Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Giáo trình độc chất học part 3 doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (328.29 KB, 18 trang )

37
37
- Những thay đổi gần nhất về sự phơi nhiễm với môi trường (ví dụ: sự di chuyển,
phun chất diệt côn trùng, chất diệt loài gặm nhấm, xây dựng mới, cải tạo các khu nhà cũ, di
chuyển phân…).
* Dữ liệu về khẩu phần ăn, nước uống của súc vật
- Chế độ ăn: Những thay đổi về khẩu phần ăn gần đây (số lần cụ thể có liên quan đến
các triệu chứng đã quan sát được). Sự thay đổi phương thức cho ăn (ví dụ: từ phương thức
cho ăn hạn chế sang phương thức cho ăn tự do). Sự có mặt của các thức ăn ôi thừa và bị
hỏng.
- Nguồn nước uống, thay đổi trong việc cung cấp nước uống.
b. Kiểm tra các triệu chứng lâm sàng.
Bệnh do ngộ độc thường được phân biệt với các bệnh khác do sự đa dạng về các triệu
chứng lâm sàng. Nguyên nhân ở đây là do nguồn gốc, tính chất lý hóa, động học của chất độc,
sự mẫn cảm của súc vật.
Để chẩn đoán ngộ độc cần quan sát các triệu chứng lâm sàng sau:
Bảng 2.2: Triệu chứng lâm sàng thường gặp ở gia súc bị ngộ độc
Mất điều hoà
Tiết nước bọt
Mù/thị giác
Trầm cảm
Vui vẻ
Động kinh
Khản tiếng
Các loại khác (mô tả rõ)
Nôn mửa
ỉa chảy
Phân có máu đen
Ăn nhiều
Khát nhiều
Đa niệu


Khó thở

Vàng da
Chảy máu
Hemoglobin-niệu
Huyết niệu
Kiệt sức
Sốt
Yếu
Ngộ độc cấp thường xảy ra với các triệu chứng liên quan đến các hệ cơ quan: tiêu hóa,
thần kinh, hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu
Những dấu hiệu thường xuyên nhất của ngộ độc đường tiêu hóa là: Tiết nước bọt, nôn,
chướng hơi, ỉa chảy, có thể táo bón với sự biến đổi của phân (chứa chất nhầy, máu ), đau
bụng và đôi khi nổi mề đay.
Các dấu hiệu của ngộ độc thần kinh thường là: tăng quá trình hưng phấn thần kinh
biểu hiện: bồn chồn không yên, trạng thái thao cuồng (có xu hướng di chuyển về phía trước,
chân trước co và đạp mạnh), co giật, thở mạnh, co giật kiểu động kinh và kiểu giật rung
thường quan sát thấy ở ngộ độc chì, atropin, veratrin, anconitin và picrotoxin.
Sau trạng thái co giật (hoặc ngay lập tức) có biểu hiện ức chế, thể hiện tê liệt và liệt.
Các dấu hiệu về hô hấp thường là thở gấp, thở khó, ngạt thở, ho, chảy nước mũi, tím
tái, bồn chồn
Các triệu chứng về tim mạch: mạch nhanh, yếu.
Các triệu chứng về tiết niệu: có hiện tượng đái nhiều, đái dắt, xuất hiện albumin niệu,
huyết niệu, tế bào biểu mô thận trong nước tiểu hoặc bí đái trong một số trường hợp.
38
38
Khi bị rối loạn trao đổi khí, súc vật rất khó thở, mạch nhanh, kết mạc mắt đỏ, co
giật, thân nnhiệt hạ, hôn mê, chết (ngộ độc các sản phẩm thực vật chứa cyano, ngộ độc
nitrat, nitrat ).
Rối loạn đông máu khi bị rắn độc cắn (do độc tố cardiotoxin trong nọc rắn).

Viêm dộp da do chất nhạy cảm quang học chứa trong một số loại cỏ làm thức ăn chăn
nuôi (Fagopyrum vulgare, Fagopyrum esculentum).
Những triệu chứng lâm sàng thường là những thông tin có giá trị được sử dụng để
chẩn đoán ngộ độc. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng cũng chưa đủ để kết
luận về chất gây ngộ độc vì hàng ngàn các chất hoá học khác nhau có thể gây ra những triệu
chứng tương tự ở một số cơ quan nhất định của cơ thể (nói cách khác là cơ quan và mô có thể
có phản ứng tương tự với nhiều chất hoá học khác nhau).
Nhiều bệnh do nhiễm khuẩn, rối loạn nội tiết, rối loạn trao đổi chất gây ra các triệu
chứng giống ngộ độc (ví dụ như nôn, động kinh…).
Sự tiến triển của các triệu chứng lâm sàng cũng có giá trị chẩn đoán trong ngộ độc.
Bác sĩ thú y khi khám bệnh có thể chỉ thấy được một trong các giai đoạn tiến triển của căn
bệnh. Vì vậy cần hỏi chủ gia súc về những triệu chứng khác nếu có.
Thời gian xuất hiện và thời gian duy trì các triệu chứng lâm sàng có thể giúp nhận
dạng một vài chất độc và loại bỏ những chất độc khác.
Tỷ lệ súc vật bị ngộ độc và tỷ lệ chết cũng có thể giúp xác định loại chất độc, sự tồn
tại và hàm lượng của chất độc.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khả năng mẫn cảm của súc vật
với chất bị nghi là gây độc, đó là: (1) Loài gia súc; (2) Tính biệt; (3) Sự tương tác giữa chất
độc với các chất dinh dưỡng, các loại thuốc điều trị hay chất hoá học khác; (4) Stress hay tổn
thương bệnh lý ở cơ quan, tổ chức trước khi bị ngộ độc.
* Tiến triển bệnh
Phụ thuộc vào:
- Ngộ độc tối cấp: ít xảy ra. Xảy ra trong vòng 1 - 2 giờ hoặc thời gian ngắn hơn (acid
silinic, kali cyanit, nitrit)
- Ngộ độc cấp: xảy ra đột ngột, tiến triển nhanh sau khi ăn thức ăn có độc hoặc nhiễm
độc. Gia súc thường bị chết.
- Ngộ độc bán cấp: tiến triển trong vài ngày, sau khi điều trị có thể khỏi, có trường hợp chết.
- Ngộ độc mãn: tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng không rõ, thường xảy ra khi súc
vật bị nhiễm chất độc thường xuyên, kéo dài. Triệu chứng thường là ở đường tiêu hóa hơn là
thần kinh.

* Tiên lượng (prognose)
Tiên lượng của bệnh do ngộ độc được xác định dựa trên mức độ nặng nhẹ của bệnh,
bản chất và liều lượng chất độc cũng như khả năng trung hòa, đào thải chất độc khỏi cơ thể.
- Trong các triệu chứng về thần kinh, triệu chứng kích thích thần kinh được coi là có
tiên lượng tốt hơn là trạng thái trầm uất. Xấu nhất là triệu chứng bại liệt, thường dẫn đến chết.
Co giật không phải lúc nào cũng có tiên lượng xấu.
39
39
- Bản chất của chất độc có ý nghĩa trong việc đánh giá tiên lượng. Loài vật ăn cỏ khi
bị ngộ độc độc tố thực vật thường có tiên lượng tốt hơn ngộ độc các chất độc có nguồn gốc
khoáng hoặc tổng hợp, do khó xác định được lượng các chất này đã hấp thu vào máu và
chúng thường được chậm thải trừ ra khỏi cơ thể (ví dụ, asen, chì, thủy ngân )
- Các triệu chứng niêm mạc dạ dày, ruột xuất huyết nhất là ở súc vật non, suy giảm
hoạt động tim mạch, trụy tim mạch.
- Súc vật bị ngộ độc nhưng nôn được có tiên lượng tốt hơn là không nôn.
c. Kiểm tra các tổn thương bệnh lý
Việc xác định chính xác các cơ quan, mô và các qúa trình trao đổi chất chịu ảnh hưởng
nhiều nhất bởi chất độc là một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán ngộ độc. Đặc tính của các
hệ cơ quan có thể sử dụng để đưa ra những chẩn đoán phân biệt phù hợp với những dấu hiệu
lâm sàng. Các chất độc khác nhau có thể gây những biến đổi đặc trưng ở các cơ quan, tổ chức.
Nếu bệnh súc bị chết, cần mổ khám kỹ và thu thập các mẫu thích hợp. Việc mổ khám
tổng thể xác bệnh súc cần được thực hiện bởi chuyên gia độc chất học và chuyên gia bệnh lý.
Những tổn thương bệnh lý do ngộ độc thường là: viêm dạ dày ruột, gan nhiễm mỡ, hoại tử
giữa tiểu thùy gan, sưng vỏ thận, hemoglobin niệu, tim phì đại, tích nước xoang ngực, phù kẽ
phổi, mắt sưng tấy. Nhiều chất độc gây các tổn thương bệnh lý đại thể và vi thể đặc trưng.
Chất chứa dạ dày, ruột cần được kiểm tra về màu sắc, sự có mặt của cây cỏ, các vật lạ,
viên thuốc, nang thuốc
Các mẫu tổ chức cần được bảo quản trong dung dịch đệm formalin 10% để kiểm tra
bệnh tích vi thể.
Ribac và Gorii dựa vào tác động của chất độc đến các cơ quan của cơ thể và những

