Tải bản đầy đủ (.doc) (112 trang)

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sản xuất và phân phối mai nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 112 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang tích cực
chuẩn bị hành trang cho mình để đón nhận những cơ hội và thách thức do mở
cửa mang lại. Với việc thực hiện các cam kết song phương và đa phương,
hướng tới gia nhập WTO, một nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của nền kinh tế, đó là nâng cao năng
lực cạnh tranh bởi cạnh tranh là đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường và
trong điều kiện hội nhập thì cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Doanh
nghiệp nào có sự chuẩn bị tốt về năng lực cạnh tranh sẽ nắm được quyền chủ
động trên thị trường.
Các sản phẩm làm từ nhựa đang dần trở thành các mặt hàng thiết yếu
phụ trợ cho các ngành công nghiệp khác phát triển, đặc biệt đối với những
lĩnh vực sản xuất cần đóng gói, bao bì và ghi nhãn mác sản phẩm như: ngành
sản xuất sữa, ngành sản xuất chè, chế biến, … Cùng với sự phát triển của
ngành công nghiệp, nhu cầu đóng gói và sử dụng các sản phẩm phụ trợ làm từ
nhựa cũng ngày một cao. Công ty Công ty cổ phần sản xuất và phân phối Mai
Nam (Công ty Mai Nam) hoạt động trên lĩnh vực chính là sản xuất các loại
túi, màng co, màng mỏng làm từ hạt nhựa HIPS, HDPE, PP, PE co, PVC,
LLDPE. Trong những năm qua, công ty đã không ngừng nâng cao năng lực
kinh doanh bằng cách tiếp cận, quảng bá, giới thiệu Marketing sản phẩm của
mình tới khách hàng trong cả nước, chú trọng hơn đến sản phẩm màng co làm từ
hạt nhựa HIPS, HDPE, PP, PE co, nghiên cứu hoàn thiện sản phẩm. Cùng với đó
Công ty đã đầu tư máy móc mới có kỹ thuật tiên tiến trên thế giới để đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Bởi vậy, trong những năm gần đây Công
ty đã có nhiều hợp đồng sản xuất và cung ứng sản phẩm trong cả nước như:
1
Công ty Giống bò sữa Mộc Châu, Công ty Sữa Hanoimilk, Tổng Công ty chè
Việt Nam, Công ty cổ phần Diana, Viện Huyết học và truyền máu trung ương,
Công ty sữa Elovi… và còn nhiều hợp đồng có giá trị lớn khác.
Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn và sự cạnh tranh ngày càng


lớn từ các tập đoàn, công ty lớn cùng sản xuất mặt hàng như Công ty Bao
bì Thăng Long, Công ty Cổ phần Bao bì nhựa Tân Tiến; Công ty TNHH
Bao bì nhựa Tiến Phát trong lĩnh vực sản xuất và phân phối sản phẩm
các loại túi, màng co, màng mỏng làm từ hạt nhựa. Bên cạnh những kết quả
đạt được, hiện tại Công Ty Mai Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn
lớn. Đặc biệt là năng lực cạnh tranh vẫn còn hạn chế như: chưa xây dựng
được chiến lược kinh doanh hiệu quả, mẫu mã, chủng loại các mặt hàng
chưa đa dạng, hệ thống phân phối chưa phát triển, thương hiệu yếu và khả
năng thâm nhập vào thị trường thấp, khả năng tranh chấp thương mại kém
và thường bị thiệt thòi…
Mặc dù Công ty Mai Nam đã có khá nhiều giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay. Nhưng cho tới nay những giải
pháp được đưa ra vẫn chủ yếu là dựa trên sự phân tích các báo cáo tình hình
hoạt động của công ty, chưa có nghiên cứu mang tính hệ thống và khoa học.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
cổ phần sản xuất và phân phối Mai Nam” mang tính cấp thiết, làm cơ sở
khoa học nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công
ty Mai Nam trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn trong lĩnh vực sản xuất
và phân bối các loại túi, màng co, màng mỏng làm từ hạt nhựa.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Mai Nam, phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty, từ đó đưa ra những
giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Mai Nam.
2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
- Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Mai Nam, phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Mai Nam.

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty Mai Nam.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh của Công ty Mai Nam và một số doanh nghiệp
sản xuất và phân phối các loại túi, màng co, màng mỏng làm từ hạt nhựa trên
địa bàn Thành phố Hà Nội.
Các khách hàng tiêu dùng các loại túi, màng co, màng mỏng làm từ
hạt nhựa HIPS, HDPE, PP, PE co, PVC, LLDPE.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Về nội dung
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một phạm trù rộng. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi đi sâu vào phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty
Mai Nam ở các khía cạnh: i) năng lực sản xuất; ii) năng lực tiêu thụ; iii) khả năng
đổi mới công nghệ; iv) khả năng đa dạng hoá sản phẩm; v) năng lực tiếp cận các
yếu tố đầu vào; vi) năng lực tài chính; vii) marketing và dịch vụ khách hàng;
1.3.2.2. Về không gian
Thu thập thông tin tại Công ty Mai Nam và các doanh nghiệp sản xuất
và phân phối các loại túi, màng co, màng mỏng làm từ hạt nhựa.
1.3.2.3. Về thời gian
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty Mai Nam từ năm 2010,
2011, 2012 khảo sát thực tế năm 2013.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
3
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Lý thuyết về cạnh tranh
2.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Theo Các Mác: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà
tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

