trong tổ
chức. Ông đã đưa ra các lý thuyết X và Y (sẽ được
nghiên cứu ở phần sau).
• Lý thuyết Kaizen do Masaaki Imai người Nhật đề xướng năm 1986
Trong lý thuyết Kaizen, ông khuyên các nhà quản trị cần
quan tâm đến các vấn đề sau:
o Quản lý thời gian: Rõ ràng trong quản lý thời gian
của các nhà quản trị và nhân viên các cấp, cũng
như của toàn bộ doanh nghiệp.
o Đề cao tính kỷ luật: Có kỷ luật mới làm cho tổ chức
hoạt động suôn sẻ.

o Phát triển tay nghề trong công ty: Mang tư tưởng
của Châu Á khác với Châu Âu là yếu tố gắn người
lao động với công ty trong suốt thời kỳ dài.
Elton Mayo
Douglas Mc.Gregor
Masaaki Imai

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

16
o Tham gia các hoạt động của công ty: Nhằm mục đích cho mọi người lao động
đoàn kết, hiểu nhau hơn và tự giác làm việc.
o Tinh thần lao động: Cống hiến hết sức cho lao động với tinh thần cao nhất.
o Sự thông cảm: Thể hiện không bắt công nhân làm những việc họ không muốn
làm; quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của công nhân; đáp ứng nhu
cầu của họ.
Tư tưởng cốt lõi của học thuyết quản lý này là nhằm đạt tới sự cải tiến, nhưng cải
tiến theo từng bước một (nhỏ) và sự cải tiến đó chỉ sử dụng các nguồn lực sẵn có
của mình. Tuy nhiên, nếu cần người Nhật sẵn sàng đầu tư lớn ngay từ đầu.
• Lý thuyết của Peter Drucker (1909 – 2005)
Peter F.Drucker là chuyên gia kinh tế học, một nhà
nghiên cứu về quản lý và chính trị học được cho là nổi
tiếng nhất thời hiện đại của nước Mỹ và cũng là nhân
vật đại diện cho trường phái kinh nghiệm chủ nghĩa
phương Tây.
Là một giảng viên về quản lý, ông đề cao tầm quan
trọng của quản lý như một thể chế có ưu thế và cơ
bản. Theo ông, quản lý có 3 chức năng:
o Quản lý một doanh nghiệp: Quản lý một doanh nghiệp tập trung vào làm kinh tế.
Điều này không nhất thiết chỉ bao hàm sự tối đa hóa lợi nhuận. Lợi nhuận chỉ

là yếu tố kiểm tra khả năng của các nhà quản lý, chính khách hàng mới là toàn
bộ tầm quan trọng cho kinh doanh. Kinh doanh tồn tại vì khách hàng và chính
khách hàng giữ cho nó tiếp tục hoạt động. Do đó, quản trị một doanh nghiệp có
nghĩa là tạo ra khách hàng, chính vì vậy hai chức năng quan trọng của quản trịt
là marketing và đổi mới.
o Quản lý các nhà quản lý: Theo Drucker, các nhà quản trị là nguồn lực cơ bản
và đắt giá nhất trong hầu hết các tổ chức kinh doanh. Người ta tốn rất nhiều
thời gian và nguồn lực để xây dựng một đội ngũ các nhà quản trị, chính vì vậy
việc quản lý họ là một công việc cần được lưu tâm. Có 3 nhiệm vụ quan trọng
trong việc quản lý các nhà quản lý: Quản lý theo các mục tiêu và tự điều khiển,
lập cấu trúc công việc của một nhà quản lý và tạo ra tính hợp lý trong tổ chức.
o Quản lý công nhân và công việc: Ông đề cao vai trò của công nhân với tư cách
là tiềm năng con người là duy nhất. Khi được đối xử như một tiềm lực, anh ta
có thể được khai thác hay sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
1.2.2.4. Các lý thuyết về tâm lý con người trong quản trị kinh doanh
• Thuyết về nhu cầu của A.Maslow
Thuyết nhu cầu của Maslow là một trong những thuyết phổ biến nhất dùng để giải
thích về động cơ hoạt động của con người. Ông đưa ra lý thuyết về các bậc nhu
cầu của một con người và sắp xếp một hình tháp 5 bậc gọi là “tháp nhu cầu của
Maslow”. Theo ông, các nhu cầu của con người được phân thành 5 bậc từ thấp đến
cao như sau:
o Các nhu cầu sinh lý: Là các nhu cầu cơ bản đảm bảo cho sự tồn tại của con
người như: Ăn, uống, ngủ, đi lại
Peter Drucker