biến đổi bệnh lý ở các cơ quan này, chia chất độc thành 6 nhóm:
- Chất độc đường ruột: gồm: hợp chất phosphor, asen, thủy ngân, bari, bismus và
một số saponin, alcaloid (morphin, protoveratrin ) glycoalcaloid (solanin ). Các chất độc
này biến đổi chủ yếu ở ruột già, gan và các cơ quan tiêu hóa khác.
- Chất độc thận: tổn thương chủ yếu ở nhu mô thận. Gồm phosphor, asen, sắt, đồng,
chì, thủy ngân và một số thực vật gây độc.
- Chất độc máu: Máu màu socola: methemoglobin- nitrat, nitrit. Gây hủy huyết
(hemolyse): saponin. Tăng độ nhớt của máu: toxanbumin.
- Chất độc gây dãn mạch, hạ huyết áp: làm tổn thương thành mạch: các muối
bari, asen
- Chất độc xương: gây osteonopoza (thủy ngân), tăng phát triển mô xương (ngộ độc
cấp các hợp chất phosphor, fluor).
- Chất độc da: gây tổn thương da như phosphor, clor, iod, các chất photosensibiliti.
Cần lưu ý là sự phân chia trên đây chỉ mang tính chất tương đối. Chất độc trong các
nhóm trên không phải lúc nào cũng gây ra những biến đổi như đã miêu tả. Đôi khi các chất độc
gây ra những biến đổi bệnh lý rất đa dạng và với mức độ khác nhau ở các súc vật bị ngộ độc.
Biến đổi bệnh lý thường rõ nét trong các trường hợp ngộ độc mạn tính.
- Ngộ độc alcaloid thường đi liền với các biến đổi bệnh lý như: khó thở, các cơ quan ứ
máu, xuất huyết. Khi mổ khám xác định động vật bị ngộ độc, có thể thấy mùi đặc trưng.
40
40
d. Các xét nghiệm cơ bản cần thiết
Các xét nghiệm cơ bản giúp phát hiện mức độ huỷ hoại đặc trưng đối với các cơ quan,
tổ chức, góp phần xác định chất gây độc và định hướng trong điều trị. Các xét nghiệm này
bao gồm:
* Các xét nghiệm máu: (1) Các chỉ tiêu sinh lý máu: Số lượng hồng cầu, bạch cầu,
công thức bạch cầu. Tốc độ máu đông (prothrombin time- PT, thrombopastin time - PTT); (2)
Các chỉ tiêu sinh hóa máu: hoạt độ một số enzym như SGOT, SGPT, choliesterase Điện
giải máu (canxi, magiê, kali, natri). pH máu, độ kiềm dự trữ trong máu, độ thẩm thấu huyết
tương (osmolality)

* Các xét nghiệm nước tiểu: huyết niệu, bilirubin, hemoglobin, trụ niệu và oxalat.
Ngoài ra trong những điều kiện cho phép cần triển khai:
* Điện tâm đồ: trong ngộ độc những chất gây rối loạn nhịp tim như digitalis, quinidin,
ngộ độc củ ấu Tàu, trứng cóc, lá ngón
* Chụp X quang phổi: ngộ độc các chất gây phù phổi, xẹp phổi.
* Các xét nghiệm độc chất
Phân tích chất độc bao gồm các xét nghiệm về:
- Thực vật: xác định loại thực vật gây độc.
- Nấm: Xác định sự có mặt của nấm mốc gây độc và độc tố của chúng.
- Vi khuẩn: Xác định sự có mặt của vi khuẩn gây độc và độc tố của chúng.
- Phân tích hóa nghiệm: Xác định chất độc trong thức ăn, nước uống, trong chất chứa
dạ dày, dạ cỏ, diều (gia cầm), dịch ruột, một số cơ quan nội tạng như gan, thận
- Sinh học: cho súc vật ăn những thức ăn nghi có nhiễm chất độc, xác định độ gây độc
của thức ăn bằng một số phương pháp trong độc chất học.
Sự có mặt, hàm lượng của chất độc, độc tố hay dạng chuyển hoá của nó trong các tổ
chức thường là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định ngộ độc.
Để chẩn đoán ngộ độc, các phân tích hoá nghiệm không nên sử dụng độc lập vì một số
lý do sau:
- Hàm lượng hoá chất độc phát hiện thấy trong mô thường tương thích với tình trạng
ngộ độc; tuy nhiên, một số hoá chất gây ngộ độc nhưng lại có mặt trong tổ chức ở hàm lượng
rất thấp (dưới giới hạn kiểm tra).
- Một số chất hoá học (ví dụ như các hợp chất phospho hữu cơ) có thể gây ngộ độc mà
không phát hiện thấy trong mô bằng các phương pháp phân tích thông thường.
- Một số hoá chất độc có thể tích luỹ với hàm lượng cao ở một số mô nhất định mà
không gây ngộ độc (ví dụ: hợp chất clo hữu cơ tích lũy trong mô mỡ ).
- Sự kết hợp của chất độc với các tác nhân hoặc chất dinh dưỡng khác có thể làm giảm
hoạt tính chất độc lưu giữ trong mô (ví dụ như thuỷ ngân có thể kết hợp với selen và protein
tạo thành một phức hợp lưu trữ trong mô mà không gây độc).
* Các phương pháp xét nghiệm độc chất hiện nay bao gồm:
41

41
- Sắc ký lớp mỏng: chủ yếu định tính chất độc. có thể phát hiện hầu hết các chất gây
độc thông thường như thuốc trừ sâu (PPHC, clo hữu cơ), thuốc diệt chuột, thuốc ngủ, các chất
độc trong cây (alcaloid, glycosid)…
- Các máy quang phổ khối, sắc ký khí, sắc ký lỏng hiệu năng cao… có thể định lượng
nồng độ chất độc, tuy nhiên chỉ một số phòng thí nghiệm hiện đại mới được trang bị những
máy này.
1.3. Lấy mẫu cho các xét nghiệm chẩn đoán ngộ độc
a. Các nguyên tắc lấy mẫu kiểm tra ngộ độc
* Các mẫu bệnh phẩm: Khi lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm, cần lưu ý:
- Máu là môi trường chính để vận chuyển chất độc trong cơ thể.
- Lấy mẫu chất nôn hoặc phân khi súc vật bị ngộ độc qua đường tiêu hóa. Một số chất
độc được đào thải qua phân.
- Nước tiểu là đường chính bài tiết nhiều chất độc, độc tố.
- Da và tóc rất quan trọng đối với các trường hợp phơi nhiễm với chất độc qua da.
Trong tóc tích luỹ kim loại và một số hợp chất hữu cơ gây độc mạn tính.
* Các cơ quan quan trọng cần phải lấy mẫu để xét nghiệm chất độc:
- Gan là cơ quan chính tham gia chuyển hoá và bài tiết chất độc.
- Thận là đường bài tiết quan trọng đối với nhiều chất độc.
- Dạ dày và ruột non phản ảnh ngộ độc do mới phơi nhiễm với chất độc qua đường
miệng nhưng không quan trọng đối với những chất tích lũy hoặc gây ngộ độc mãn tính.
* Các mẫu từ môi trường: Kết quả xét nghiệm các mẫu môi trường góp phần tìm ra
nguồn chất độc hoặc là những gợi ý về nguồn phơi nhiễm. Các mẫu sẽ bao gồm:
- Những mẫu thức ăn, nước mới được sử dụng.
- Cây cỏ bị nghi là gây ngộ độc.
- Mồi, bả có chứa chất độc.
- Các chất hoá học, thuốc diệt côn trùng, dung môi và các vật dụng mà súc vật có thể tiếp xúc.
- Các loại thuốc có thể gây ngộ độc cho súc vật hoặc gần đây được sử dụng trong trị
liệu.
- Thức ăn, nước, cây cỏ mà động vật đã ăn rất cần thiết cho việc phát hiện các nguồn