để thu được lợi nhuận siêu ngạch [2].
Theo cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa như sau: Cạnh tranh
là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành giật
cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình [3].
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt
động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các
nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm
giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [14].
Theo Samuelson thì: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh
tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường [13].
Từ các định nghĩa trên, chúng ta thấy có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:
Thứ nhất: Nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần thắng của
nhiều chủ thể cùng tham dự. Thứ hai: Mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối
tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật, mục đích cuối cùng là kiếm
được lợi nhuận cao. Thứ ba: Cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có
các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ. Thứ tư: trong quá trình
cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác
nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán
sản phẩm …
Từ những nhận định trên, khái niệm cạnh tranh trong kinh doanh có thể hiểu như
sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm
mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình,
4
thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như các điều
kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế
trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh
là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. [5]
2.1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Trên bình diện nền kinh tế quốc gia, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy phát
triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất thông qua việc kích thích

các DN sử dụng các nguồn lực tối ưu, góp phần phân phối lại thu nhập một cách
hiệu quả hơn và đồng thời góp phần nâng cao phúc lợi xã hội [1].
Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sự hấp dẩn của lợi nhuận từ việc đi đầu
về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp
phải luôn cải tiến, nâng cao công nghệ, phương pháp sản xuất, quản lý nhằm nâng
cao uy tín của mình. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải mở rộng, tìm kiếm thị
trường với mục đích tiêu thụ, đầu tư huy động nguồn vốn, lao động, công nghệ,
trình độ quản lý trên thị trường quốc tế. Thông qua cạnh tranh quốc tế, các doanh
nghiệp thấy được lợi thế so sánh, cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn
thiện, xây dựng các chiến lược trên thị trường quốc tế. Dưới góc độ lợi ích người
tiêu dùng, cạnh tranh giúp cho người tiêu dùng có được sự lựa chọn rộng rãi hơn,
buộc người sản xuất không thể áp đặt giá cả tùy tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh
là yếu tố điều tiết thị trường, giá cả, quan hệ cung cầu [6].
Kinh tế thị trường là tiền đề cơ bản của cạnh tranh bởi một số đặc trưng cơ
bản của nó, các quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường như quy luật cạnh
tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật giá cả tạo điều kiện để cạnh tranh
hình thành, vận hành và phát triển. Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều thành
phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau cùng hoạt động SXKD. Các chủ
thể kinh tế với khả năng về vốn, lao động, công nghệ, trình độ quản lý khác nhau
đều có mục đích tiến tới tối đa hóa lợi ích. Do vậy, để tối đa hóa lợi nhuận và không
bị đào thải buộc các chủ thể kinh tế chỉ có cách duy nhất là cạnh tranh.
Cạnh tranh trong cơ chế thị trường tự do ở nhiều trường hợp chưa thực sự
5
vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những thất bại của thị trường.
Do vậy, phải có sự can thiệp hợp lý của Nhà nước để đảm bảo cơ chế cạnh tranh
vận hành một cách hiệu quả, giảm thiểu thất bại của thị trường. Điều cốt lõi là Nhà
nước phải thực hiện, xây dựng chính sách cạnh tranh hiệu quả, môi trường cạnh
tranh bình đẳng, lành mạnh nhằm tránh thất bại của thị trường gây tổn hại đến năng
lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
2.1.1.3. Các loại hình cạnh tranh

Cạnh tranh diễn ra dưới nhiều hình thức, nhiều góc độ khác nhau. Theo góc
độ thị trường thì có các hình thức cạnh tranh chủ yếu sau:
* Cạnh tranh hoàn hảo: Cạnh tranh hoàn hảo bao gồm rất nhiều người bán
và nhiều người mua một sản phẩm hàng hóa giống nhau nào đó. Không một người
mua hay người bán nào có ảnh hưởng lớn đến mức giá trên thị trường hiện hành của
hàng hoá. Người bán không thể đòi giá cao hơn giá thị trường vì người mua có thể
tự do mua một số lượng hàng hoá bất kỳ, những hàng hoá mình cần theo giá thị
trường đó. Người bán cũng không chào giá thấp hơn giá thị trường vì họ có thể bán
tất cả những thứ gì cần theo giá thị trường hiện hành [5].
Hình thức này có ưu điểm đối với người tiêu dùng. Do có cơ hội lựa chọn
sản phẩm, mua được giá mà giá đó là do quan hệ cung cầu thị trường tạo ra, người
sản xuất muốn ép giá cũng không ép được. Chính vì vậy mỗi người sản xuất đều
phải cố gắng tìm hướng đi cho mình để sản xuất sản phẩm ra còn tiêu thụ được.
Hình thức này cũng còn để lại nhược điểm chưa khuyến khích hết khả năng của
người sản xuất.
* Cạnh tranh độc quyền: Cạnh tranh độc quyền gồm rất đông người mua và
người bán thực hiện các thương vụ không theo một giá thị trường thống nhất, mà là
trong một khoảng giá rất rộng. Có khoảng giá rộng là do người bán có thể chào bán
cho người mua những phương án hàng hoá khác nhau, sản phẩm hiện thực có thể
khác nhau về chất lượng, tính chất, hình thức bề ngoài, cũng có thể khác biệt về
dịch vụ kèm theo hàng hoá. Người mua thấy có sự chênh lệch về giá chào bán và
sẵn sàng mua hàng theo các giá khác nhau [7].
Trong thị trường độc quyền sản phẩm sản xuất ra là loại riêng biệt không có
6
sản phẩm thay thế, sự thay đổi giá của sản phẩm khác không có ảnh hưởng gì đến
giá và sản lượng của sản phẩm độc quyền, ngược lại sự thay đổi giá sản phẩm độc
quyền cũng không ảnh hưởng đến giá sản phẩm khác.
Qua nghiên cứu các hình thức cạnh tranh, chúng tôi thấy rằng đối với hoạt động sản
xuất và phân phối các loại túi, màng co, màng mỏng làm từ hạt nhựa ứng với thị
trường cạnh tranh không hoàn hảo, có nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường qua