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

17
o Các nhu cầu về an toàn: Được bảo vệ tính mạng,
được sống yên ổn, hoà bình.

o Các nhu cầu xã hội: Bao gồm sự mong muốn
được quan hệ với những người khác, được tham
gia vào các nhóm xã hội, giao tiếp, các mối
quan hệ.
o Nhu cầu được tôn trọng: Bao gồm giá trị bản
thân, sự độc lập thành quả, sự công nhận và tôn
trọng từ những người khác.
o Nhu cầu tự khẳng định mình: Bao gồm mong
muốn tiến bộ, phát triển và tự hoàn thiện bản thân
về hình thức, kiến thức, trình độ chuyên môn,
được thể hiện mình

Các nhu cầu này được sắp xếp với trật tự như trên thể hiện: Chỉ khi một nhu cầu
bậc thấp được thỏa mãn, thì các nhu cầu ở bậc cao hơn mới xuất hiện. Khi một nhu
cầu khống chế con người thì các nhu cầu khác bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Và khi
một nhu cầu được thỏa mãn nó không phải là động cơ thôi thúc người ta hành
động nữa, và các nhu cầu không được thỏa mãn có thể gây ra các hậu quả tiêu cực.
Mặc dù lý thuyết Maslow có một sức lôi cuốn mạnh mẽ với các nhà quản lý vì
những logic mang tính trực giác và sự dễ hiểu, tuy nhiên người ta vẫn có thể chỉ
trích vì những lý do:
o Có quá ít chứng cứ để chứng minh rằng có 5 bậc nhu cầu khác nhau.
o Trên thực tế khó lòng chứng minh được rằng khi một mức nhu cầu được thỏa
mãn thì nó không còn sức hấp dẫn nữa tức là không dùng làm công cụ kích
thích nữa.
o Những tham số như: Tuổi tác, nòi giống, tính cách, văn hóa, quy mô công ty
cũng gây ảnh hưởng một cách tương đối đến từng cá nhân trong công ty.
Ngày nay đời sống con người ngày càng được nâng cao nên các nhu cầu của họ
cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Vì vậy, các nhà quản trị phải quan tâm đáp
ứng các nhu cầu của tập thể người lao động để động viên, phát huy tính tích cực
5. Nhu cầu hiện thực hóa 5

bản thân
4. Nhu cầu được tôn trọng 4
(địa vị xã hội)
3. Nhu cầu được chấp nhận 3
(được là thành viên)
2. Nhu cầu về an toàn 2
của cá nhân
1. Nhu cầu về sinh lý 1
(nhu cầu căn bản)
Tháp nhu cầu
A
.Maslow

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

18
của họ trong kinh doanh. Từ nhu cầu sẽ sinh ra động cơ, hành động nhằm thỏa
mãn nhu cầu trong các điều kiện xã hội nhất định, chính vì vậy nghiên cứu và tạo
mọi điều kiện thỏa mãn nhu cầu sẽ thôi thúc người lao động hành động theo định
hướng của nhà quản trị. Nhà quản trị cần biết cấp dưới của mình đang ở thang bậc
nhu cầu nào để tạo điều kiện cho họ được thỏa mãn nhu cầu.
• Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg (1923 – 2000)
Frederick Herzberg là tiến sĩ vật lý, giáo sư về khoa học quản lý của trường Đại học
Diutha (Mỹ). Ông là một tác giả có tên tuổi trong việc nghiên cứu các vấn đề khích
lệ công nhân viên, đã từng làm chủ nhiệm khoa Tâm lý của trường Đại học Khanx.
Frederick Herzberg và đồng sự của ông đã tiến hành
điều tra trên 200 kỹ sư và nhân viên kế toán của
ngành công nghiệp ở Pittsburg. Những người được
điều tra phải trả lời câu hỏi: “Lúc nào anh/chị cảm
thấy thoải mái khi làm việc?” Kết quả điều tra cho

