Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Phú chữ Hán, những đóng góp mới của Ngô gia cho thể loại _2 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (193.8 KB, 5 trang )


Phú chữ Hán, những
đóng góp mới của Ngô
gia cho thể loại





Phú chữ Hán, cũng như thơ chữ Hán, vào Việt Nam rất sớm. Hiện tại bài
phú sớm nhất còn được sách vở biết đến là Bạch vân chiếu xuân hải của Khương
Công Phụ làm từ đời Đường. Nghệ thuật bài phú đã rất điêu luyện, Lê Quý Đôn
phải khen là “văn chương đẹp đẽ”. Đến đời Lý, phú đã được đưa vào chương trình
thi, các triều đại sau cũng vậy. Tuy nhiên các bài phú tồn tại đến ngày nay và có đời
sống văn học hầu hết là phú ngoài trường thi và những bài hay nhất thường là
những bài sáng tác theo cảm hứng, như Bạch Đằng giang phú, Ngọc tỉnh liên phú,
Thiên Hưng trấn phú. Đến thế kỷ XV, thời Lê sơ phú đạt đến đỉnh cao, là thời hưng
thịnh nhất của phú chữ Hán Việt Nam. Sau đó từ thế kỷ XVI-XVII trở đi là thời kỳ
sút kém của phú chữ Hán. Có nhiều cách lý giải. Có người cho rằng sau thời Hồng
Đức xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng loạn lạc, kẻ sĩ vừa “phân tâm” vừa không có
nhiều thời gian “chạm trổ chữ nghĩa”, phú tuy vẫn được sử dụng trong thi cử nhưng
do điều kiện “ra đề hạn vận” bó buộc sự sáng tạo nên ít có bài hay. Thêm nữa do
ảnh hưởng của kinh tế thị dân, thị hiếu của văn nhân cũng bị cuốn theo những thể
loại mới hấp dẫn hơn như ký, truyện chương hồi, ca ngâm. Nhưng có lẽ còn một
nguyên nhân sâu xa nữa, bởi bản chất của phú là “phô bày, trình bày vẻ đẹp của văn
chương, lấy sự vật để nói chí” (Lưu Hiệp - Văn tâm điêu long - Thuyên phú)
(1)
, rất
thích hợp cho việc tụng ca. Thời Trần, thời Lê sơ là giai đoạn anh hùng của lịch sử
dân tộc, đem lại nhiều cảm hứng hào sảng cho văn nhân, phú phát triển, đạt được
thành tựu rực rỡ chính vì lẽ đó. Thế kỷ XVI, XVII, trên văn đàn phú chữ Hán thưa


thớt, cũng có bài được coi là một tuyệt tác như Phi Lai tự phú của Nguyễn Đăng,
nhưng nhìn chung, quả thực phú có phần rơi vào tình trạng bế tắc. Có người còn
nhận định rằng sau thế kỷ XV phú chữ Hán đi dần đến bước cáo chung
(2)
.

Tuy vậy,
dù không còn tâm thế và điều kiện để gọt giũa những áng văn giàu tính tụng ca,
ngôn từ khoa trương, hùng hồn, lộng lẫy, đòi hỏi nhiều chữ nghĩa, nhưng các danh
sĩ Việt Nam cũng không phải đã không còn bị “ma lực” của vẻ đẹp thể loại hấp dẫn.
Và các tác gia dòng Ngô Thì có lẽ tiêu biểu cho xu hướng ấy. Phú là một thành tựu
đặc sắc của Ngô gia, nếu làm tổng tập phú của dòng văn này thì chỉ trong khoảng
dăm chục năm, từ Ngô Thì Sĩ đến Ngô Thì Điển, ba thế hệ nhà văn Ngô Thì đã sáng
tác đến khoảng 50 bài phú, người nhiều nhất là Ngô Thì Nhậm 16 bài, Ngô Thì Du
11 bài. Đó là con số đạt gần đến kỷ lục của thời Lê sơ. Điều đặc biệt là trên phân
nửa tác phẩm đó được viết khá đều tay, nhiều tác phẩm có giá trị mỹ cảm cao.
Trong Ngô gia văn phái không thấy lưu giữ những bài phú làm trong trường thi, chỉ
có một số bài được viết theo “đơn đặt hàng” của chúa, ví như bài Quan phu tử
phú, Xuân hạ thu đông phú của Ngô Thì Sĩ. Riêng bài Quan phu tử phú được sáng
tác trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Trịnh Doanh triệu tập các văn thần vào phủ
chúa ra đề cho sáng tác, không rõ trong bao nhiêu thời gian, nhưng đêm khuya, Ngô
Thì Sĩ hai ba lần được chúa sai gia thần mang ban hoa quả và bảo viết được đoạn
nào cứ dâng lên để chúa thưởng lãm, không cần chờ toàn bài. Thực ra Quan phu tử
phú không xuất sắc bằng những bài được viết bằng cảm hứng như Tây Hồ phong
cảnh phú, Nhị Thanh động phú , nhưng điều Trịnh Doanh quan tâm có lẽ là cách
đánh giá của Ngô Thì Sĩ về Quan Công và có thể cả cách viết uyên áo, chữ nghĩa kỹ
càng Ngô Thì Du, Ngô Thì Hoàng về sau cũng có một số bài viết theo chủ đề răn
giới, tụng ca như Huấn tử phú, Tư hiếu phú, Đại nghĩ Sơn Nam trấn đường công
thuật thế đức phú,nhưng đó không phải là con đường chính yếu của phú Ngô gia.
Như quan niệm về văn, chú trọng tiêu chí giản dị, coi trọng tình cảm cá nhân, phú