một thời gian hoạt động nếu như không có hiệu quả thì doanh nghiệp cũng tự tìm cách
rút ra khỏi thị trường. Mỗi doanh nghiệp khi đưa sản phẩm ra thị trường đều có sự phân
biệt rõ ràng về nhãn hiệu, hình thức sản phẩm, chất lượng và giá cả. [9]
2.1.1.4. Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp là những gì làm cho doanh nghiệp
ấy khác biệt và chiếm ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh
mà DN có hay khai thác tốt hơn đối thủ cạnh tranh. Việc tạo dựng và duy trì lợi thế
cạnh tranh đóng một vai trò rất lớn trong sự thành công của doanh nghiệp [4].
Theo quan điểm truyền thống cổ điển, các nhân tố sản xuất như: đất đai,
vốn, lao động là những yếu tố thuộc về tài sản hữu hình được coi là những nhân tố
để tạo ra lợi thế cạnh tranh [4]
Theo Michael Porter, chi phí và sự sẵn có của các yếu tố sản xuất chỉ là
một trong nhiều nguồn lực tại chỗ quyết định lợi thế cạnh tranh, không phải là yếu
tố quan trọng, nếu xét trên phạm vi tương đối so với các yếu tố khác. Ông cho rằng lợi
thế cạnh tranh của một DN, về dài hạn, tùy thuộc nhiều vào khả năng cải tiến liên tục
và nhấn mạnh đến sự tác động của môi trường đối với việc thực hiện cải tiến đó [10].
Một cách chung nhất, có thể chia lợi thế cạnh tranh thành hai nhóm cơ bản:
- Lợi thế về chi phí: khi tính ưu việt của nó thể hiện trong việc tạo ra sản phẩm có
chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tr anh này mang lại cho DN hiệu
quả cao hơn và khả năng tốt hơn để chống lại việc giảm giá bán sản phẩm [13].
- Lợi thế về sự khác biệt hóa: khi tính ưu việt của nó dựa vào sự khác biệt của sản
phẩm, làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm
hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép DN có
7
khả năng buộc thị trường chấp nhận mức giá cao hơn mức giá của đối thủ [8].
2.1.2 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Theo lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất. Hiệu quả
của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên mức chi phí

thấp. Chi phí sản xuất thấp không chỉ là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh mà
còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế.
Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực
cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường
trong và ngoài nước, các chỉ số đánh giá năng suất lao động, công nghệ, tổng năng
suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính
khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào,…( Van Duren, Martin và Westgren).
Năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh (Competitive Power) là khả năng
giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng
giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp [3].
Michael Porter cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những
sản phẩm có qui trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với
nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận [9].
Như vậy, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” dù đã được sử dụng rộng rãi
nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, dẫn đến cách thức đo lường năng lực
cạnh tranh của các DN vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và phổ biến.
Tuy thế, từ các quan điểm trên, chúng ta có thể đúc kết lại như sau: Năng lực cạnh
tranh là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực giới hạn như: nhân lực, vật lực, tài lực,…để tạo ra năng suất và chất lượng cao
hơn so với đối thủ cạnh tranh, đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan
một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, xác lập vị thế
cạnh tranh của mình trên thị trường, từ đó chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập
và lợi nhuận cao, đảm bảo cho DN tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững.
2.1.2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
8
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: Năng lực cạnh tranh
quốc gia, năng lực cạnh tranh của DN, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.
* Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia: Năng lực cạnh tranh quốc gia là một chỉ
tiêu tổng hợp, bao gồm nhiều nhóm yếu tố khác nhau: chất lượng và trình độ phát
triển của thể chế nhà nước, vai trò quản lý của nhà nước, các thể chế của kinh tế thị

trường, độ mở của nền kinh tế, trình độ quản lý của doanh nghiệp, kết cấu hạ tầng
kỹ thuật, chất lượng và số lượng lao động và khoa học công nghệ là những yếu tố
quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia [10]
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia được quyết định bởi sự lành mạnh
của các môi trường kinh tế vĩ mô, vi mô, chất lượng chiến lược và hiệu quả kinh
doanh của các Công ty (theo Goger H. Ford, 2003). Còn theo A.Warner, năng lực
cạnh tranh của quốc gia là khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh GDP/đầu
người trong suốt thời gian dài.
Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF năm 1997 định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc
gia là "năng lực của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên
cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế khác tương đối vững chắc".
Như vậy, tuy có sự khác nhau trong các khái niệm, định nghĩa nhưng tất cả đều
có điểm chung cơ bản là cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của một quốc gia được
quyết định bởi năng suất các thành tố, nhờ đó duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh,
bền vững của GDP và cải thiện được điều kiện sống của người dân.
* Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
là năng lực tồn tại, duy trì và gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường của các sản
phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh
(hay năng lực cạnh tranh) và được đánh giá là có thể đứng vững cùng các nhà sản
xuất khác, khi các sản phẩm thay thế hoặc các sản phẩm tương tự được đưa ra với
mức giá thấp hơn các sản phẩm cùng loại, hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với
các đặc tính về chất lượng và dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Nhìn chung, khi xác
định năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành cần xem xét đến
tiềm năng sản xuất kinh doanh một hàng hóa hay một dịch vụ ở mức giá ngang bằng
hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không phải trợ cấp.
9
Năng lực cạnh tranh DN được xác định trên cơ sở bốn nhóm yếu tố chủ yếu sau:
* Nhóm yếu tố thứ nhất bao gồm các yếu tố liên quan đến chất lượng, khả
năng cung ứng các yếu tố đầu vào của sản xuất hàng hóa: tài nguyên thiên nhiên,
nguồn nhân lực, nguồn vốn, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, thông tin, các yếu tố về khoa

học và công nghệ, hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước…
* Nhóm yếu tố thứ hai liên quan đến các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ
trợ cho hoạt động của doanh nghiệp, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ có liên quan
để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
* Nhóm yếu tố thứ ba liên quan đến nhu cầu của thị trường đối với các sản
phẩm và dịch vụ của DN, yêu cầu của khách hàng về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ.
Phân tích những yếu tố thuộc nhóm này giúp DN có các thông tin về dung lượng, sức
mua, mức độ đàn hồi của thị trường, nhu cầu và thị hiếu của khách hàng đối với SP.
* Nhóm yếu tố thứ tư phản ánh trực tiếp mức độ cạnh tranh ở lĩnh vực mà
DN kinh doanh, năng lực cạnh tranh của DN trong tương quan so sánh với các DN
khác (về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thương hiệu, kinh nghiệm quản lý ).
Nhìn chung trong chiến lược phát triển của mình, các DN đều phải tính toán
đến việc nâng cao NLCT. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, DN tập trung đầu tư vào
những yếu tố phù hợp và từng bước nâng trình độ phát triển lên mức cao hơn. Năng
lực cạnh tranh của DN không chỉ được quyết định bởi quy mô sản xuất mà còn phụ
thuộc rất nhiều vào khâu tiêu thụ, khuyến mại, nghiên cứu thị trường.
* Năng lực cạnh tranh của hàng hóa: Năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch
vụ là cơ sở tạo nên sức cạnh tranh của DN, của ngành và thể hiện tập trung ở các
yếu tố: giá cả, chất lượng, hệ thống phân phối và thương hiệu của doanh nghiệp.
Một hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu
cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự
khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hóa cùng
loại. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại được quyết định bởi năng lực
cạnh tranh của DN. Không thể có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao
trong khi DN sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh thấp.
Cạnh tranh về giá cả là một công cụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh
10
tranh của hàng hóa. Nếu hai hàng hóa cùng loại và có chất lượng như nhau, thì hàng
hóa nào được bán với giá thấp hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Giá cả
hàng hóa được quyết định bởi giá thành của nó. Muốn hạ giá thành sản phẩm thì