thấy 5 nhân tố khiến công nhân viên hài lòng thường
là: Thành tích, sự khen ngợi, bản thân công việc, trách
nhiệm và sự tiến bộ. Điều dễ làm cho công nhân viên
bất mãn cũng có 5 nhân tố: Chính sách và phương thức quản lý của công ty, sự giám
sát của cấp trên, tiền lương, mối quan hệ giữa người và người, điều kiện làm việc.
Ông đã chỉ ra 2 loại yếu tố ảnh hưởng đến người lao động:
o Những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần người lao động: điều kiện
làm việc; chế độ, chính sách của công ty; quan hệ giữa người với người; tiền
lương và các phúc lợi khác; hệ thống quản lý; cấp trên có năng lực, có khả năng
điều khiển; chí công vô tư
o Những yếu tố không ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, nhưng có tác
dụng động viên họ hăng hái làm việc như: Sự thừa nhận; trân trọng đối với sự
đóng góp của các nhân viên; giao phó trách nhiệm cho họ; tạo điều kiện cho họ
phát triển và được làm những công việc thích thú
Theo ông, nhà quản trị giỏi là người biết phải làm thế nào để quan tâm đến chất
lượng cuộc sống của những người dưới quyền giảm đi sự bất mãn và làm tăng sự
hài lòng của họ.
• Lý thuyết lưỡng phân trong quản trị (hay còn gọi là thuyết X và thuyết Y) của
Douglas Mc.Gregor (1906 – 1964)
Douglas Mc.Gregor là một nhà khoa học về quản lý nổi tiếng, có ảnh hưởng rất
rộng thuộc trường phái khoa học hành vi của Mỹ. Ông đã từng là giáo sư tâm lý
học của trường Đại học Harvard. Trong tác phẩm “ Mặt nhân văn của xí nghiệp”,
ông đã vạch rõ vấn đề cơ bản của quản lý là nhận thức của nhà quản lý đối với bản
tính của con người. Nó là cơ sở của tất cả các sách lược và phương pháp quản lý.
Những giả thiết khác nhau về con người tất nhiên dẫn đến sách lược và phương
pháp quản lý khác nhau, từ đó có ảnh hưởng khác nhau đến công nhân viên trong
xí nghiệp và sản sinh ra những hành vi nghề nghiệp khác nhau dẫn đến hiệu quả
quản lý khác nhau. Từ đó ông đã xây dựng nên các lý thuyết X và Y như sau:
Herzberg


Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

19
o Lý thuyết X
Nội dung của lý thuyết X bao gồm các quan niệm:
 Lười biếng là bản tính của con người bình thường. Do đó họ sẽ lảng tránh
công việc nếu có thể được.
 Họ thiếu chí tiến thủ, không dám gánh vác trách nhiệm, cam chịu để người
khác lãnh đạo.
 Từ khi sinh ra con người đã tự coi mình là trung tâm, không quan tâm đến
các nhu cầu của tổ chức.
 Bản tính con người là chống lại cải cách.
Tóm lại:
Với quan niệm về con người trong lý thuyết X, tác giả thừa nhận bản chất máy
móc, vô tổ chức của con người. Những nhà quản trị công nhận lý thuyết X đều
tin rằng phải giành được quyền lực tuyệt đối đối với những cộng sự của mình. Vì
vậy, việc điều khiển từ bên ngoài thông qua giám sát chặt chẽ là thích hợp nhất
để đối phó với những người không đáng tin, vô trách nhiệm và thiếu kinh nghiệm.
Lý thuyết này ủng hộ cách quản lý bằng lãnh đạo và kiểm tra. Lý thuyết quản
lý X là cách quản lý “củ cà rốt và cây gậy” đôi khi bề ngoài tỏ ra hữu hiệu,
nhưng chỉ là tạm thời, chứa đựng bao điều oan ức, bất công và rất lạc hậu.
Phương pháp trừng phạt và khen thưởng của lý thuyết X ít có hiệu quả do
chúng dựa trên những động cơ không quan trọng của con người.
o Lý thuyết Y:
 Lười nhác không phải là bản tính bẩm sinh của con người nói chung. Lao
động trí óc, lao động chân tay cũng như nghỉ ngơi giải trí đều là hiện tượng
bẩm sinh của con người.
 Điều khiển từ bên ngoài hoặc đe dọa bằng hình phạt không phải là cách duy
nhất buộc con người cố gắng để đạt được mục tiêu của tổ chức. Con người
có thể tự đi