gây độc. Một điều quan trọng phải lưu ý là những loại thức ăn đã gây ngộ độc có thể không
còn tồn tại đến thời điểm kiểm tra.
b. Các mẫu bệnh phẩm và mẫu từ môi trường cần thiết cho chẩn đoán ngộ độc
Bảng 2.3: Các mẫu bệnh phẩm và mẫu từ môi trường cần thiết
cho chẩn đoán ngộ độc
Mẫu
bệnh
phẩm
Lượng
mẫu
ý nghĩa chẩn đoán
1. Trước khi bệnh súc bị chết
42
42
Máu 5 - 10 ml Để phát hiện sự phơi nhiễm với hầu hết kim loại, các nguyên tố vi
lượng, chotinesterase, thuốc trừ sâu và glycol ethylene, giúp đánh
giá hình thái hồng cầu và bạch cầu,
Huyết
thanh
5 - 10 ml Xác định chất điện giải, nitơ urê, nitơ ammoniac và chức năng các
cơ quan của cơ thể; các kim loại, thuốc thú y và vitamin.
Nước tiểu 50 ml Phát hiện ancaloit, kim loại, chất điện phân, kháng sinh, thuốc,
sulfonamides và oxalates.
Phân 250 g Phát hiện các chất độc qua đường miệng, các loại thuốc, chất độc
được bài tiết trước tiên qua mật.
Chất nôn 250 g Phát hiện tất cả các loại chất độc đã hấp thụ, đặc biệt là những chất
độc không thể tìm thấy trong mô (phospho hữu cơ, ionophores).
Tóc 5 - 10 g Phát hiện sự phơi nhiễm với các chất diệt côn trùng, sự tích luỹ
mạn tính một số kim loại (ví dụ asen, selen)
2. Sau khi bệnh súc bị chết

Gan 100 g Là nơi xảy ra các phản ứng chuyển hoá chính của cơ thể, nơi tích
luỹ các kim loại, các chất diệt côn trùng có hại, alkaloit, phenol và
một số mycotoxin: Túi mật được dùng để phát hiện ra các độc tố
tập trung trong mật (ví dụ như chì). Mẫu cần được bảo quản lạnh.
Thận 100 g Cơ quan bài tiết chính đối với các chất kháng sinh và các loại thuốc
khác, các chất độc đã qua chuyển hoá, alkaloit, chất diệt cỏ, một số
kim loại, hợp chất phenol, oxalate.
Chất chứa

dạ dày
500 g Xácđịnh các chất độc phơi nhiễm qua đường miệng trong thời gian
gần nhất.
Ch
ất chứa
dạ cỏ
500 g Xác định các chất độc phơi nhiễm qua đường miệng.
Một số chất độc có thể bị thoái biến ở dạ cỏ (ví dụ như nitrate,
độc tố nấm).
Định lượng chất độc khó do có sự khác nhau về nồng độ và thiếu
sự tương quan giữa hàm lượng chất độc trong dạ cỏ với hàm lượng
chất độc trong mô. Mẫu lấy từ vài vị trí trong dạ cỏ và được bảo
quản lạnh.
Mỡ 250 g Phát hiện các chất độc tích luỹ trong mỡ (ví dụ chất diệt cỏ clo hữu
cơ, dioxin)
Dịch mắt Toàn bộ
mắt
Phát hiện chất điện phân (ví dụ natri, canxi, kali, magiê) nitơ
amoniac, nitrat, nitơ urê, hàm lượng kali và urê, sử dụng để dự
đoán thời điểm con vật bị chết.
Tách riêng thuỷ dịch và thuỷ tinh dịch.

Não Toàn bộ
não
Phát hiện một số độc tố thần kinh (ví dụ thuốc trừ sâu clo hữu cơ,
pyrethrin, natri, thuỷ ngân).
Tách riêng não theo mặt cắt dọc và tách nhân đuôi để phát hiện
cholinesterase. Nửa bán cầu não được bảo quản lạnh, 1/2 cố định
trong dung dịch đệm fomalin 10%.
Môi
trường
thức ăn
2 Kg Nên lấy các mẫu đại diện và sau đó trộn lẫn thành một mẫu
hỗn hợp composite hoặc giữ lại các mẫu riêng lẻ (nhằm phát hiện
nguy cơ khác nhau trong thứcăn).
Cỏ xanh,
thức ăn ủ
chua
5 kg Mẫu được từ nhiều vị trí trên đồng cỏ hay trong nhà kho.
Silage nên được xử lý lạnh để tránh bị mốc và hỏng.
43
43
Mồi, bả Tất cả Toàn bộ số mồi, bả và nhãn mác bị nghi gây độc cần giữ lại để xét
nghiệm.
Nước 0,5 - 1lít Phát hiện nitrat, sulphat, kim loại, tảo và thuốc bảo vệ thực vật.
Trước khi lấy mẫu từ giếng hay bể chứa cần để nước chảy làm sạch
ống. Mẫu nước được lấy từ khu vực nghi phơi nhiễm với chất độc và
được giữ sạch đến khi phân tích.
Đất 1kg Mẫu đất được lấy từ độ sâu của rễ nếu thấy có hiện tượng ngộ độc
do cây cối. Mẫu đất lấy từ nhiều vị trí và có sự cố vấn của các nhà
khoa học về nông học và đất.
c. Bảo quản mẫu gửi xét nghiệm

Việc bảo quản mẫu, gửi xét nghiệm là rất cần thiết để có thể tiến hành phân tích một cách
đầy đủ. Các mẫu bệnh phẩm được gửi xét nghiệm kèm theo danh sách mẫu, các phát hiện
trong quá trình chẩn đoán, kết quả mổ khám… (bảng 2.3). Mẫu bệnh phẩm phải được giữ
sạch, không bị hư hỏng. Mỗi mẫu được đựng trong túi nhựa hoặc bình thủy tinh trong riêng
biệt, vô trùng. Các mẫu cần xét nghiệm thuốc trừ sâu, các hợp chất hữu cơ hàm lượng thấp
được đựng trong lọ thủy tinh tốt hơn là túi nhựa.
Việc bảo quản các mẫu bệnh phẩm là rất quan trọng. Hầu hết các mẫu cần được
làm lạnh trừ khi những phân tích cụ thể đòi hỏi cách xử lý khác. Làm lạnh mẫu nhằm
tránh cho các chất độc khỏi bị phân hủy, tránh được sự phát triển của vi khuẩn và nấm
mốc, ngăn không cho cho các tác nhân dễ bay hơi biến mất (ví dụ như amoni hay
cyanide). Tuy nhiên nhiệt độ lạnh có thể ức chế hoạt tính một số men trong các test nhạy
cảm, làm kết quả không chính xác. Vì vậy, nếu có nghi ngờ về biện pháp bảo quản cần sự
tư vấn từ phòng thí nghiệm độc chất học.
Huyết thanh cần được tách khỏi phần máu đông để kết quả phân tích không bị ảnh
hưởng bởi các thành phần khác trong máu.
Trong phân tích độc chất không chỉ xác định sự có mặt của chất độc mà còn phải xác
định liều lượng và mức độ gây độc của các chất độc này.
1.4. Chẩn đoán phân biệt
Để có thể can thiệp và xử lý kịp thời khi súc vật bị ngộ độc do các nguyên nhân khác
nhau, cần chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây độc và chẩn đoán phân biệt với những bệnh
khác. Bệnh do ngộ độc thường có những đặc điểm sau:
- Ngộ độc cấp: Súc vật ốm nặng đột ngột, ốm đồng loạt nhiều con, nguyên nhân không
rõ, khi đã loại trừ những nguyên nhân như cảm lạnh, bệnh truyền nhiễm và thường bị chết.
- Bệnh không lây, mắc bệnh đồng loạt, triệu chứng và các biến đổi bệnh lý của các cơ
quan đều giống nhau, sau khi loại bỏ được nguyên nhân được nghi là gây độc thì bệnh ngừng
lan ngay.
- Xuất hiện các triệu chứng đường tiêu hóa (tiết nước bọt, nôn, ỉa chảy hoặc táo bón,
đau bụng, bỏ ăn ) và các triệu chứng thần kinh (hung hãn kích thích hoặc ủ rũ, co giật, run
cơ, vân động loạng choạng, liệt, hôn mê ).
- Nhiều trường hợp gây vàng da thường là do gan bị tổn thương (ngộ độc các chất