của Ngô gia không chuộng “điêu trùng tiểu kỹ”, ít bài thể hiện chức năng phúng
gián, tụng ca, khoa trương cách điệu mà trữ tình, tả thực, đôi khi xen lẫn cả hồi ức
mang tính chất ký. Các nhà văn Ngô gia thường gửi gắm tâm tư tình cảm thực và cả
hoài bão của mình trong phú. Do vậy phú của Ngô gia giàu sắc thái trữ tình, đậm
dấu ấn cá nhân, đó là nét đặc sắc mà Ngô gia đem lại ít nhiều cho nghệ thuật của
phú, cũng có thể nhờ vậy mà tạo nên sự hấp dẫn mới cho phú chữ Hán. Khởi đầu xu
hướng ấy là Ngô Thì Sĩ với bài Tây Hồ phong cảnh phú và Nhị Thanh động phú.
Đọc phú của Ngô Thì Sĩ có thể thấy rõ sự suy tư và tấm lòng một vị quan chức dành
cho dân chúng, cho công việc, cũng thấy rõ cái tình, sự đam mê của một nhà nho tài
tử dành cho thiên nhiên đất nước. Trong sự ngắm nhìn của Ngô Thì Sĩ, mọi cảnh trí
Hồ Tây đều được lồng trong không gian khói sóng mơ màng, mang một vẻ đẹp vừa
trần thế vừa tiên cảnh:
Uông dương tứ triệt;
Hoàn lạo song nghi.
Hoa trúc sâm si yên ngoại tự;
Phong đôi ẩn ước thủy biên ly.
Bái cự nhuận ư Hoàng đô, dục lộ miên âu thiên khoảnh tú;
Bão hồng đào ư thiên hạm, thôn ngưu thổ phượng thập phân kỳ.
[ ] Diệc hoặc:
Ba bình tố luyện;
Vụ tễ hàn đường.
Trấn Quốc chi liên hoa thập trượng;
Nghi Tàm chi tang diệp bách khuông.
Ngư lang tế vũ chi chu, tần đinh thướng há;
Mục thụ tà dương chi địch, hòa lũng đê ngang.
(Tây hồ phong cảnh phú)
(Nước mênh mang tứ phía,
Sóng dào dạt quanh bờ;
Trúc hoa thấp thoáng chùa ngoài khói;
Chòm góc lô xô đá vệ hồ.

Làn nước cả tưới hoàng đô, đẹp nghìn khoảnh âu nằm cò tắm;
Dải sóng cồn quanh thiên hiểm, lạ mười phần phượng hấp trâu hô.
[ ] Lại như:
Sóng im màu lụa bạch;
Đầm lạnh ngút mù tan.
Chùa Trấn Quốc sen tươi, hoa cao chục trượng;
Bãi Nghi Tàm dâu tốt, lá hái trăm làn.
Thuyền ngư phủ lướt mưa bay, bơi rẽ bè rau lên xuống;
Sáo mục đồng tung bóng xế, thổi ran lũng lúa mau khoan)
(3)

(Tham Tuyền dịch)
Bài Tây Hồ phong cảnh phú dường như để lại nhiều gợi ý cho bài Tụng Tây
Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng sau này, còn bài Nhị Thanh động phú thì tình yêu
và con mắt “tri kỷ” của quan Đốc trấn đối với núi rừng đã thức tỉnh ý tình cả một
giới quan chức trong vùng đối với quê hương:
Phiên tướng các khỉ (khởi),
Trì bôi tửu dĩ thọ cư sĩ ,
Tự ngôn biên thú, sinh trưởng thế thế;
Vị thức thử sơn, hữu thử thú trí.
Tạo hoá chi tàng, đương dĩ đãi nhân;
Trí nhân giả lạc, khởi vi vô ý.
(Các vị phiên tướng đứng dậy, nâng chén chúc thọ cư sĩ,
Tự nói “Ở biên giới đây đã nhiều thế hệ;
Chưa biết núi này có cảnh đẹp thế.
Con tạo cất dấu dành để đợi người;
Nhân trí cùng vui, há không có ý!”)
(4)



×