ều khiển, tự kiểm tra công việc của mình để đạt được mục tiêu
của tổ chức giao phó.
 Khi con người bỏ sức ra để thực hiện một mục tiêu mà họ tham gia, họ
mong muốn nhận được những điều mà việc hoàn thành mục tiêu ấy tạo ra,
trong đó điều quan trọng nhất không phải là tiền mà là quyền tự chủ, quyền
được tôn trọng, quyền tự
mình thực hiện công việc. Sự thỏa mãn những
quyền đó sẽ thúc đẩy con người cố gắng hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
 Thiếu chí tiến thủ, né tránh trách nhiệm và cầu an quá mức không phải là
bản tính của con người mà là do kinh nghiệm trong quá khứ tạo ra. Trong
những điều kiện thích hợp người bình thường không chỉ học cách chấp nhận
trách nhiệm mà còn học cách nhận trách nhiệm về mình.
 Trong quá trình giải quyết khó khăn của tổ chức, không ít người có khả năng
phát huy khá tốt trí tưởng tượng, tài năng và sức sáng tạo.
 Trong điều kiện công việc hiện đại, chỉ có một phần trí tuệ của con người được
sử dụng. Nhiệm vụ của nhà quản trị là phát huy toàn bộ tiềm năng trí tuệ ấy.

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

20
Như vậy:
Lý thuyết Y là một khoa học quản lý thông qua tính tự giác và tự chủ. Mc. Gregor
kêu gọi sử dụng biện pháp tự chủ thay cho lãnh đạo và điều khiển thông qua kỷ
luật. Nhà quản trị phải sáng tạo ra những điều kiện phù hợp để các thành viên
trong tổ chức có thể đạt được những mục tiêu của chính mình một cách tốt nhất
bằng cố gắng nỗ lực vì sự thành công của tổ chức.
Bản chất của lý thuyết Y là giải phóng con người, dựa trên những động cơ sâu sắc
nhất của con người và cho phép phối hợp mục tiêu của cá nhân với mục tiêu
của tổ chức. Tuy nhiên lý thuyết này còn bộc lộ một số nhược điểm, hàng năm
nhân lực của các tổ chức biến động rất nhiều, đánh giá và đề bạt cán bộ nhanh,