khoáng).
- Thân nhiệt bình thường hoặc thấp hơn, rất ít khi sốt.
44
44
Trong một số trường hợp ngộ độc, mùi đặc trưng của chất độc rất có ý nghĩa chẩn
đoán. Mùi trong hơi thở, hơi chọc từ dạ cỏ hoặc mùi từ chất nôn, nước tiểu Ví dụ
Hexacloran: mùi mốc đặc trưng.
Nếu mổ khám sớm có thể phát hiện thấy mùi ở các cơ quan nội tạng như: dạ dày,
ruột, phổi
Kiểm tra nơi xảy ra ngộ độc, thức ăn còn thừa, những thứ đã bỏ rác, các chất hóa học
gần với súc vật cũng giúp phát hiện được nguyên nhân gây ngộ độc
- Ngộ độc cần được phân biệt với các bệnh truyền nhiễm. Phân biệt được với bệnh
truyền nhiễm là không sốt.
- Các kết quả xét nghiệm về vi sinh vật, ký sinh trùng và độc chất học có giá trị quyết
định để chẩn đoán phân biệt với bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng.
- Các bệnh thiếu dinh dưỡng: không phát hiện thấy các chất độc, đồng thời phát hiện thấy
thiếu thành phần vitamin, khoáng trong thức ăn. Súc vật non thường hay mắc bệnh này. Bệnh thiếu
dinh dưỡng thường ở dạng mạn tính còn ngộ độc trong đa số các trường hợp là cấp tính.
- Khi phát hiện thấy chất độc trong phân, nước tiểu, máu nhưng không xuất hiện các
triệu chứng ngộ độc, chưa thể chẩn đoán là ngộ độc. Chỉ khi cùng với sự có mặt của chất độc
trong các xét nghiệm là các triệu chứng lâm sàng đặc trưng mới xác định là ngộ độc bởi 1 loại
chất độc (ví dụ ngộ độc mạn tính chì, thủy ngân ).
2. Điều trị ngộ độc
Điều trị ngộ độc ở vật nuôi có thể thực hiện theo 3 nguyên tắc: (1) Điều trị nguyên
nhân (Etiologic). (2) Điều trị theo cơ chế sinh bệnh học (pathogenetic). (3) Điều trị triệu
chứng (symptomatic).
Khi súc vật bị ngộ độc cấp phải xử trí và triển khai cấp cứu chống độc càng sớm càng
tốt. Tránh cho súc vật tiếp tục tiếp xúc với nguồn gây độc băng cách di chuyển súc vật khỏi
nơi ô nhiễm. Ngừng ngay cho thức ăn hoặc nước uống nghi có độc. Chủ gia súc và những
người có thể bị ngộ độc khi chăm sóc bệnh súc (ví dụ khi súc vật bị ngộ độc do khí độc trong

chuồng nuôi hoặc da, lông súc vật bám các thuốc trừ sâu, thuốc diệt ngoại ký sinh trùng…).
Các phương pháp điều trị nhằm mục đích:
- Loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể.
- Phá hủy hoặc trung hòa chất độc.
- Điều trị các rối loạn triệu chứng (giải quyết các hậu quả của ngộ độc).
Cần lưu ý là khi đã xuất hiện các dấu hiệu của ngộ độc gây ảnh hưởng đến các chức
năng sống của bệnh súc thì việc điều trị triệu chứng, nâng cao sức đề kháng của cơ thể là quan
trọng nhất và bao giờ cũng được áp dụng trước tiên (trước khi tiến hành các biện pháp loại
trừ hoặc thải trừ chất độc ra khỏi cơ thể).
2.1. Loại chất độc ra khỏi cơ thể
Việc loại chất độc khỏi cơ thể bằng nhiều biện pháp càng nhanh càng tốt nhằm giảm
tối đa sự hấp thu chất độc vàp máu, đồng thời tăng thải chất độc ra ngoài. Đối với súc vật bị
ngộ độc qua đường tiêu hóa, biện pháp này có hiệu quả nhất trong vòng 2 giờ đầu bị ngộ độc,
sau 4 giờ sẽ ít tác dụng.
a. Loại chất độc bám trên da, mắt
45
45
Làm sạch da, lông súc vật bằng nước ấm, xà phòng nếu chất độc bám vào da, lông.
Súc vật lông dài thì cắt bớt. Nếu chất độc bám vào mắt cần phun rửa mắt liên tục bằng nước
sạch hoặc nước muối sinh lý 0,9% từ 10 đến 15 phút. Chất độc là acid hay base cần duy trì
pH= 6,5 - 7,5 sau khi rửa mắt.
b. Loại chất độc qua đường tiêu hóa
* Gây nôn
Xử lý ngay vài phút sau khi súc vật ăn hoặc uống phải chất độc.
Chống chỉ định trong các trường hợp sau:
- Loài gậm nhấm, thỏ, ngựa và súc vật nhai lại hoặc không thể nôn sinh lý hoặc gây
nôn không an toàn và không hiệu quả.
- Bệnh súc bị hôn mê, bị động kinh, co giật có thể bị ngạt thở trong khi gây nôn.
- Bệnh súc bị ngộ độc xăng, dầu hoặc các chất độc bay hơi dễ bị viêm phổi nếu gây nôn.
Biện pháp gây nôn được thực hiện chủ yếu ở chó và lợn, có thể dùng các chất gây nôn sau:

- Siro ipeca: 1 - 2 ml/kg cho chó, mèo - 3 ml/kg. Nếu sau 15 - 20 phút thuốc không có
tác dụng thì dùng liều lặp lại. Nếu sử dụng cùng với than hoạt tính sẽ bị vô hoạt.
- Apomorphin: Tiêm cho chó liều 0,04 mg/kg i.v, i.m; 0,08 mg/kg s.c. Có thể bị nôn
quá mức hoặc triệu chứng ức chế thần kinh. Không dùng cho mèo.
- Nước oxy già 3% cho uống liều 2 - 5 ml/kg thể trọng. Dùng không quá 40 - 50ml/con.
- Xylazin: 1,1 mg/kg i.m có hiệu quả với mèo. Bệnh súc có thể bị ức chế hô hấp.
- Đối với lợn tiêm veratrin (hormotonon, lentin) 0,02 - 0,03 g/kg thể trọng.
- Lấy lòng trắng trứng hoà trong nước lạnh 2-3 quả/1lit, cho vật uống.
* Rửa dạ dày
Nếu không gây nôn được thì phải rửa dạ dày. Đây là biện háp hiệu quả nhất đối với
chất độc dạng lỏng và dạng bột dễ tan. Rửa dạ dày hiệu quả nhất trong 60 phút đầu, nếu chất
độc nhiều và là miéng to có thể trong 2 - 3 giờ đầu sau khi bị ngộ độc vẫ tốt. Khi rửa lấy 250 -
300 ml dịch rửa đầu tiên để phân tích xác định chất độc. Dung dịch để rửa dạ dày có thể là:
- Dung dịch Kali permanganat 1 - 2 %; là chất oxy hóa phản ứng dễ với các chất hữu cơ.
- Dung dịch Natri hydrocarbonat 5 ‰ (nếu ngộ độc bằng acid thì không dùng vì giải
phóng khí CO
2
gây chướng bụng, thủng dạ dày).
- Dung dịch Magnesium oxyd hoặc Magnesium hydroxyd để trung hòa acid dùng
nồng độ 2,5 % (tính cho MgO).
- Huyết thanh mặn đẳng trương: dùng cho mọi trường hợp,
- Rửa dạ dày (ngựa) bằng nước có than hoạt tính 3%, tanin 1% (trong trường hợp ngộ
độc alcaloid).
Những bệnh súc bị ngộ độc acid hoặc base mạnh, strychnin, uống phải chất dầu hoặc
hôn mê sâu thì không rửa dạ dày.
* Hấp phụ chất độc trong dạ dày, ruột
46
46
Than hoạt hấp phụ các chất độc, giảm thiểu tác dụng độc hại. Hấp thụ hầu hết các chất
độc, thuốc, thực ăn có trong dạ dày, ruột non. Có hiệu quả nhất với các phân tử lớn, không