DN phải cải tiến tổ chức quản lý sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất
lao động, khai thác nguồn nguyên liệu đầu vào với chi phí thấp
Cạnh tranh về chất lượng là nội dung thứ hai có tính then chốt trong các
biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa. Hàng hóa có công dụng như
nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa có chất lượng cao hơn.
Ngày nay hàng hóa có sức cạnh tranh cao phải là những hàng hóa "xanh và sạch",
đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm, về bảo vệ môi
trường của các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, EU… Việc xây dựng thương hiệu
tốt cũng giúp DN thu hút ngày càng nhiều khách hàng và thâm nhập thành công thị
trường các nước nhập khẩu. Thương hiệu là một tài sản vô hình có ảnh hưởng quan
trọng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Thương hiệu nổi tiếng sẽ ăn
sâu vào trí nhớ người tiêu dùng và với sức mạnh của thương hiệu, sản phẩm tạo ra
giá trị gia tăng (GTGT) không chỉ ở giá mà còn ở niềm tin người tiêu dùng.
Cạnh tranh về hệ thống phân phối, dịch vụ bán hàng ngày càng đóng vai trò
quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, đặc biệt trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thế giới hiện
nay. Khâu phân phối sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, là cầu nối giữa người sản
xuất với người tiêu dùng. Trong điều kiện hàng hóa được sản xuất từ nhiều DN với
các chủng loại đa dạng và phong phú như hiện nay, thì công tác tiếp cận thị trường,
giới thiệu sản phẩm phải được chú trọng đúng mức. Hệ thống phân phối được thiết
kế hợp lý, phân định được kênh phân phối chủ lực và các kênh phân phối phụ trợ có
ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường.
2.1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nhiều nhà kinh tế học đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực canh tranh của
doanh nghiệp khác nhau. Chúng ta có thể đưa ra đây ba nhóm tác giả tiêu biểu sau:
- Theo Goldsmith và Clutterbuck: có 3 tiêu chí đo lường khả năng cạnh
11
tranh của doanh nghiệp là: tăng trưởng tài sản vốn, doanh số và lợi nhuận trong 10
năm liên tục, sự nổi tiếng trong ngành như là một Công ty dẫn đầu, sản phẩm được

người tiêu dùng ưa chuộng.
- Theo Baker và Hart: có 4 tiêu chí để xác định năng lực cạnh tranh là: tỷ
suất lợi nhuận, thị phần, tăng trưởng xuất khẩu và qui mô.
- Theo Peters và Waterman: có 7 tiêu chí để đo lường năng lực cạnh tranh
của DN gồm 3 tiêu chí đo lường mức độ tăng trưởng và tài sản dài hạn được tạo ra
trong vòng 20 năm là: doanh thu, lợi nhuận và tổng tài sản; 3 tiêu chí khác đo lường
khả năng hoàn vốn và tiêu thụ sản phẩm là: thời gian hoàn vốn, thị phần và tỷ trọng
xuất khẩu; tiêu chí cuối cùng là đánh giá lịch sử đổi mới của Công ty.
Qua đó, các cách đánh giá khác nhau cũng đều xoay quanh các tiêu chí: thị
phần, doanh thu, lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận, tài sản và tài sản vô hình, phương
pháp quản lý, uy tín của doanh nghiệp, tỉ lệ đội ngũ quản lý có trình độ cao và lực
lượng công nhân lành nghề, vấn đề bảo vệ môi trường,…Những yếu tố đó tạo cho
DN khả năng khai thác mọi hoạt động, tiềm năng với hiệu suất cao hơn đối thủ.
2.1.2.4. Nội dung cơ bản nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trên thực tế, mỗi doanh nghiệp đều có những điểm mạnh, điểm yếu nhất
định. Hay nói cách khác, mỗi doanh nghiệp thường chỉ có năng lực cạnh tranh trên
một số lĩnh vực hoạt động. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
một cách định tính và cả định lượng, cần xác định các yếu tố phản ánh năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp từ những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh
nghiệp như: marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống
thông tin,…Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành khác nhau sẽ có
những yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau với những trọng số khác
nhau. Để lượng hóa năng lực cạnh tranh của DN, từ các yếu tố cấu thành nên năng
lực cạnh tranh, ta cần đưa ra một hệ thống các chỉ tiêu để cho điểm, đánh giá.
Thông thường, đối với một doanh nghiệp nói chung, các yếu tố thường sử
dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh gồm có:
1. Năng lực sản xuất sản phẩm
2. Năng lực tiêu thụ sản phẩm
12
3. Khả năng đổi mới công nghệ