quyết định và trách nhiệm cá nhân, quyền lợi có giới hạn.
• Lý thuyết Z của W.Ouchi
Lý thuyết trên của Mc.Gregor bị một giáo sư người Mỹ gốc Nhật phản bác
bằng kinh nghiệm quản trị của người Nhật trong tác phẩm nhan đề là “lý thuyết
Z. Ouchi” tác phẩm này cho rằng không có người lao
động nào thuộc hoàn toàn về bản chất X hoặc Y một
cách tự nhiên cả. Điều mà Mc.Gregor gọi là bản chất, thì
chỉ có thể gọi là thái độ lao động của con người mà thôi.
Thái độ lao động tùy thuộc vào cách thức họ được đối
xử trong thực tế. Qua kinh nghiệm quản trị của người
Nhật, mọi người có thể lao động hăng hái, nhiệt tình,
nếu họ được tham gia vào các quyết định của doanh
nghiệp và được doanh nghiệp quan tâm đến các nhu
cầu của họ.
o Lý thuyết Z được xây dựng dựa trên các quan điểm
sau đây:
 Tiếp thu những yếu tố tích cực của các học thuyết quản lý tiến bộ (có sự kết
hợp một số tính chất của lý thuyết X và Y).
 Kết hợp giữa chủ nghĩa nhân đạo với truyền thống Nhật Bản, tức là với chủ
nghĩa chuyên chế.
 Xây dựng theo mô hình gia đình Khổng giáo theo 5 nguyên tắc: Con cái
phải kính trọng ông, bà cha mẹ; trung thành, phục tùng, nhân hậu và tận tụy
với chủ.
o Nội dung của lý thuyết Z:
Đó là lý thuyết dựa trên cơ sở hợp nhất hai mặt của một tổ chức kinh doanh:
Vừa là một tổ chức có khả năng tạo ra lợi nhuận vừa là một cộng đồng sinh hoạt
đảm bảo cuộc sống của mọi thành viên, tạo điều kiện thăng tiến và thành công.
Thuyết Z tạo ra văn hóa kinh doanh mới gọi là: “Văn hóa kiểu Z” chỉ đạo lối
ứng xử dựa trên sự gắn bó lòng trung thành và tin cậy, được cụ thể hóa qua các
biểu tượng, nghi lễ, quy tắc và cả những huyền thoại để truyền đến mọi thành

viên các giá trị và niềm tin định hướng cho hành động.
Văn hóa kiểu Z thể hiện qua các nội dung cụ thể sau:
 Người lao động gắn bó lâu dài với công ty.
 Người lao động có quyền phê bình và thể hiện quan điểm một cách trung
thực với người lãnh đạo.
W.Ouchi

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

21
 Người lao động có tinh thần tập thể cao dù cá nhân vẫn được tôn trọng.
 Có quyền được hưởng lương, thưởng và nhiều dạng phúc lợi khác.
o Ưu và nhược điểm:
 Ưu điểm: Tư tưởng cốt lõi của lý thuyết Z có cơ sở hạt nhân là triết lý kinh
doanh cho nguyên tắc quản lý mới, thể hiện sự quan tâm đến con người và
yêu cầu mọi người cùng làm việc tận tâm với tinh thần cộng đồng, và đó là
chìa khóa tạo nên năng suất ngày càng cao và sự ổn định của doanh nghiệp.
Đây cũng là một cách hạn chế tình trạ
ng thất nghiệp thường xảy ra trong
kinh tế thị trường.
 Nhược điểm: Vì đề cao tính tập thể nên lý thuyết hạn chế sự sáng tạo của cá
nhân. Hơn nữa thuyết quản lý này chỉ áp dụng đối với các tổ chức kinh
doanh với môi trường bên trong doanh nghiệp mà chưa quan tâm tới các
yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Ngày nay, Tâm lý học Quản trị kinh doanh gắn liền với thời đại mà sự phát tri
ển
của cá nhân, sắc tộc, tôn giáo các vấn đề về môi trường tự nhiên cũng như xã hội
chắc chắn sẽ làm phong phú thêm các khoa học về thế giới con người, trong đó có
Tâm lý học Quản trị kinh doanh ở nước ta cũng như trên thế giới.
1.3. Đối tượng, phương pháp và nhiệm vụ của Tâm lý học Quản trị kinh doanh