phân cực. Một số chất hấp thụ kém với than hoạt, đó là: sắt, lithium, kali, cyanide, acid muối
và rượu.
Chống chỉ định: Không dùng cho bệnh súc hôn mê, co giật trừ khi có điều kiện đã
được đặt ống nội khí quản và cho thuốc chống co giật.
Liều lượng than hoạt tính: 2 - 5 g/kg thể trọng hòa trong nước theo tỷ lệ 2g/5ml nước.
Theo tài liệu của Nikov: ĐGS: 400 - 700 g, TGS: 30 - 80g/con.
+ Các chất nhuận tràng:
Các chất này kích thích nhu động ruột, thải những chất chưa bị hấp phụ hết bởi than
hoạt, giảm hấp thu chất độc trong ruột và ngăn bị táo bón do than hoạt.
- Magie sulfat và natri sulfat: liều lượng 250 mg/kg pha dung dịch 6 - 10%. Tác dụng
sẽ nhanh hơn nếu cho cùng một lượng nước lớn - dung dịch.
- Sorbitol 70%: Liều lượng 3 ml/kg per. ose.
- Lợn, chó, mèo dùng chất tẩy dầu như dầu thầu dầu, tuy nhiên các chất tẩy dầu chống
chỉ định khi ngộ độc các chất phosphor, santonin, DDT, phosphor hữu cơ hoặc những chất
độc tan trong dầu.
+ Thụt trực tràng:
Nên kết hợp thụt trực tràng với rửa dạ dày, thường dùng dung dịch NaCl 9‰ 1 - 2
lít/giờ.
* Mở dạ dày hoặc mở dạ cỏ bằng phẫu thuật
Trong trường hợp không can thiệp được bằng các biện pháp khác như gây nôn, rửa dạ
dày, hấp phụ bằng than hoạt có thể mở dạ dày hoặc dạ cỏ bằng phẫu thuật. Ví dụ: súc vật
nuốt phải thỏi kim loại đặc biệt là kim loại nặng hoặc nhựa đường, hắc ín, dầu công nghiệp
c. Thải chất độc qua đường khác
* Qua đường hô hấp
Một số chất độc ở thể khí hoặc dễ bay hơi có thể loại nhanh chóng ra khỏi cơ thể bằng
đường hô hấp. Để con bệnh nằm ở nơi thoáng, mát (trừ trường hợp ngộ độc những chất gây
phù phổi: phosgen, clo, SO
2
). Có điều kiện dùng máy trợ hô hấp nồng độ oxy 50 %.
* Qua đường thận

+ Để thải nhanh chất độc ra khỏi cơ thể dùng các chất lợi tiểu, chất gây toát mồ hôi
như liqmor kali acetic, diuretin , dùng pilocarpin ở trạng thái tim phổi bình thường.
- Truyền nhiều dịch, có thể cho dung dịch đường ưu trương, thuốc lợi niệu (nếu không
bị bệnh thận). Chú ý là khi đái nhiều có thể mất chất điện giải Na
+
, K
+
, Cl
-

- Một số chất độc có tính acid yếu thường đào thải nhanh trong môi trường kiềm
(barbiturat) hoặc giảm tác dụng ở môi trường kiềm (phosphor hữu cơ); thường đưa dung dịch
kiềm vào cơ thể bệnh súc nhưng cần theo dõi pH của máu không để vượt quá 7,6 vì nếu kiềm
quá sẽ ức chế hô hấp. Một số chất độc giảm tác dụng trong môi trường acid nhưng trong lâm
sàng giảm pH của máu dễ gây biến chứng nên ít áp dụng để điều trị.
- Trong nhân y dùng phương pháp lọc máu bằng thận nhân tạo. Phương pháp này
nhanh hơn nhưng rất tốn kém.
47
47
* Pha loãng máu
Nếu chất độc đã hấp thu vào trong máu, cần tiến hành các biện pháp làm loãng, trung
hòa và đào thải nhanh chất độc.
Chất độc có thể được pha loãng bằng cách: thải bớt máu (chích máu) ĐGS: 1l
máu/100kg thể trọng. Sau đó truyền dung dịch nước muối sinh lý hoặc glucose hoặc cho súc
vật uống một lượng nước lớn qua ống thông thực quản. Thải bớt máu có chất độc là biện pháp
hiệu quả nhất ở giai đoạn sớm của ngộ độc đặc biệt khi có các triệu chứng thần kinh, tim
mạch và tích nước phổi. Chống chỉ định khi trụy tim mạch (niêm mạc nhợt nhạt, mạch nhỏ,
nhanh, huyết áp thấp). Ví dụ nhiễm độc barbiturat, các chất phá vỡ hồng cầu, như hydro
arsenid hoặc chất độc làm biến đổi hemoglobin (tạo hemoglobin).
Trong mọi trường hợp dùng nước đường ưu trương, có ảnh hưởng tốt đến trao đổi

chất, đến cơ tim, kích thích glycogenase và chức năng giải độc của gan, khả năng kháng độc
của cơ thể càng cao nếu dự trữ glycogen càng cao.
+ Sử dụng vitamin trong một số trường hợp ngộ độc:
B comflex trong tổn thương thần kinh do ngộ độc.
Vitamin K trong tổn thương gan. Vitamin P trong ngộ độc có tổn thương thành mạch
và tăng tính thấm thành mạch (asen, bensol).
Trong hầu hết các trường hợp ngộ độc có nguồn gốc khoáng và các chất tổng hợp, cần
thiết bổ sung vitamin đặc biệt vitamin C và B, tiêm tĩnh mạch kết hợp với glucose.
2.2. Phá hủy hoặc trung hòa chất độc bằng các chất kháng độc
a. Nguyên lý trong điều trị đối kháng
* Định nghĩa chất kháng độc: Chất kháng độc (chất đối kháng-antidot) là những chất
có tác dụng đặc biệt, đối lập với tác dụng của một chất độc.
* Nguyên lý trong điều trị đối kháng
Chất đối kháng thường được sử dụng khi súc vật bị phơi nhiễm với chất độc và có
biểu hiện ngộ độc trên lâm sàng.
+ Lựa chọn chất đối kháng và liều lượng dựa trên:
- Liều lượng được xác định dựa trên liều đã sử dụng cho động vật thí nghiệm hoặc
kinh nghiệm của nhân y.
- Thời gian tác dụng của chất đối kháng sẽ khác nhau phụ thuộc vào thời gian tác dụng
của chất độc.
- Một số chất đối kháng có thể gây độc nếu dùng quá liều hoặc thời gian điều trị quá
kéo dài.
- Hiệu quả điều trị sẽ ngược lại nếu dùng chất đối kháng trong trường hợp không phát
hiện đúng chất gây độc. Vì vậy chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây độc là bước rất quan
trọng để dùng chất đối kháng trong giải độc.
+ Hiệu quả điều trị đối kháng bị hạn chế do:
- Chưa thực hiện sự khử độc (decontamination) ở súc vật bị ngộ độc.
- Liên quan đến loài giống, lứa tuổi súc vật.
48
48

b. Các chất kháng độc (chất đối kháng-antidot) - Cơ chế giải độc
* Các chất đối kháng hóa học
Các chất đối kháng hóa học thường tương tác với chất độc hoặc trung hòa chất độc.
+ Chất đối kháng liên kết với chất độc tạo thành phức hợp không qua được màng tế
bào hoặc làm cho chất độc không gắn được với thụ thể đặc hiệu nữa. Ví dụ:
- Acid dimercaprol và acid dimercaptosuccinic là các hợp chất sulfhydryl liên kết với
kim loại nặng như asen, chì làm chúng không được gắn với thụ thể của chúng.
- Chất càng cua EDTA, deferoxamin, D - penicillamin tạo chelat với kim loại nặng,
tạo thành phức hợp dễ tan trong nước, dễ thải trừ qua nước tiểu.
- Antivenin chống nọc rắn và kháng thể chống digitoxin là các tác nhân miễn dịch gắn
đặc hiệu với nọc độc hoặc độc tố.
+ Chất đối kháng thông qua chuyển hóa:
Một số chất đối kháng tham gia chuyển hóa chất độc thành các sản phẩm ít độc hơn.
Ví dụ:
- Nitrit kết hợp với hemoglobin và cyanid tạo thành cyanmethemoglobin ít độc hơn
cyanid, giải phóng cytocrom oxydase trở lại hoạt động cứu con vật khỏi bị ngạt nội hô hấp.
Dùng khi giải độc các glucozid chứa xit cyanhydric.
- Thiosulfate có nhóm sulfate liên kết với cyanid tạo thành thiocyanate để dễ thải qua
nước tiểu.
* Các chất đối kháng dược lý
Các chất đối kháng này có tác dụng trung hòa hoặc đối lập với tác dụng của chất độc
thông qua các cơ chế:
+ Ngăn chặn quá trình chuyển hóa chất độc thành các sản phẩm độc hơn
Ví dụ: Ethanol và 4 - methylpyrazole (4 - MP) cạnh tranh với alcohol dehydrogenase
ngăn cản sự tạo thành chất trung gian độc hại từ ethylen glycol.
+Làm tăng đào thải chất độc.
Các chất đối kháng trong nhóm này làm thay đổi bản chất lý hóa của chất độc, dẫn đến
làm tăng lọc chất độc qua tiểu cầu thận và giảm tái hấp thu ở ống thận.
Ví dụ: mobibden và sulfate kết hợp với đồng tạo phức hợp dễ tan trong nước và dễ
đào thải qua nước tiểu.

