Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Giải pháp đẩy mạnh xúc tiến thương mại trong xuất nhập khẩu của Chính phủ cho Doanh nghiệp ở Đà Nẵng - 4 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240.14 KB, 11 trang )

Các nhà XK có thể dễ dàng đạt được các khoản tín dụng cho Xk với lãi suất ưu đãi (thấp
hơn 0.2% sơ với lãi suất cho vay)
 Thành lập quỹ xúc tiến công nghiệp XK (1964-1969)
 Hệ thống bảo hiểm XK (1969)
 Các nhà XK được phép áp dụng các biện pháp trích khấu hao đặc biệt cho
tài sản cố định của mình (xoá bỏ năm 1975)
 Những khuyến khích về mặt thể chế tổ chức:
 Ban hành luật xúc tiến các ngành công nghiệp XK
 Hình thành nên tổ chức XTTM và đầu tư Hàn Quốc _KOTRA (1962)
 Những khuyến khích khác :
Ngoài các biên pháp trên chính phủ Hàn Quốc còn áp dụng các biện pháp khác như
kết hợp xuất nhập khẩu, hệ thống bùđắp hao hụt và thậm chí cả trợ cấp XK trực tiếp, để
thực hiện đẩy mạnh XK.
 Những thành tưu của XTXK ở Hàn Quốc:
Trong thập kỉ 50, mức tăng trưởng của Hàn Quốc hằng năm chỉ đạt mức 4%. Nhưng
từ sau khi bắt đầu thực hiện XTXK tăng trưởng XK danh nghĩa đã nhanh hơn gấp 2 lần,
đạt mức trung bình 9,8% năm. Trong thời kỳ 1963-1969 tốc độ tăng trưởng hằng năm đạt
35%, chủ yếu do tăng XK các mặt hàng công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động như dệt
may, giày dép, dụng cụ thể thao,
3.1. Thái Lan
Nhờ kiên trì thực hiện XTXK và tự do hoá thương mại, trong hơn 40 năm qua, kim
ngạch XK của Thái Lan đã tăng từ 193 triệu USD năm 1957 lên 62 tỷ USD năm 2000, tức
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
là tăng gấp hơn 320 lần. Chính sự phát triển XK ngoạn mục này đã góp phân vào sự phát
triển kinh tế năng động của Thái Lan cho tới trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng 1997.
Cục XTXK Thái Lan (DEP) thành lập vào năm 1952 đã có những đóng góp quan
trọng vào sự tăng trưởng nhanh của kim ngạch XK của đất nước này, DEP hiện có 57 văn
phòng cả ở trong và ngoài nước, với số lượng cán bộ nhân viên là 644 người.
Cơ cấu tổ chức của cục XTXK Thái Lan:


















Ban thư kí Kiểm soát nội bộ
Marketing
ngoaị thương
Phát triển
XK

Xúc tiến
XK

Phòng
phát
triển thị
trư
ờng


Trung
tâm TM
Thái Lan
Viện nghiên
cứu TM quốc
tế
Trung tâm
thông tin TM
quốc tế
Phòng kế
hoạch hoá
XK
Phòng
quảng cáo
và công
cán TM
Phòng dịch
vụ XK
Phòng hoạt
động nội địa
Phòng hoạt
động quốc tế
Phòng TM
khu vực Thái
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

Hình 1.5 Cơ cấu tổ chức của DEP(cục XTXK Thái Lan)
Hoạt động chính của DEP là:
 Dịch vụ thông tin thương mại:
DEP cung cấp các thông tin về thị trường. về sản phẩm về khách hàng nhập khẩu