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng trực tiếp của Tâm lý học Quản trị kinh doanh là đời sống tâm hồn của
những người dưới quyền bao gồm tâm tư, tình cảm, ước mơ, nguyện vọng, niềm tin
Tâm lý học Quản trị kinh doanh nghiên cứu các quá trình tâm lý (cảm giác, tri giác,
tư duy…), các trạng thái tâm lý, các thuộc tính tâm lý cá nhân…
Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học Quản trị kinh doanh là:
• Nghiên cứu sự thích ứng của con người đối với công việc kinh doanh. Theo hướng
này, Tâm lý học Quản trị kinh doanh chú ý tới các khía cạnh tâm lý của việc tổ
chức quá trình kinh doanh, đặc biệt là vấn đề phân công lao động, tổ chức chế độ
làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, đưa yếu tố thẩm mỹ vào trong kinh doanh.
• Nghiên cứu mối quan hệ con người với nghề nghiệp. Tâm lý học Quản trị kinh doanh
nghiên cứu các cơ sở tâm lý và các phương pháp tâm lý học của việc phát hiện, sử dụ
ng
và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực cho công tác quản trị nhân sự. Sử dụng
các dạng trắc nghiệm tâm lý để đo năng lực trí tuệ, phẩm chất nhân cách, ý chí
của con người giúp cho các nhà quản trị trong việc tuyển chọn, đánh giá, và đề bạt cán
bộ và nhân viên của mình.
• Nghiên cứu sự thích ứng của con người với con người trong kinh doanh.Tâm lý
học Quản trị kinh doanh nghiên cứu mối quan hệ giữa con ng
ười với con người
trong tập thể lao động, cụ thể là bầu không khí tâm lý tập thể, sự hòa hợp hay
không hòa hợp giữa các thành viên, quan hệ giữa nhà quản trị với nhân viên.
1.3.2. Nhiệm vụ của Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Tâm lý học Quản trị kinh doanh có 3 nhiệm vụ cơ bản sau:
• Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của đám đông, của tập thể lao động và vai trò
của các hiện tượng này tới hoạt động kinh doanh của tổ chức.

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

22

• Nghiên cứu các quy luật của các hiện tượng tâm lý trên như sự lây lan tâm trạng,
độ hấp dẫn lôi cuốn của bầu không khí tâm lý, sự bắt chước nhau trong truyền
thống và sự ám thị trong dư luận xã hội… nhờ sự hiểu biết các quy luật này mà các
nhà quản lý có cách tác động và điều khiển chúng để phục vụ cho công tác lãnh
đạo công ty, động viên quần chúng đúng lúc, nâng cao hiệu quả họat động của tập thể.
• Nghiên cứu cơ chế vận hành của các hiện tượng tâm lý trên như cơ chế diễn biến
tâm trạng của quần chúng (như tâm trạng buồn chán, uất ức, nếu bị ai kích động sẽ
trở thành cơn nổi xung, sự thịnh nộ đi đến hành vi phá phách ).
1.3.3. Phương pháp nghiên cứu Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Trong tâm lý học quản trị kinh doanh, người ta thường hay sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
1.3.3.1. Quan sát trực tiếp
Nhà quản lý phải trực tiếp đi thị sát, dùng tai để nghe ý kiến của người lao động, dùng
mắt của chính mình để nhìn mọi hiện tượng xã hội nhằm thu được những thông tin
chính xác, sống động. Ngày nay, các nhà quản trị có thể sử dụng các thành quả của
khoa học kỹ thuật để quan sát, kiểm tra và điều hành nhân viên của tổ chức thông qua
hệ thống camera. Ngoài ra, các nhà quản trị có thể thuê các nhà chuyên môn về tâm lý
học, xã hội học… làm nhiệm vụ quan sát tại cổng nhà máy, tại nơi làm việc để phát
hiện ra cảm xúc của từng người ra vào nhà máy.
1.3.3.2. Trưng cầu ý kiến
Đây là phương pháp thu thập thông tin bằng cách hỏi ý kiến của quần chúng góp ý về một
vấn đề nào đó có sự xác định cụ thể. Sự góp ý này bao gồm: Trực tiếp (phỏng vấn, tọa
đàm), gián tiếp (bảng câu hỏi).
1.3.3.3. Phương pháp trắc nghiệm (Test)
Trắc nghiệm là một phép thử để “đo lường” tâm lý mà trước đó đã được chuẩn hóa
trên một lượng người vừa đủ tiêu biểu. Trắc nghiệm thường là tập hợp nhiều bài tập
nhỏ khác nhau, thông qua điểm số điểm giải được mà người ta đánh giá tâm lý của đối
tượng. Ngày nay các chuyên gia đã lập hàng ngàn loại trắc nghiệm khác nhau để xác
định đủ loại phẩm chấ
t tâm, sinh lý con người: Trí tuệ, tài năng, đức độ, độ nhạy cảm,