4. Năng lực cạnh tranh về giá
5. Khả năng đa dạng hóa sản phẩm
6. Năng lực tiếp cận các yếu tố đầu vào
7. Năng lực tài chính
8. Năng lực Ma rketing và dịch vụ khách hàng
Vì vậy khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp cần tập
trung đánh giá năng lực của nó thông qua 7 nội dung trên.
2.1.2.5. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển, DN phải tạo
cho mình khả năng chống chọi lại các thế lực cạnh tranh một cách có hiệu quả. Nhất
là trong giai đoạn hiện nay, với tiến trình khu vực hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế
giới và những tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ của công nghệ
thông tin, tính quyết định của năng lực cạnh tranh đối với sự thành công hay thất bại
của DN càng rõ nét. Do vậy, các DN phải không ngừng tìm tòi các biện pháp phù
hợp và liên tục đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, vươn lên chiếm được lợi
thế cạnh tranh so với đối thủ thì mới có thể phát triển bền vững được.
Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN còn góp phần vào việc nâng
cao năng lực cạnh tranh của ngành. Từ đó, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ ngày
càng tốt hơn với giá rẻ hơn, làm cho nền kinh tế phát triển, khả năng cạnh tranh của
quốc gia được nâng cao và đời sống của nhân dân được tốt đẹp hơn. Vì thế, bên
cạnh nổ lực nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi DN, trên tầm vĩ mô, Nhà nước
cần phải nhanh chóng và đồng bộ hoàn thiện các cơ chế, chính sách, hệ thống pháp
luật nhằm tạo môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh cho các DN. Đồng thời,
thông qua đàm phán, ký kết các cam kết quốc tế về hội nhập, xúc tiến thương mại,
tạo sự thuận lợi cho DN xuất khẩu hàng hóa.
2.1.3. Mô hình phân tích năng lực cạnh tranh
2.1.3.1. Mô hình 5 lực lượng của Micheal Porter
Mô hình 5 lực lượng của Michael Porter là mô hình phân tích môi
trường cạnh tranh cấp ngành của doanh nghiệp. Theo mô hình xác định 5 lực
13

lượng cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định phương án sản phẩm của
doanh nghiệp.


- Nguy cơ do những người mới nhập ngành tạo ra:
Những người mới nhập ngành thường mang theo những khả năng mới,
muốn, muốn chinh phục thị trường, có nhiều nguồn lực mới ,dẫn đến việc
họ có thể hạ giá bán sản phẩm hoặc làm tăng chi phí sản xuất của nhà doanh
nghiệp hiên tại dẫn đến giảm mức sinh lời của ngành. Những nguy cơ này phụ
thuộc vào sự chống trả của các doanh nghiệp hiện tại.
-Rào chắn gia nhập ngành gồm:
Quy mô sản xuất lớn : Quy mô giảm giá thành sản phẩm , dẫn đến
làm nản lòng những người mới nhập ngành.
Cá biệt hoá sản phẩm : Các doanh nghiệp hiện tại trong ngành đã thành
công trong việc tạo ra hình ảnh tốt về thương hiệu các sản phẩm và tạo được
lòng tin của khách hàng. Điều này sẽ trở thành rào chắn đối với những người
gia nhập ngành tiềm năng vì họ phải đầu tư một khoản lớn.
Quy mô vốn lớn: tạo nên trở ngại đối với người muốn nhập ngành , đặc
biệt đối với những khoản chi phí có mức rủi ro cao, khó thu hồi ( chi phí
cho nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, ….)
Chi phí chuyển dịch người mua phải chịu khi chuyển sang mua sản
14
Các đối thủ tiềm năng
Sản phẩm thay thế
Các đối thủ hiện tại
Người cung
ứng
Khách hàng
phẩm của người mới nhập ngành :chi phí này lớn thì người mới nhập ngành
cần phải tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn hẳn sản phẩm của các doanh

nghiệp cũ đã có mặt trên thị trường.
Khó thâm nhập vào mạng lưới phân phối : Các doanh nghiệp hiện tại đã
chiếm được toàn bộ mạng lưới phân phối hoặc duy trì được những mối quan
hệ ưu tiên.
Các doanh nghiệp cũ có thể được hưởng bản quyền sáng chê sản phẩn,
những ưu tiên về nguồn nguyên nhiên vật liệu, vị trí, các khoản trợ cấ từ
chính phủ tạo cho họ một mức giá thành hạ.
- Mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại:
Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hiện tại trong ngành về giá cả , quảng
cáo sản phẩm, các hình thức xúc tiến hỗn hợp, khuyến mại sản phẩm Trong
một số trường hợp, các hoạt động này thúc đẩy các nhà sản xuất cạnh tranh
một cách mạnh mẽ, làm giảm đáng kể mức sinh lời của toàn ngành. Cuộc
cạnh tranh khốc liệt là kết quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố:
-Các đối thủ cạnh tranh đông và năng lực cạnh tranh khá cân bằng.
-Mức tăng trưởng của ngành chậm.
- Các khoản chi phí cố định và chi phí bảo quản cao.
-Không có sự khác biệt hoá sản phẩm và chi phí chuyển dịch.
-Các đối thủ có nhiều đặc điểm khác nhau.
-Những thách thức chiến lược lớn.
Mức độ nguy cơ mà các sản phẩm thay thế tạo nên đối với sản phẩm của
doanh nghiệp.
Sản phẩm thay thế cũng là một trong 5 lực lượng cạnh tranh trực tiếp với
các sản phẩm của ngành làm giảm mức lợi nhuận của ngành. Những sản
phẩm thay thế mà doanh nghiệp cần phải chú ý là:
-Những sản phẩm có sự biến đổi theo huớng hoàn thiện chất lượng và giá cả.
-Những sản phẩm được sản xúât trong ngành có suất lợi nhuận cao
15
Mức độ lợi thế về các khách hàng của doanh nghiệp:
Khách hàng luôn muốn được mua rẻ, được hưởng dịch vụ tốt nhất và có
những yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm , dùng một doanh nghiệp này để

ép doanh nghiệp khác khi mua sản phẩm, do đó làm giảm lợi nhuận của
ngành và kết quả nó phụ thuộc vào quyền lực thương thuyết của khách hàng.
Một nhóm khách hàng được coi là có lợi thế lớn khi nó thỏa mãn một
trong các thuộc tính sau:
- Khách hàng mua một khối lượng lớn so với doanh thu người bán.
- Các sản phẩm mua ở trong ngành chiếm phần lớn trong giá thành sản
phẩm của khách hàng,… nên khách hàng không ngại tìm kiếm doanh nghiệp
có thể cung cấp sản phẩm với giá thành rẻ nhất.
- Sản phẩm của ngành được tiêu chuẩn hoá hoặc các sản phẩm thông
dụng, không đặc biệt mà khách hàng dễ dàng mua được ở các doanh nghiệp
khác.
- Chi phí thay đổi người cung cấp nhỏ.
- Nhóm khách hàng có lợi nhuận thấp, muốn giảm chi phí mua sắm thông
qua đàm phán mua.
- Khách hàng có xu hướng biết rõ về giá thành và chất lượng sản phẩm
cần mua.
2.1.3.2. Mô hình McKinsey
Mô hình McKinsey hay còn gọi là mô hình lưới đèn cũng dựa trên cùng
lập luận với mô hình BCG. Mô hình này đã đưa ra khẳng định rằng sự cạnh
tranh giữa các nhà sản xuất không chỉ diễn ra trên chỉ tiêu giá mà còn phụ
thuộc vào các biến số khác như quy mô vốn được sử dụng, ưu thế doanh
nghiệp. Mô hình này được sử dụng nhằm phân khúc hoạt động, xác định vị trí
doanh nghiệp trong khúc hoạt động và mục tiêu cuối cùng vẫn là xác định
chiến lược của doanh nghiệp.
- Bước 1: Phân khúc hoạt động: Việc phân khúc hoạt động này được áp
16
dụng cho các hoạt động có tính đồng nhất về kinh tế và kỹ thuật như nhóm sản
phẩm sử dụng cùng loại nguyên vật liệu đầu vào, có cùng nhóm khách hàng mục
tiêu, sản phẩm được tiêu thụ bởi cùng mạng lưới phân phối….
-Bước 2: Xác đinh vị trí chiến lược của doanh nghiệp trên khúc chiến