cho các doanh nghiệp theo yêu cầu. Cung cấp các số liệu thống kê thương mại trên mạng.
Xây dựng mục tin nhanh về XK trên mạng, các trang web thương mại.
 Phát triển nguồn nhân lực cho XK:
DEP tổ chức các cuộc hội thảo về thương mại quốc tế cho các quan chức chính phủ
và giới kinh doanh tư nhân. Mở các lớp đào tạo cơ bản và nâng cao về XK, về phát triển
sản phẩm, phát triển thị trường cho các đối tượng liên quan. Thuê đội ngũ cán bộ giảng
dạy là các chuyên gia cả ở trong và ngoài nước tham gia các chương trình đào tạo.
 Phát triển XK:
DEP tổ chức các cuộc thi và trao phần thưởng về những thiết kế mẫu mã bao bì,
đóng gói sản phẩm. Tư vấn thiết kế mẫu mã sản phẩm. Tổ chức các phòng trưng bày giới
thiệu sản phẩm mới, cập nhật thông tin về xu thế phát triển sản phẩm. Xây dựng hồ sơ các
nhà thiết kế, phát triển sản phẩm,
 Các dịch vụ chuyên môn:
Tổ chức các hội chợ thương mại trong nước và tham gia các hội chợ thượng mại ở
nước ngoài. Mời các đoàn nước ngoài vào tham quan và mua hàng. Tổ chức cho các đoàn
ra nước ngoài khảo sát và bán hàng. Tiến hành các hoạt động tuyên truyền quảng cáo
nhằm mục tiêu XK; đảm nhận vai trò cầu nối giữa các nhà XK và khách hang nước ngoài.
 Kinh phí của DEP:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Kinh phí của DEP được hình thành từ 3 nguồn:
 Ngân sách nhà nước: hằng năm DEP được phân bổ một khoản kinh phí nhất định
từ ngân sách nhà nước cho sự vận hành của cơ quan DEP.
 Quỹ XTTM quốc tế: Quỹ này được hình thành từ việc thu 0,5% trị giá xuất khẩu
năm 1981, lại thu tiếp 0,5% trị giá nhập khẩu CIF năm 1990. Quỹ được dùng để hỗ
trợ các hoạt động : thu thập và xử lý thông tin thương mại; đào tạo cán bộ và cải
tiến mẫu mã sảm phẩm, tổ chức hoặc tham dự các hội chợ triễn lãm, mời và cử các
đoàn vào và ra từ nước ngoài và các hoạt động khác.
 Quỹ đóng góp của khu vực tư nhân.
3.2. Bài học kinh nghiệm:
- Cần tiếp cận XTXK với nghĩa tổng quát là chiến lược phát triển kinh tế hướng về

xuất khẩu:
Trên thực tế, XK đã chứng tỏ là nền tảng để phát triển kinh tế. Nhưng lâu
nay, việc phát triển XK thường không được giải quyết ở tầm quốc gia, ớ các quy
định liên kết và những vấn đề đa khu vực. Việc hình thành chiến lược XK quốc gia
thường được giao phó cho bộ thương mại hay các tổ chức XTTM, chỉ có sự tham
gia tối thiểu của các bộ kinh tế chủ chốt và thiếu sự tham gia của cộng đồng kinh
doanh. Để khắc phục tình trạng này và đảm bảo thành công cho một chiến lược
XK quốc gia, trước hết phải thay đổi cách nhìn đối với XK. Điều này có nghĩa là
XK phải được đặt đúng vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của
một quốc gia với trách nhiệm thuộc về nhiều bộ, ngành giới kinh doanh chứ không
chỉ là bộ quản lý chuyên ngành.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Sự thành công của chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại của Hàn Quốc,
Nhật Bản trước đây là thực tế sinh động chứng minh tính đúng đắn cho cách tiếp
cận này.
Chiến lược phát triển XK phải được chuẩn bị kỹ lưỡng với sự tham gia tích
cực của mọi đối tác liên quan: Nhà nước, các TSIs và các doanh nghiệp.
Kinh nghiệm thực tiễn XTXK của các nước cho thấy rằng một chiến lược XK quốc
gia thành công phải:
Có sự tham gia tích cực và hiệu quả của bộ kinh tế, bộ tài chính, ngân hàng
trung ương, bộ công nghiệp, bộ nông nghiệp, và các nhà xuất khẩu có nhiều kinh
nghiệm.
Có sự liên kết vững chắc với chiến lựơc phát triển kinh tế của quốc gia, đặc
biệt là mối liên kết trực tiếp với chiến lược đầu tư và chiến lược công nghiệp của
quốc gia đó.
Phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế và thị truờng thế giới.
Trong khâu tổ chức thực hiện chiến lược XK quốc gia, các nước hoặc chú trọng
đến việc thành lập một cơ quan điều phối quốc gia hoặc hình thành một tổ chức kỹ
thuật chuyên môn đảm bảo liên kết trực tiếp các cơ quan thương mại với các cơ
quan khoa học kỹ thuật,