trí thông minh, tình cảm, trí nhớ…
Ngoài các phương pháp trên còn một số phương pháp khác trong nghiên cứu Tâm lý
học Quản trị kinh doanh như: Phương pháp xạ ảnh, phương pháp tiểu sử…

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

23
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
Những vấn đề cần ghi nhớ trong bài 1:
• Trong bài này chúng ta đã nghiên cứu hai vấn đề: Những vấn đề chung về tâm lý học và Tâm
lý học Quản trị kinh doanh.
• Ở phần 1 “Những vấn đề chung về tâm lý học” chúng tôi đã đề cập tới khái niệm tâm lý,
chức năng cũng như đặc điểm của hiện tượng tâm lý. Trong phần này các học viên cũng được
cung cấp một nội dung quan trọng trong tiến trình phát triển của tâm lý đó là quá trình hình
thành và phát triển của tâm lý học.
• Sau khi nghiên cứu những vấn đề chung nhất về tâm lý học, bài học sẽ cung cấp nội dung về
Tâm lý học Quản trị kinh doanh. Ở phần này học viên sẽ được cung cấp cái nhìn tổng quan
về Tâm lý học Quản trị kinh doanh – như là một ngành khoa học độc lập. Các khái niệm về quản
trị kinh doanh, tâm lý học quản trị kinh doanh, vai trò của tâm lý trong quá trình quản trị.
Ngoài ra bài học còn cung cấp một số lý thuyết về tâm lý học, quản trị, ưu nhược điểm và
điều kiện áp dụng các lý thuyết này trong quản trị kinh doanh.

Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học

24
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Những đóng góp của “Lý thuyết quản trị khoa học” của Frederick Winslow Taylor trong thực
tế quản trị kinh doanh hiện nay?
2. Phân tích ưu và nhược điểm của “Lý thuyết nhu” cầu của Maslow? Ứng dụng lý thuyết này
trong thực tế?

3. Hãy cho nhận xét về cách quản lý “Củ cà rốt và cây gậy”. Cách quản lý này phát huy tác
dụng trong những trường hợp như thế nào? Cho ví dụ minh họa?
4. Những đóng góp của “Lý thuyết quản trị hành chính” của H.Fayol trong thực tế quản trị kinh
doanh hiện nay?
5. Hãy phân tích đối tượng nghiên cứu của môn học Tâm lý học Quản trị kinh doanh?
6. Hãy nêu ví dụ về phương pháp nghiên cứu tâm lý bằng quan sát trong thực tiễn quản trị kinh doanh
của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay?
CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
1. Tâm lý học trở thành môn khoa học độc lập trong thời kỳ nào?
2. Theo dòng tâm lý học Macxit, tâm lý có nguồn gốc từ đâu, khác gì so với quan điểm của các
học thuyết tâm lý trước đây?
3. Thực chất của quản trị kinh doanh là gì?
4. Nhược điểm lớn nhất của trường phái quản trị học cổ điển là gì?
5. Phát hiện quan trọng nhất của E.Mayo là gì?
6. Theo P.Drucker, yếu tố nào là quan tr
ọng nhất trong việc quản lý một doanh nghiệp?
7. Hạn chế của “Lý thuyết nhu cầu” của A.Maslow là gì?
8. Trong thuyết Z, Ouchi đã phê phán thuyết X và Y của Mc. Gregor như thế nào?
9. Một doanh nghiệp muốn đánh giá năng lực của một ứng viên, chỉ cần đánh giá thông qua
phương pháp quan sát?



×