lược:
Việc xác định vị trí chiến lược của doanh nghiệp tren khúc chiến lược cũng
gồm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Xác định lợi ích của khúc hoạt động chiến lược mang
lại, xác định rõ những mục tiêu chung của doanh nghiệp. Tuỳ theo bản chất
và thứ tự ưu tiên các mục tiêu mà để đưa ra các chỉ tiêu đánh giá như suất
sinh lời trung bình của ngành, tỷ lệ tăng và sự biến động của cầu…
+ Giai đoạn 2: Đánh giá lợi thế của doanh nghiệp: Xác định những yếu
tố then chốt quýêt định sự thành công đối với từng lĩnh vực hoạt động và
đối chiếu với những lợi thế và những nhược điểm của doanh nghiệp.
+ Giai đoạn 3: Xác định vị trí của doanh nghiệp trên khúc chiến lược
theo ma trận:




- Bước 3:Xác định và lựa chọn chiến lược
+Vùng A: thường sử dụng chiến lược tấn công, đầu tư để tăng thị phần.
+Vùng B: doanh nghiệp nên sử dụng chiến lược phòng thủ, đầu tư một
B A A
C B A
C C B
17
Lớn
Trung
bình
Nhỏ
Kém Trung bình Lớn Ưu thế của doanh nghiệp
cách có chọn lọc và nghiên cứu một cách có hệ thống để tăng lợi nhuận.
+Vùng C: với các sản phẩm thuộc vùng C doanh nghiệp nên thu hẹp đầu tư.

Đánh giá mô hình
▪ Ưu điểm :
- So với mô hình BCG, mô hình McKinsey thể hiện tính ưu việt hơn khi
khẳng định rằng các nhà sản xuất không chỉ cạnh tranh với nhau về giá
cả mà họ còn cạnh tranh trên nhiều phương diện khác. Các phương diện này đã
được sử dụng tổng hợp để xác định ưu thế của doanh nghiệp.
- Một ưu điểm nữa là ma trận vị trí ABC đã chỉ ra rằng: tỷ lệ tăng
trưởng của ngành chỉ là một cách đánh giá lợi ích của ngành, tương tự mức
sản xuất tích luỹ của doanh nghiệp so với mức sản xuất của đối thủ mạnh nhất
trong ngành cũng vậy và chúng cùng với các chỉ tiêu khác góp phần thể hiện
ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp mà thôi.
- Mô hình McKinsey được coi là một phương pháp có chất lượng và
được sử dụng rất hữu hiệu trong các nghiên cứu quản trị học. Bằng cách khái
quát hoá vấn đề cạnh tranh, McKinsey đã chuyển từ phương pháp chiến
lược số lượng ít nhiều có tính chất tĩnh sang một phương pháp chiến lược có
tính chất động hơn. Điều này đã tạo nên thành công của McKinsey trong việc
đánh giá lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai.
▪Nhược điểm :
Trong quá trình xây dựng chiến lược, khi sử dụng mô hình này,người ra
quyết định phải đứng trước nhiều lựa chọn quyết định, vì thế ưu tiên phương
pháp chất lượng đôi khi trở thành nhược điểm. Kết quả của lập luận chiến
lược phụ thuộc vào trình nhận thức của các nhà xây dựng chiến lược
làm cho tính chất chủ quan trong chiến lược còn cao.
2.1.4 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.4.1 Môi trường bên ngoài:
Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố kinh tế, yếu tố
18
chính trị, luật pháp, yếu tố dân số, yếu tố văn hoá xã hội và yếu tố tự
nhiên. Việc phân tích môi trường vĩ mô để nhận dạng những cơ hội môi
trường có thể mang lại cho doanh nghiệp và các mối đe dọa mà doanh

nghiệp nên tránh.
a) Các chính sách, thể chế , chính trị, luật pháp, văn hóa, xã hội
-Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến
doanh nghiệp là tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất ngân hàng, tỷ lệ
lạm phát,
- Yếu tố chính trị, luật pháp: Các yếu tố chính trị như sự ổn định về
chính trị, thể chế, đường lối lãnh đạo của Nhà nước, các mối quan hệ với các
nước trong khu vực, các nước trên thế giới, các yếu tố về luật pháp như các hệ
thống luật, các văn bản dưới luật, các định chế của quốc gia của quốc tế,
ngày càng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.
- Yếu tố văn hoá xã hội: Những yếu tố về văn hoá xã hội đó là những
phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng, thái độ đối với chất lượng cuộc sống, sự
phát triển dân số…
b)) Đối thủ cạnh tranh hiện tại
h) Nhà cung cấp:Ảnh hưởng các yếu tố đầu vào, nguồn cung cấp, giá NVL
đầu vào, khả năng thương lượng của nhà cung cấp.
2.1.4.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Đây là các yếu tố mà doanh nghiệp có thể chi phối và kiểm soát được.
Đối với những ngành nghề khác nhau, mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể khác nhau. Các yếu tố thường được
xem xét khi đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm:
1) Năng lực vốn: tài chính mạnh thì làm tăng năng lực cạnh tranh.
2)Năng lực tiếp cận thị trường và marketing:Tiếp cận và phát triển thị
trường là yếu tố quan trọng. , vừa là nơi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm,
tìm kiếm đầu vào, điều tiết hoạt động của DN thông qua cung cầu, giá cả,
19
lợi nhuận… doanh nghiệp căn cứ vào thị trường để định hướng chiến lược,
xây dựng kế hoạch KD. Sự ổn định của thị trường có ý nghĩa rất quan
trọng đối với sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Marketing dẫn dắt toàn bộ hoạt động, giúp doanh nghiệp phát hiện và thoả