Trong điều kiện nguồn lực quốc gia là có hạn, phải xác định đúng đắn một
số ngành công nghiệp XK chiến lược và tập trung mọi nỗ lực của đất nước để phát
triển các ngành này. Kinh nghiệm của các nước đã chỉ ra rằng một chiến lược XK
thành công thường do: Lựa chọn đúng những ngành XK mà đất nước có lợi thế so
sánh; làm tốt công tác dự báo thị trường; kế hoạch và chiến lược XK được điều
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
chỉnh hàng năm phù hợp. Ví dự như: Nhật Bản và Hàn Quốc đã chọn ngành dệt
may làm xuất phát điểm của mình sau đó tiến tới phát triển các sản phẩm công
nghiệp chế tạo ô tô, điện tử như ngày nay.
Chìa khoá để XK thành công là luôn có sức cạnh tranh: Trong điều kiện môi
trường kinh doanh quốc tế ngày càng trở nên toàn cầu hoá, nếu một nền kinh tế,
một doanh nghiệp không duy trì được sức cạnh tranh thì khó có thể tồn tại và phát
triển. Điều này khác với chính sách bảo hộ một chiều, khi mà các nhà nước thực
hiện chiến lược phát triển thay thế hàng nhập khẩu. Có thể nói thách thức lớn nhất
đối với các nước đang phát triển và chuyển đổi nền kinh tế là cạnh tranh XK yếu
cả ở cấp độ nền kinh tế, các doanh nghiệp và các hàng hoá, dịch vụ XK. Trước
thách thức này, chính phủ và các tổ chức phát triển XK, các doanh nghiệp cần phải
tập trung mọi nổ lực để đổi mới, nâng cấp năng lực công nghệ, phát huy sáng kiến,
cải tiến kỹ thuật, không ngừng trao dồi kiến thức, kỹ năng quản lý, để nâng cao
năng lực cạnh tranh, đảm bảo cho XK thành công.
Ngoài ra cũng cần tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế để nâng cao năng lực công nghệ
tức là nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Các tổ chức của liên hiệp quốc như
UNIDO, UNDP, tổ chức thương mại thế giứoi, ITC, các tổ chức XTTM các nước
như JETRO, KOTRA, trong chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đều đề cập tới hỗ
trợ, hợp tác và chia xẻ công nghệ với các nước đang phát triển.
- Sự thành công của XTXK của một nước phụ thuộc vào điều kiện khách quan của
môi trường kinh doanh quốc tế:
Một yếu tố khách quan hết sức quan trọng có ảnh hưởng đến sự thành công của
việc thực hiện XTXK ở một quốc gia, đó là yếu tố môi trường kinh doanh quốc tế.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

Môi trường kinh doanh quốc tế có thể tạo thuận lợi hay gây rất nhiều khó khăn
trong việc thực hiện XTXK của mỗi quốc gia. Ví dụ nền kinh tế thế giới đang ở
trong giai đoạn khủng hoảng về nguyên liệu, lương thực và tiền tệ như hiện nay,
thì tất yếu sẽ làm giảm sức mua của người tiêu dùng, tình trạng lạm phát tăng lên
có tác động rất lớn tới việc tăng XK của một nước. Sở dĩ Nhật bản và Hàn Quốc
thành công trong XTXK những năm 50 đến 70 cũng một phần do các đối tác
thương mại của họ( chủ yếu là Mỹ) không hạn chế nhập khẩu từ các nước.
- Các biện pháp khuyến khích của chính phủ:
Thực tiễn XTXK của Nhật bản và Hàn quốc cho thấy vào thời kì thực hiện
công nghiệp hoá hướng ngoại cho thấy cần phải có những biện pháp chính sách
khuyến khích XK để mang lại thành công cho sự phát triển kinh tế. Bảng tóm tắt
những biện pháp khuyến khích xuất khẩu ở Đông và Đông Nam Á:
Loại chương trình khuyến khích xuất
khẩu
Các chính sách cụ thể
Các biện pháp khuyến khích liên quan
đến đầu vào
Miễn thuế và thuế quan, hoàn trả thuế
đầu vào NK
Trợ cấp cho hao hụt được phép
Giảm giá đối với đầu vào là dịch vụ
công ích
Khấu hao nhanh
Giảm lãi suất, tiếp cận và ưu đãi tín
dụng.
Các biện pháp khuyến khích liên quan
đến đầu ra
Ưu đãi các khoẻn vay dùng cho sản xuất
Miễn hoặc hoàn trả thuế trong nước
Cho phép quyền nhập khẩu gắn với XK