+ Chất đối kháng cạnh tranh thụ thể với chất độc.
Cơ chế tác dụng trong trường hợp này là đối kháng cạnh tranh.
Ví dụ: Naloxon phong bế tác dụng của các opioid thông qua cạnh tranh thụ thể với các
chất độc này.
+ Chất đối kháng phong bế thụ thể của chất độc.
Ví dụ: Atropin phong bế tác dụng của acetylcholin tại synap thần kinh và ở đầu nối
thần kinh - cơ.
+ Chất đối kháng hồi phục chức năng bình thường của cơ thể bị ngộ độc:
49
49
Ví dụ: Trong trường hợp bị ngộ độc nitrit, chất đối kháng là xanh methylen kết hợp
với NADPH (Reduce Nicotinamid Adenin Dinucleotid) để khử ion Fe
3+
của methaemoglobin
thành ion Fe
2+
của haemoglobin, tham gia vận chuyển oxy.
c. Các chất kháng độc thường dùng trong thú y
Acetylcystein: điều trị ngộ độc acetaminophen. Liều cho uống: 140 mg/kg, 70 mg/kg 6
giờ cho một lần, không quá 7 lần. Tương kỵ với amphotericin B, tetracyclin, erythromycin,
ampicillin, nước oxy già.
Amonium molybdat: điều trị ngộ độc đồng ở cừu. Liều cho uống 200 mg/ngày, cho 3
tuần. Nếu ngộ độc cấp tiêm tĩnh mạch 1,7 - 3,4 mg/ngày, tiêm 3 lần cách nhật.
Antivenin: điều trị ngộ độc độc tố nọc rắn, tiêm tĩnh mạch 1 ống, tiêm 1 lần.
Atropin sulfat: điều trị ngộ độc các chất ức chế men cholinesterase (anticholinesterase).
Liều lượng 2 mg/kg: tiêm tĩnh mạch 1/4 liều, tiêm dưới da 3/4 liều. Tương kỵ với thuốc tiêm natri
bicarbonat.
Calci dinatri EDTA (Calci dinatri Ethylen Diamin Tetraacetic Acid): là chất gắp kim
loại nặng, dùng điều trị ngộ độc chì, kẽm. Liều lượng 110 mg/kg/ngày, chia 3 - 4 liều/ngày,
liều đầu tiêm tĩnh mạch, 3 liều sau tiêm dưới da, không dùng quá 5 ngày. Trong nhân y có

dạng ống 500 mg, pha 1 - 2 ống trong dung dịch glucose 30 - 50%, tiêm tĩnh mạch nhiều lần.
Theo Holm và cộng sự, tiêm tĩnh mạch cho ngựa 66 mg/kg. Theo Radeleff: 110 mg/kg cho
bò. (Trích theo Phạm Khắc Hiếu).
Dimercaprol (BAL - British Anti –Lewisite): là chất gắp kim loại nặng, điều trị ngộ độc
asen, thủy ngân, chì và vàng. Liều tiêm bắp trước khi xuất hiện triệu chứng 3 mg/kg, 8 giờ tiêm 1
lần, khi đã có triệu chứng ngộ độc tiêm 6 mg/kg 8 giờ 1 lần, tiêm 3 - 5 ngày. Cần theo dõi chức
năng thận trong quá trình điều trị.
D-Penicillamin: điều trị ngộ độc chì, liều cho uống 110 mg/kg cho 1 - 2 tuần. Khám
lại bệnh súc 1 tuần sau đợt điều trị đầu tiên. Liều điều trị ngộ độc đồng ở chó là 10 - 15 mg/kg
cho uống 2 lần trong ngày, cho hàng ngày.
Ethanol 20%: điều trị ngộ độc ethylen glycol. Tiêm tĩnh mạch cho chó 5,5 ml/kg tiêm 5
lần cách nhau 4 giờ, sau đó tiêm tiếp 4 lần cánh 6giờ. Đối với mèo: 5 ml/kg i.v. 5 lần cách 6 gờ,
rồi 4 lần cách 8 giờ.
Natri nitrit: điều trị ngộ độc cyanid. Liều tiêm tĩnh mạch 22 mg/kg. Có thể dùng natri
thiosulfat 660 mg/kg i.v.
Nước lòng trắng trứng: (hòa tan 6 lòng trắng trứng vào thành 1 lít, có thể thêm chất
thơm cho dễ uống) tạo với kim loại nặng albuminat không tan.Pralidoxim chlorid (2 - PAM):
điều trị ngộ độc thuốc trừ sâu phospho hữu cơ, tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da liều 10 - 15 mg/kg 2 -
3 lần/ngày đến khi khỏi.
Tanin: làm kết tủa alcaloid, glycosid trong các cây độc thành những chất khó tan, khó
hấp thu, dễ đào thải theo phân. Liều cho uống: 5 - 15 g (ngựa), 10 - 25 g (trâu bò), 2 - 5g (bê,
nghé, ngựa non, dê, cừu), 1 - 2 g với lợn, chó 0,1 - 0,5 g.
Vitamin C (acid ascorbic): điều trị ngộ độc đồng ở chó. Liều cho uống hàng ngày 500 -
1000 mg/con. Chống methemoglobinemia ở mèo, liều cho uống 30 mg/kg, 4 lần/ngày.
Vitamin K: điều trị ngộ độc các chất chống đông máu coumarin và indanedion. Liều
cho uống hoặc tiêm dưới da 2 - 5 mg/ngày chia 2 lần, sau đó cho uống 2 - 3 mg/kg/ngày chia
3 lần tiêm 1 tuần.
50
50
Xanh methylen 1 %: Điều trị ngộ độc nitrat, nitrit hoặc chlorat cho nhiều loài gia súc, gia

cầm. Liều tiêm tĩnh mạch 4 - 15 mg/kg; có thể tiêm nhắc lại sau 6 - 8 giờ. Gây methemoglobinemia
hoặc thể Heinz ở mèo. Tương kỵ với chất kiềm, các chất oxy hóa khử.
2.3. Hối sức cấp cứu và điều trị triệu chứng
Trong điều trị ngộ độc cấp, một mặt vì chưa biết ngay chất độc nào (đang chờ kết quả
phân tích), mặt khác chất chống độc không nhiều, con bệnh có thể bị chết vì rối loạn các chức
phận. Vì vậy hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng có vai trò rất quan trọng. Sau đây là
những hội chứng chính do ngộ độc cần được can thiệp cấp cứu và điều trị kịp thời:
a. Điều trị suy hô hấp
Đặt ống nội khí quản, hỗ trợ hô hấp, cho thở oxy hoặc carbogen khi bệnh súc bị khó
thở, ngạt thở. Trường hợp ngộ độc Clo, Brom, phosgen, SO
2
không làm hô hấp nhân tạo.
Nếu bị ngạt do tê liệt men phải dùng xanhmethylen hoặc glutation, chúng sẽ phản ứng với
nước và cung cấp oxy cho cơ thể:
Sau khi làm hô hấp nhân tạo có thể dùng thuốc kích thích hô hấp:
- Ephedrin: tiêm bắp 1- 2 ml dung dịch 3%.
- Amphetamin: tiêm tĩnh mạch 0,01- 0,02 g.
- Theophylin hòa tan: tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da 0,25 g ừ 3 lần/24
h
.
- Lobelin dung dịch 1 % tiêm tĩnh mạch tối đa 0,1 g/ngày.
- Doxapram 1 - 10 mg/kg tiêm tĩnh mạch. Quá liều gây động kinh hoặc bệnh súc rơi
vào trạng thái hôn mê.
b. Điều trị rối loạn nhịp tim
Atropin sulfat, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 0,01 - 02 mg/kg khi ngộ độc hợp chất
phospho hữu cơ, digitalis.
Glycopyrrolat tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 0,005 - 0,01 mg/kg khi ngộ độc carbamat,
phenothiazin,
c. Chống shock
Nguyên nhân shock là do nôn mửa, ỉa chảy, xuất huyết dẫn đến giảm thể tích máu,