mãn nhu cầu của khách hàng, xây dựng giải pháp khách hàng và xây dựng
thương hiệu mạnh.
3)Chất lượng nguồn nhân lực, Lao động có kỹ năng có khả năng
tiếp thu và sản sinh, làm chủ công nghệ cao, đưa đến tăng năng
suất lao động, giảm giá thành và qua đó làm tăng sức cạnh tranh
của doanh nghiệp.[8].
Sơ đồ 2.1 Môi trường ngành
Nguồn: Michael E. Porter (1990)
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Kinh nghiệm phát triển ngành nhựa trên thế giới
2.2.1.1. Đặc điểm chung của ngành nhựa thế giới
a. Tốc độ phát triển
Ngành nhựa

là một trong những ngành tăng trưởng ổn định của thế
20
Sức ép của những
người mới hoặc sẽ
nhập cuộc
Quyền thương
lượng của phía những
người cung cấp
Cạnh tranh
giữa các
đối thủ hiện tại
DN
Sự đe doạ của những
sản phẩm thay thế
Quyền thương lượng
của phía những người

tiêu dùng
giới, trung bình 9% trong vòng 50 năm qua. Mặc dù cuộc khủng hoảng
kinh tế 2008 tác động lớn tới nhiều ngành công nghiệp, ngành nhựa vẫn
tăng trưởng 3% trong năm 2009 và 2010. Tăng trưởng của ngành Nhựa
Trung Quốc và Ấn Độ đạt hơn 10% và các nước Đông Nam Á với gần
20% năm 2010.
Biểu đồ 3.1. Sản lượng nhựa trên thế giới
Nguồn: Plastics Europe
Sự phát triển liên tục và bền vững của ngành Nhựa là do nhu cầu thế
giới đang trong giai đoạn tăng cao. Sản lượng nhựa tiêu thụ trên thế giới ước
tính đạt 500 triệu tấn năm 2010 với tăng trưởng trung bình 5%/năm (theo
BASF). Nhu cầu nhựa bình quân trung bình của thế giới năm 2010 ở mức 40
kg/năm, cao nhất là khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu với hơn 100 kg/năm. Dù khó
khăn, nhu cầu nhựa không giảm tại 2 thị trường này trong năm 2009 – 2010
và thậm chí tăng mạnh nhất ở khu vực châu Á – khoảng 12-15%. Ngoài yếu
tố địa lý, nhu cầu cho sản phẩm nhựa cũng phụ thuộc vào tăng trưởng của các
ngành tiêu thụ sản phẩm nhựa (end-markets) như ngành thực phẩm (3.5%),
thiết bị điện tử (2.9%), xây dựng (5% tại châu Á). Nhu cầu cho sản phẩm
nhựa tăng trung bình 3.8%/năm trong ngành chế biến thực phẩm, 3.1% trong
ngành thiết bị điện tử và 6-8% trong ngành xây dựng (Mỹ) là yếu tố quan
trọng đẩy tăng nhu cầu nhựa thế giới. [14]
21
b. Nguồn cung
Năm 2010, sản lượng nhựa thế giới hồi phục mạnh mẽ lên 300 triệu
tấn, cao hơn 32%sản lượng của 2009. Sản lượng thế giới năm 2009 giảm chủ
yếu do giá thành sản xuất leo thang và ảnh hưởng của kinh tế suy thoái. Với
các gói kích cầu, khuyến khích sản xuất, đặc biệt tại Thái Lan, sản lượng nhựa
thế giới đã quay trở lại mức tăng trưởng trước khủng hoảng tuy vẫn chưa đáp
ứng đủ nhu cầu của thế giới. Cộng thêm với giá NPL đột biến, giá thành sản
phẩm nhựa theo đó cũng tăng tới 25% trong năm 2010.

Tăng trưởng sản lượng ở châu Á (đặc biệt Trung Quốc, Ấn Độ, Đông
Nam Á) đặc biệt ấn tượng trong năm 2009 và 2010 với ~ 15%. Đây là nguyên
nhân chính giúp tăng trưởng ngành nhựa châu Á đạt trên 2 con số trong năm
vừa qua. Khu vực châu Á hiện sản xuất 37% tổng sản lượng nhựa sản xuất
toàn cầu, với 15% thuộc về Trung Quốc. Châu Âu và NAFTA theo sát với
24% và 23% tương ứng. Sản lượng sản xuất giảm nhẹ ở hai khu vực này do
cạnh tranh lớn với sản phẩm từ châu Á và ảnh hưởng kéo dài của khủng
hoảng kinh tế và nợ công châu Âu. [8]
c. Cơ cấu sản phẩm từ nhựa
Ngành nhựa được chia ra thành nhiều phân khúc nhỏ dựa trên sản
phẩm như nhựa bao bì, nhựa xây dựng, phụ kiện xe hơi, thiết bị điện tử, …
Tăng trưởng của các phân khúc này phụ thuộc lớn vào nhu cầu cho sản phẩm
nhựa và tăng trưởng của các ngành sản phẩm cuối.
Phân khúc sản xuất bao bì : chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
sản phẩm nhựa được sản xuất (40%): Giá trị của phân khúc sản xuất bao bì
được dự báo sẽ đạt khoảng 180 tỷ USD năm 2011. Tăng trưởng trung bình
4%/năm phụ thuộc vào tăng trưởng của các phân khúc end-products như:
thực phẩm, đồ uống, dược phẩm…,. Đây chủ yếu là các ngành ít bị ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính nên dự báo tăng trưởng phân khúc này sẽ
22
ổn định trong 2011.
Vật liệu xây dựng (20%): Năm 2009-2010, phân khúc này chịu ảnh
hưởng tiêu cực bởi khủng hoảng và cắt giảm xây dựng công tại Mỹ và Châu
Âu - 2 thị trường lớn nhất. Tuy nhiên, nhựa xây dựng được dự báo sẽ phục
hồi trong giai đoạn 2011-2012 với nhu cầu cho ống nhựa thế giới tăng
4.5%/năm lên 8.2 tỷ mét. Tăng trưởng cao nhất sẽ ở các quốc gia đang phát
triển như Trung Quốc (30% nhu cầu thế giới) và Nhật Bản do nhu cầu tái xây
dựng sau động đất. Khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ tuy mức tăng chậm lại nhưng
vẫn là những quốc gia tiêu thụ lượng ống nước nhiều nhất. Dự kiến giá trị sản
phẩm ống nhựa (tỷ trọng lớn nhất) sẽ tăng 6.6% lên 38.6 tỷ USD trong giai