Tín dụng XK. Ưu tiên vay ngoại tệ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Trợ cấp bảo hiểm, vận chuyển hàng hoá.
Trợ cấp XK trực tiếp
Các biện pháp khuyến khích kinh tế vĩ

Chính sách hối đoái
Chính sách tự do hoá thương mại
Các chính sách đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Các biện pháp khuyến khích mang tính
thể chế, tổ chức
Khu chế xuất
Trung tâm thương mại
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Hình 1.6 Khuyến khích XK ở Đông và Đông Nam Á
- Xây dựng một cơ cấu thiết chế xúc tiến xuất khẩu phù hợp:
Kinh nghiệm thực tế của các nước đã chỉ ra rằng, muốn thực hiện chiến lược
phát triển kinh tế hướng về XK, cần phải thành lập một tổ chức XTXK quốc gia
phù hợp trong hệ thống mạng lưới các tổ chức hỗ trợ thương mại của quốc gia. Khi
nghiên cứu các tổ chức XTTM Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan có thế thấy rằng tên
tuổi của JETRO, KOTRA, DEP đã đi liền với thành công trong XK của các nước
đó. Đắc biệt là các TPOs( các tổ chức xúc tiến thương mại) đều là những tổ chức
của chính phủ chứ không phải là của khu vực tư nhân. Lý giải cho vấn đề này như
sau:
 Trước hết, là vì các TPOs này được thành lập để xúc tiến các chính sách
thương mại quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu của chiến lược phát triển
kinh tế và giải quyết vấn đề lợi ích quốc gia.
 Với tư cách là tổ chức của chính phủ thực hiện các chức năng nhiệm vụ
vủa tổ chức để đẩy mạnh XK của đất nước. TPOs được nhà nước tạo mọi

điều kiện và trang bị các nguồn lực cần thiết cho hoạt động XTXK. Điều
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
này khác với các tổ chức tư nhân phải tự tìm kiếm và khai thác các nguồn
lực cần thiết.
 Với tư cách là tổ chức của chính phủ, các hoạt động tham gia thực hiện
chiến lược quốc gia đều có thế nhận được sự khuyến khích hỗ trợ của tổ
chức xuc tiến chính phủ. Kinh phí cho sự vận hành và hoạt động của tổ
chức này rất lớn và chủ yếu do ngân sách nhà nước tài trợ. Trong khi các
hoạt động của tư nhân phải có thu, dựa vào việc cung cấp dịch vụ có phí
mà không phải người hưởng dịch vụ nào cũng có khả năng chi trả.
 Một tổ chức XTXK quốc gia của chính phủ sẽ điều phối dễ dàng và hiệu
quả các hoạt động trong mạng lưới XTTM so với một tổ chức không phải
của chính phủ. Đặc biệt trong điều kiện như Việt Nam hiện nay chưa có
một hệ thống hoàn thiện các tổ chức XTTM.
Bên cạnh các tổ chức XTXK cấp quốc gia của chính phủ còn có các tổ chức
XK chuyên môn khác của cả nhà nước và tư nhân hình thành lên một cơ cấu thiết
chế XTXK của đất nước. Một cơ cấu thiết chế XTXK của Việt Nam có thể gồm
cục XTTM; các tổ chức hỗ trợ chuyên môn khác như các tổ chức tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm XK, các tổ chức vận chuyển, kiểm tra chất lượng, các viện nghiên
cứu, các hiệp hội XK, các phòng thương mại,
- Muốn thực hiện đẩy mạnh xuất khẩu phải đào tạo tốt nguồn nhân lực cho hoạt
động này:
Kinh nghiệm thành công của các nước Nhật Bản hay Hàn Quốc vào những năm
50 hay 60 của thế kỉ XX cho thấy rằng nguồn nhân lực được giáo dục và đào tạo
tốt là yếu tố có vai trò quyết định nhất. Trong điều kiện đất đai có hạn, nghèo về tài
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
nguyên thiên nhiên mà chính phủ của hai nước này đã sớm có chiến lược phát triển
con người, thực hiện các biện pháp chính sách khuyến khích giáo dục và đào tạo
đúng đắn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự chủ về trình độ quản lý và
công nghệ của một quốc gia

Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến xuất khẩu của chính phủ trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng
1. Khái quát tình hình xuất khẩu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2007
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ 9 tháng đầu năm 2007 đạt 568,1 triệu
USD, chiếm 75% so với kế hoạch, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2006. Cả năm 2007
đạt 757,0 triệu USD đạt 100% KH, tăng 23% so với năm 2006. Trong đó xuất khẩu hàng
hoá đạt 361,1 triệu USD, đạt 78,2% KH, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2006. Cả năm
2007 đạt 462 triệu USD, đạt 100% KH, tăng 19,9% so với năm 2006, chiếm tỷ trợng 61%
tổng kim ngạch XK. Xuất khẩu dịch vụ 9 tháng đạt 207 triệu USD đạt 70,2% KH, tăng
12,3% so với cùng kỳ năm 2006. Cả năm đạt 293 triệu USD, đạt 100% KH, tăng 28,3%,
chiếm tỷ trọng 39% (xuất khẩu dịch vụ bao gồm: kiều hối, thu đổi ngoại tệ, du lịch, cung
ứng tàu biển, bán hàng miễn thuế, tạm nhập tái xuất, )
Họat động XK của khối doanh nghiệp: Có thay đổi so với các năm trước, đặc biệt là khối
DN địa phương tốc độ tăng kim ngạch khá hơn so với Dn trung ương và doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp địa phương 9 tháng đầu đạt 119,6% triệu USD đạt 95,7% kế hoạch,
tăng 50,8% so với cùng ký năm trước. Cả năm đạt 154,5 triệu USD đạt 123,6% KH, tăng
37,3% so với năm 2006.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Doanh nghiệp trung ương 9 tháng đạt 136,5 triệu USD đạt 71,5 % KH, tăng 17,9
%. Cả năm đạt 169,5 triệu USD đạt 88,7% KH, tăng 2,6% so với năm 2006.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 9 tháng đạt 105 triệu USD, đạt 71,9% KH,
tăng 22,9%. Cả năm đạt 138 triệu USD, đạt 94,5% KH, tăng 28,3% so với năm 2006.
Kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng chủ yếu:
+ Hàng CN-TTCN: Năm 2007 đạt 367,04 triệu USD, tăng 20,4% là do hàng may mặc
tăng 32%, đồ chơi trẻ em tăng 57,6%%, thủ công mỹ nghệ tăng 20,5%, linh kiện điện tử,
phụ tùng điện tử, mô tơ điện tử tăng 50% ( 10 triệu USD), săm lốp tăng 64%, thực phẩm
ăn nhanh tăng 20%, XK sắt thép tăng lên 315,2% và có thêm nhiều sản phẩm xuất khẩu
mới như : đĩa ĐV, hàng điện tử, thiết bị xe ôtô, lọc gió, lọc dầu ôtô, máy đếm tiền, cần
câu cá, dụng cụ thể thao, giấy các loại,

Tuy nhiên cũng có nhiều mặt hàng có mức độ tăng trưởng chậm như nguyên liệu may
giảm 49,5%, XK giày da các loại giảm
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu năm 2007:
+ Thuỷ sản đông lạnh đạt 20,5 ngàn tấn, đạt 96% kế hoạch. Gía trị đạt 78 triệu USD, đạt
92 % kế hoạch giảm 3 % so với cùng kỳ năm trước.
+ Hàng may mặc đạt 25 triệu sản phẩm, đạt 100 % kế hoạch, bằng 100% về số lượng, giá
trị đạt 141,4 triệu USD, đạt 101% kế hoạch, tăng 27,1%.
+ Giày da đạt 3 triệu đôi đạt 81,1% kế hoạch. Gía trị đạt 21 triệu USD, bằng 70 % kế
hoạch, tăng 0,4% so với năm 2006.
+ Hàng thủ công mỹ nghệ và đồ gỗ gia dụng đạt 34,7 triệu USD, đạt 123,9% kế hoạch,
tăng 34% so với cùng lý năm trước.
+ Cà phê đạt 53 triệu USD, đạt 151,4% kế hoạch, tăng 42,2%.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

×