giảm cung lượng tim đột ngột do rối loạn nhịp tim: truyền tĩnh mạch dung dịch ringer lactat
hoặc chất thay thế huyết tương.
d. Điều trị triệu chứng thần kinh
Thường là hôn mê hoặc động kinh, co giật. Để giảm co giật tiêm tĩnh mạch diazepam
0,5 mg/kg , tiêm nhắc lại sau 10 - 20 phút. Có thể dùng phenobarbital 6 mg/kg i.v.
Điều trị hôn mê, ức chế thần kinh bằng doxapram, camphora, cafein.
e/ Chống rối loạn nước, điện giải và toan kiềm
Chống mất nước và chất điện giải bằng cách truyền dung dịch glucose 5 % và dung
dịch NaCl. Trường hợp ứ nước (giảm protid máu và Na
+
trong huyết tương) thì không dùng
dung dịch NaCl, dùng đơn thuần glucose.
Điều chỉnh toan kiềm bằng các thuốc sau:
51
51
- Nếu thừa kiềm dùng thuốc lợi liệu nhóm Fonurit như acetazolamid thải kiềm ra nước
tiểu, hoặc bù toan bằng cách truyền dung dịch NH
4
Cl 8,3‰.
- Nếu toan huyết thì truyền dung dịch NaHCO
3
15‰.
f. Chống biến chứng máu
- Ngộ độc nitrit tạo methemoglobin dùng xanhmethylen, tiêm tĩnh mạch 4 - 50 ml
dung dịch 1%.
- Ngộ độc làm máu chậm đông thì truyền tiểu cầu hoặc máu tươi; cho thêm thuốc
nhóm corticoid (ví dụ tiêm tĩnh mạch depersolon).
- Trường hợp tan huyết chủ yếu điều trị bằng truyền máu.
Tóm lại việc cấp cứu ngộ độc nặng là phải điều trị toàn diện bằng hô hấp, tuần hoàn,
thần kinh đồng thời áp dụng các thuốc giải độc đặc hiệu.

Câu hỏi ôn tập
1. Trình bày các bước chẩn đoán ngộ độc ở vật nuôi?
2. Các nguyên tắc lấy mẫu và bảo quản mẫu cho xét nghiệm chuẩn đoán ngộ độc?
3. Chuẩn đoán phân biệt bệnh do ngộ độc với các bệnh khác?
4. Giải thích các biện pháp phòng và điều trị ngộ độc ở vật nuôi?
5. Nêu khái niệm chất kháng độc, cơ chế kháng độc và cho ví dụ
phần b : độc chất học chuyên khoa
Chương III
Các chất độc vô cơ
Nội dung chính của chương: Giới thiệu về nguyên nhân, độc tính, cơ chế gây độc cũng
như những triệu chứng, bệnh tích điểu hình đặc trưng của từng kim loại nặng trên từng loại
vật nuôi. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp phòng trị kịp thời, phù hợp với từng loại chất
độc khi động vật bị ngộ độc kim loại nặng và các chất độc vô cơ khác có lẫn trong môi
trường, thức ăn, nước uống hay dùng thuốc quá liều.
Các kim loại được giới thiệu trong chương bao gồm: Asen, Bari, Cadimi, Chì, Đồng
1. Đại cương
Chất độc vô cơ có khá nhiều, trong số đó nhiều nguyên tố vô cơ là chất nguy
hiểm, gây độc cho môi trường nhưng lại là các nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự sinh
trưởng và phát triển bình thường của sinh vật trên trái đất: cây trồng, động vật nuôi nông
nghiệp và cả con người.
Để thấy rõ mặt tích cực cũng như tiêu cực của các kim loại nặng, nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng, đồng thời giảm bớt thiệt hại, Schwart đã dùng cụm từ "cửa sổ nồng độ -
concentration window" để vạch ra giới hạn nhân tạo giữa 3 mức khác nhau.
- Mức vi lượng cần thiết nhằm duy trì, đảm bảo sự sống.
- Mức nhỏ hơn vi lượng cần thiết (thiếu hụt) gây các rối loạn chuyển hóa cho cơ thể.
52
52
- Mức cao hơn vi lượng cần thiết - nhiễm độc, gây tác dụng phụ.
Như chúng ta đã biết, ngay cả những nguyên tố rất độc như asen, chì, cadimi cũng đòi
hỏi một mức vi lượng cần để duy trì và phát triển cơ thể sống.

1.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm kim loại nặng
Nguyên liệu dùng trong chế biến phân bón cho cây trồng, thức ăn chăn nuôi công nghiệp.
Các hộp kim loại dùng trong bảo quản và chứa đựng thức ăn đồ hộp: dùng hộp chì,
thiếc đựng thức ăn, nếu trong đó là các sản phẩm của động vật có lẫn khí H
2
S sẽ hình thành
chì sulphur mầu đen gây độc.
Kim loại lẫn vào thức ăn trong quá trình chế biến: nấu, nướng, chứa đựng, bảo quản
Do ô nhiễm môi trường, các nhà náy hóa chất thải kim loại độc hại vào môi trường.
Thông qua trao đổi chất, cây trồng, động vật nuôi hấp thụ làm cho mức kim loại độc hại có
trong sản phẩm cao, gây ngộ độc cho người, động vật tiếp theo.
1.2. Tác hại của các kim loại nặng
Gây ngộ độc cấp tính như asen đễ gây chết động vật
Gây ngộ độc mãn tính hay tích lũy như chì dùng trong bảo quản đồ hộp, thủy ngân
Trong bảo quản thức ăn dễ làm hư hỏng, giảm giá trị dinh dưỡng của thực phẩm như
chỉ cần một lượng nhỏ muối kim loại cũng đủ để phân hủy các vitamin C và B
1

2. Ngộ độc các chất độc vô cơ
2.1. Ngộ độc kim loại nặng
a. Asen (As)
* Nguyên nhân gây ngộ độc
Asen kim loại là chất có mầu xám, ra ngoài không khí bị oxy hóa thành asen tryoxit
As
2
O
3
rất độc gọi là thạch tin. Đốt cháy có mùi tỏi. Asen được phân bố rộng khắp thiên nhiên,
thức ăn, nước uống, trong cơ thể động vật, thực vật, nhất là các loài nhuyễn thể. Liều thấp nó
được coi là nguyên tố vi lượng dùng kích thích tiêu hóa, tăng tích lũy, lông mượt, da bóng,