đoạn 2010-2015 tại thị trường Mỹ. [8]
Biểu đồ 3.2. Phân loại hạt nhựa (theo nhu cầu)
Nguồn: Plastics Europe
Phụ kiện xe hơi (7%): Tăng trưởng ở thị trường châu Á trung bình
5%. Dự báo sẽ ảnh hưởng tiêu cực bởi tình hình sóng thần và động đất tại
Nhật Bản, một trong những nước sản xuất phụ kiện ô tô lớn.
Thiết bị điện tử (5.6%): Với nhu cầu cho các thiết bị điện tử như
23
laptop, ti vi, máy in … tăng dần ở Ấn Độ, Đông Nam Á, Trung Quốc, phân
khúc có tiềm năng tăng trung bình 5%/năm.
Biểu đồ 3.3. Cơ cấu sản phẩm từ nhựa
Nguồn: Plastics Europe
2.2.1.2 Xu hướng phát triển ngành nhựa trên thế giới
Các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến xu hướng chung của ngành
Nhựa trong năm 2011 và các năm sau đó gồm có: tốc độ hồi phục của nền
kinh tế thế giới (đặc biệt là ở châu Á), tăng trưởng của các ngành tiêu thụ sản
phẩm nhựa như thực phẩm, xây dựng…, giá dầu và khí gas, chính sách môi
trường của chính phủ các nước, và đột biến về kỹ thuật công nghệ (nếu có).
Tiếp tục tăng trưởng trên 4% trong năm 2011: Tăng trưởng kinh tế thế
giới dự báo ở mức 4.4% năm 2011 bởi IMF (hơn mức 4.2% năm 2010) và các
ngành tiêu thụ sản phẩm nhựa trên thế giới như ngành thực phẩm – 3.5%
(IMAP), ngành vật liệu xây dựng - 7%/năm (PwC), Thêm vào đó, nhu cầu
cho sản phẩm nhựa tăng trung bình 3.8%/năm trong ngành chế biến thực
phẩm, 3.1% trong nhựa cho thiết bị điện tử và 6-8% trong ngành xây dựng
(US) là yếu tố quan trọng đẩy tăng nhu cầu nhựa thế giới năm 2011. European
Plastics ước tính nhu cầu nhựa bình quân của thế giới sẽ tăng trung bình
4%/năm. Theo các chuyên gia, nhu cầu nhựa hiện tăng mạnh nhất ở khu vực
châu Á – khoảng 12-15%. Hiện tiêu thụ nhựa trung bình tại khu vực này vào
khoảng 25 kg/năm, thấp hơn mức trung bình thế giới nên còn nhiều tiềm năng
24

và dự kiến sẽ đạt 40kg/năm từ nay đến năm 2015. Do đó, tốc độ tăng trưởng
của ngành nhựa thế giới từ 2011 trở đi được dự báo sẽ trên mức 4% và cao
hơn tăng trưởng trung bình 3% của GDP thế giới. Trong đó, tăng trưởng cao
nhất thuộc về châu Á với 5%/năm 2011 (IHS), đặc biệt tiếp tục trên 2 con số
tại Trung Quốc và các nước đang phát triển. Như vậy, ngành Nhựa thế giới
đang dần vực dậy nhờ sức đẩy của nền kinh tế và nhu cầu nhựa thế giới nói
chung, và khu vực châu Á cùng các nước đang phát triển nói riêng. [18]
Nhu cầu và giá thành nguyên liệu sẽ tiếp tục tăng trong năm 2011 trong
khi nguồn cung sẽ gặp khó khăn do bất ổn tại Trung Đông: Dự báo nhu cầu
cho hạt nhựa trong năm 2011 và 2012 sẽ tăng mạnh nhất ở châu Á – nơi
tăng trưởng chủ yếu tập trung. Trong đó, ICIS dự báo nhu cầu cho hạt nhựa
PET có thể tăng 41% từ 25 tỷ USD năm 2010 lên đến 36 tỷ USD trong năm
2011. Giá của hạt nhựa tăng đột biến hơn 10% trong Q1 và dự báo sẽ tiếp tục
xu hướng này trong các quý tiếp theo chủ yếu do tăng giá xăng dầu, khí gas
và thiếu nguồn cung. Giá dầu được Goldman Sachs dự báo sẽ tiếp tục tăng
từ trung bình 80 USD/thùng năm 2010 lên 105 USD/thùng năm 2011 và tình
hình bất ổn ở Trung Đông có khả năng kéo dài. Chuyên gia của JP Morgan đã
nhận định giá dầu sẽ tiếp tục tăng và có thể đạt 120 USD/ thùng năm 2012. Vì
vậy, giá hạt nhựa thế giới sẽ tiếp tục biến động theo xu hướng cao dần dẫn tới
tăng giá hạt nhựa và các sản phẩm nhựa trong năm 2011. Trong bối cảnh này,
lợi thế sẽ thuộc về các nước chủ động được nguồn NPL chế tạo và sản xuất
hạt nhựa, và có quy mô sản xuất lớn như Trung Quốc, các nước Trung Đông,
Ấn Độ…
Nhựa tái chế sẽ có tăng trưởng mạnh và bền vững nhất trong thời gian
tới: Thêm vào đó, xu hướng sử dụng và sản xuất nhựa tái chế đang ngày càng
phổ biến với sản lượng tăng trung bình 11%/năm và hiện nguồn cung nhựa tái
chế vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Nhu cầu tái chế nhựa tăng cao một phần là
25

×