tăng trọng nhanh, cơ xương phát triển
Asen liều cao rất độc, nó được đưa vào cơ thể động vật thông qua các đường sau:
- Rau, cỏ, sản phẩm nông nghiệp bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật như: đồng asenat,
chì và canxi asenat trị nấm, côn trùng nông nghiệp.
- Các chất kích thích tăng trọng có bổ sung thêm nguyên tố vi lượng trong thức ăn
công nghiệp của thú nuôi.
- Các a xit kakodylic, kakodylat - hợp chất hữu cơ của asen có hóa trị 3 hay 5 dùng trong y
học, thú y để phòng, trị bệnh giang mai, sốt rét định kỳ, lỵ amip, ký sinh trùng đường máu
- Sử dụng nước ngầm ở vùng đất bị nhiễm asennic thiếu sự quan tâm kiểm tra.
Nguyên nhân gây ngộ độc cấp tính
Ngộ độc cấp tính asen do uống nhầm thuốc, dùng thuốc quá liều (tiêm tĩnh mạch các
hợp chất hữu cơ của asen trị ký sinh trùng đường máu), do đầu độc, thức ăn bị nhiễm asenic
Nguyên nhân gây ngộ độc trường diễn:
53
53
Trên lâm sàng ta hay gặp hiện tượng ngộ độc trường diễu do tích lũy asen từ cỏ, rau
xanh, các sản phẩm nông nghiệp Con vật có biểu hiên triêu chứng kém ăn, tiêu chảy, gầy
còm, rụng lông, da khô hay có thể bị eczema.
Dùng thuốc chứa các dẫn xuất của asen trị bệnh trong thời gian dài hay gặp ở chó
nhập ngoại, trâu, bò ngựa bị ký sinh trùng đường máu
Động vật ăn thức ăn xanh: cỏ, củ, rau quả chứa nhiều dư lượng thuốc trừ sâu. Cỏ mọc ở
vùng đất bị nhiễm asen nặng. Ăn cỏ quanh nhà máy sản xuất, chế biến các hợp chất của asen
ở người, ngộ độc trường diễn do tích lũy asen là kết quả bệnh nghề nghiệp bị nhiễm
asen từ quá trình chế biến công nghiệp.
Hiên nay với người, nhà nước đã có qui định hàm lượng asen tồn dư cho phép trong
củ, quả, rau xanh tối đa 1,4 ppm.
Các hóa chất dùng trong công nghệ chế biến thực phẩm không được phép nhiều hơn
3ppm. Nếu như các nhà sản xuất, chế biến thực phẩm thực hiện nghiêm ngặt qui định trên của
nhà nước, lượng asen hàng ngày người nhận được từ 0,025 - 0,033 mg/kg thể trọng. Liều tối
đa asen có thể nhận được hàng ngày ở người 0,05 mg/kg thể trọng. Tiêu chuẩn châu âu

(1999/29/E.C ngày 29/4/1999) cho phép hàm lượng asen có trong thức ăn hỗn hợp của mọi
loại động vật trừ thủy sản là 2 mg/kg.
* Độc tính: Liều LD
50
của natri aseniat cho uống là 42 mg/kg, còn dạng trioxid asenic
là 385 mg/kg. Liều gây độc của trioxid asenic gấp 3 - 10 lần so với natri aseniat. LD
50
khi
tiêm bắp cho chuột natri aseniat là10 - 12 mg/kg; gia cầm cho ăn 0,01 - 0,1 g; lợn, chó 0,05 -
0,1 g; dê 0,2 - 0,5 g; trâu, bò, ngựa 1,0 - 4,0 g/con. Liều độc và liều gây chết của asen cách
nhau tương đối xa trên cùng loài vật tùy theo dạng asen vô cơ hay hữu cơ.
Bảng 3.1: Liều gây chết của asen vô cơ (As
2
O
3
) trên động vật
Liều gam/con
Loại động vật
Uống Bôi vết thương
Ngựa 10,0 - 15,0 2,0
Đại gia súc có sừng 15,0 - 20,0 2,0
Tiểu gia súc có sừng 5,0 - 10,0 0,2
Lợn 0,5 - 1,0 0,2
chó 0,1 - 0,2 0,02
Với người liều 0,06 gam đã có biểu hiện độc, liều 0,15 gam/người sẽ bị chết
Thực tế asen được hấp thu qua da, vết thương thấp hơn nhiều so với qua đường tiêu
hoá. Nhưng nồng độ gây trúng độc do lượng asen hấp thu qua da và vết thương lại xuất hiện
sớm và thấp hơn nhiều so với liều qua đường tiêu hoá khoảng từ 10 - 15 lần.
* Động học
Các chế phẩm của asen đều tan trong nước, lipid, nên dễ hấp thu qua ống tiêu hóa,

tập trung nhiều trong gan, thận. Khi bị trúng độc, triệu chứng đầu tiên hay gặp là các biểu
hiện bệnh lý trên đường tiêu hóa, gan và thận. Asen còn được tích lũy nhiều trong xương
và các tổ chức đã hóa sừng: lông, móng, sừng Da bị tổn thương và niêm mạc đường hô
54
54
hấp cũng hấp thu được asen. Phần lớn được thải trừ qua mật, phần còn lại thải qua thận,
phổi, sữa và tuyến mồ hôi.
* Cơ chế
Hiện nay vẫn chưa xác định rõ được cơ chế tác dụng của asen. Khi vào cơ thể tùy
dạng bào chế, tùy cơ địa, asen có thể chuyển từ hóa trị 3 sang hóa trị 5 và ngược lại. Do vậy
tác dụng của asen có lúc là khử oxy, có lúc lại oxy hóa. Liều ít, asen lại thúc đẩy hoạt động
của men trong tế bào.
Trong cơ thể nó kết hợp với nhóm - SH của men oxy hóa nên giảm quá trình đồng
hóa. Khi asen có hóa trị 3 dễ kết hợp với cystein tạo phức tác dụng như chất xúc tác quá trình
oxy hóa mạnh hơn cystein, với liều cao, quá trình này lại bị ức chế.
Asen làm giãn mao quản, nhất là vùng đầu và ruột, nên sẽ cải thiện được tuần hoàn,
tăng sự hấp thu. Liều cao gây liệt mạch quản, nôn, tiêu chảy ra máu, viêm, hoại tử ruột. Asen
rất độc với hệ mao mạch do làm liệt thần kinh vận mạch và tác dụng trực tiếp đến cơ trơn của
thành mao mạch. Ngoài mao mạch đường tiêu hóa, mao mạch thận (quản cầu, ống thận đều
bi giãn) cũng bị phá hủy, tổn thương. Vật bị tụt huyết áp rất nhanh, đặc biệt trên chó.
Với hệ thần kinh, asen có tác dụng ức chế thần kinh. Nếu nhiễm độc kéo dài gây viêm
thần kinh và tủy sống.
Trên hệ tuần hoàn do hệ thống tạo máu bị phá hủy dẫn đến thiếu máu, giảm bạch cầu.
* Triệu chứng: Ngộ độc asen thường ở 2 dạng:
* Dạng cấp tính: Ngộ độc asen thường ở 2 dạng:Tùy liều lượng, tủy loại vật mà các biểu
hiện trúng độc sau 30 phút hay hàng ngày. Nếu tiêm tĩnh mạch nhầm thuốc, quá liều vật suy yếu,
tim nhanh, mạch yếu, thở hổn hển, đồng tử rãn, chết rất nhanh trong vòng 1 - 10 giờ.
Với chó triệu chứng xuất hiện sau 2 - 3giờ, trâu bò có thể 20 - 30 giờ. Động vật chảy
nước dãi, nước bọt, nước mũi nhiều, khó nuốt, khát nước, nôn ọe (chó, mèo, lợn). Sau đó
đau bụng dữ dội, nôn ra máu, nặng có thể nôn ra máu tươi, tiêu chảy phân màu cà phê dữ

dội, có khi ra máu tươi. Động vật khát nước, suy kiệt do mất nước và điện giải, tụt huyết áp,
hôn mê sau liệt mà chết khoảng 1 - 5 ngày. Bệnh nặng có thể chết đột ngột do trụy tim
mạch, tụt nhiệt độ.
* Dạng mạn tính: Triệu chứng toàn thân: do mao quản dưới da bị tổn thương dẫn đến
các bệnh lý trên da eczema, rụng lông, hoàng đản Động vật chán ăn, tiêu chảy phân lẫn máu
do bị viêm dạ dày ruột. Động vật bị suy dinh dưỡng, thiếu máu, xác gầy còm, sau bị tê liệt,
viêm khớp. Con cái có thể bị xẩy thai.
* Bệnh tích
Bệnh tích đường tiêu hóa ở thể cấp tính rất rõ: mạch máu dãn to, viêm dạ dày - ruột nặng;
gan, thận xưng to, xuất huyết lấm tấm. Với gia cầm bị viêm, xuất huyết dạ dày cơ, dạ dày tuyến.
Dạng mạn tính: xác gầy, lông sơ xác, phù thũng dưới da, niêm mạc miệng vàng do bị
hoàng đản. Gan, thận bị thoái hóa. Niêm mạc đường tiêu hóa bị viêm, phu thũng, nhất là dạ
dày và ruột non. Vật thiếu máu đẳng sắc, giảm bạch cầu hạt.
* Điều trị
Thể cấp, trước tiên gây nôn để tống hết thức ăn có chất độc ra ngoài (với dạ dày đơn:
chó, mèo, lợn). Sau đó cho uống than hoạt, đất sét trắng (cao lanh) để hấp phụ asen. Hay rửa
dạ dày với nước lòng trắng trứng. Trung hòa chất độc bằng cách cho uống dung dịch
magieoxit, natri thiosulphats. Nếu vật không bị tiêu chẩy cho uống thuốc tẩy magiesulphát

×