Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Giáo trình thực vật có hoa part 9 pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (890.98 KB, 15 trang )



122
biệt hóa hàng chục triệu năm và sau đó đã trải qua một vụ nổ bức xạ lớn vào đầu Crêta. Từ đó 8 mắt
xích chính của cây có hoa đã xuất hiện và nay được coi như là 8 lớp.
Trên cơ sở các dẫn liệu đã nêu ở trên, dù sự phân chia hiện nay có tách nhỏ nhưng kỳ thực sự gián
đoạn giữa các nhóm không được rõ ràng, nhưng sự thống nhất cao giữa 4 hệ thống của Cronquist
(1968, 1981), của Stebbins (1974), của Takhtajan (1970, 1997) và của Heywood (2001) vì vậy chúng
tôi theo sự phân chia cây có hoa gồm 2 lớp: Hai lá mầm có 6 phân lớp và Một lá mầm có 5 phân lớp.
Các đặc điểm chính để phân biệt hai lớp được chỉ ra trong bảng sau:
Bảng so sánh các đặc điểm hình thái và giải phẫu của lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm
Đặc điểm Hai lá mầm
Dicotyledoneae
Một lá mầm
Monocotyledoneae
Lá mầm 2 (ít khi 1, 3, 4) 1
Lá Có gân rõ, mép tự do Có gân song song hay hình
cung
Tượng tầng Luôn luôn có Vắng
Bó mạch sơ cấp Tạo thành vòng, bó hở Rải rác, > 2 vòng, bó kín
Hạt phấn Ba rãnh (1 chỉ ở họ nguyên
thủy)
Một rãnh
Thành phần hoa (trừ bộ nhụy) Năm hay bốn Ba ít khi bốn
Rễ Rễ cọc và rễ phụ Không rễ cọc, rễ chùm
Dạng sống 50% cây gỗ 10% cây gỗ chủ yếu ở cau dừa
Hầu hết các nhà phân loại đồng thống nhất lớp Một lá mầm xuất phát từ lớp Hai lá mầm từ đầu
của lịch sử tiến hóa thực vật Có hoa. Takhtajan (1964) và Cronquist (1968) cho rằng lớp Một lá mầm
phát triển từ tổ tiên không có mạch nguyên thủy giống như Nymphaeales. Nếu quan điểm đó là đúng
thì Một lá mầm đầu tiên có thể có hoa với bao hoa rời chưa phân hóa, hạt phấn một rãnh và thiếu
t


ượng tầng và mạch gỗ. Các tác giả khác như Chealle (1953) bằng các dẫn liệu mạch gỗ đã phủ nhận
quan điểm về nguồn gốc ở nước mà nó phải xuất thân từ cây Hai lá mầm chưa có mạch ở trên cạn.
Không quan tâm đến cách lý giải đó, những tính chất ở bảng trên tách Một lá mầm khỏi Hai lá mầm
luôn luôn được coi như sự phân hóa thứ cấp. Một loại trừ là hạt ph
ấn một rãnh ở Một lá mầm chung
với một số Hai lá mầm đang sống cũng như tổ tiên Hạt trần của chúng. Loại trừ này thực tế cũng
không có vấn đề khi con đường của hạt phấn mở rộng theo con đường ngược lại từ Một lá mầm qua
Hai lá mầm và đến gốc Hạt trần của nó. Thêm vào các bằng chứng hình thái học, các tư liệu sinh hóa
so sánh cho rằng xuấ
t phát điểm của Một lá mầm từ Hai lá mầm (Harbone, 1977).
8.9 Các đặc trưng của các phân lớp
Ngành cây có hoa = ngành Mộc lan = ngành Hạt kín có hai lớp, 11 phân lớp, 81 bộ, 380 họ,
khoảng 220.000 loài (Cronquist, 1968)
8.9.1 Lớp Hai lá mầm - Dicotyledoneae = lớp Mộc lan - Magnoliopsida
Gồm: 6 - 8 phân lớp, 63 bộ, 315 họ, 165.400 loài
8.9.1.1 Phân lớp Mộc lan - Magnoliidae
Gồm: 9 bộ, 39 họ và 11 loài
Nó bao gồm những đấu hiệu nguyên thủy nhất. Chúng thường có hoa nhiều thành phần, bao hoa
phát triển chưa phân hóa, thường được phân biệt thành đài hoặc tràng nhưng rất hiếm không có tràng,
nhị nhiều hướng tâm, hạt phấn hai nhân và một rãnh, bộ nhụy điển hình rời, noãn một vỏ bọc, nội nhũ
có tế bào dày (trừ Lauraceae không có n
ội nhũ). Bộ Magnoliales là bộ lớn nhất với 5.600 loài.
8.9.1.2 Phân lớp Sau sau - Hamamelidae
Gồm: 11 bộ, 23 họ, 3.400 loài


123
Đây là phân lớp bé nhất trong Hai lá mầm chủ yếu là cây gỗ, có hoa tiêu giảm thành hoa đơn tính,
ở nhóm tiến bộ các hoa họp thành cụm hoa đuôi sóc. Bao hoa vắng hay tiêu giảm để thích nghi với sự
thụ phấn nhờ gió. Quả chín có một hạt. Nhiều cây trong phân lớp rụng lá ở Bắc Mỹ.

8.9.1.3 Phân lớp Cẩm chướng - Caryophyllidae
Gồm: 3 bộ, 14 họ, 11.000 loài
Phần lớn là cây thảo, một số mọng nước hay ưa muối, bao hoa phứ
c tạp và đa dạng. Các thành
viên nguyên thủy chỉ có một vòng bao hoa duy nhất và từ đó nó biến đổi thành đài và tràng. Nhị chín
ly tâm, hạt phấn ba tế bào. Giá noãn trung tâm xuất phát từ gốc. Noãn hai vỏ với nội nhũ tế bào dày
khi chín phôi thường được bao bởi ngoại nhũ. Betalain là chất đặc trưng. Trước đây gọi là
Centrospermae. Bộ Caryophyllales chứa 10.000 loài là bộ chủ đạo.
8.9.1.4 Phân lớp Sổ - Dilleniidae
Gồm: 13 bộ, 78 họ, 24.000 loài
Trừ
bộ Dilleniales có lá noãn rời, phân lớp này phân biệt với Magnoliidae bởi bộ nhụy hợp. Khi
chín nhị ly tâm, hạt phấn hai tế bào trừ Cruciferae có ba nhân, noãn 1- 2 vỏ có nội nhũ tế bào dày hoặc
mỏng, chứa nhiều loài cây gỗ.
8.9.1.5 Phân lớp Hoa hồng - Rosidae
Gồm: 18 bộ, 113 họ, 60.000 loài.
Đây là phân lớp lớn nhất chứa 1/3 các loài Hai lá mầm. Hoa có nhiều nhị khi chín hướng tâm.
Noãn 2 hay 1 vỏ có nội nhũ tế bào dày hay mỏng. Hoa có tràng nhiều và có xu hướng hợp.
8.9.1.6 Phân l
ớp Cúc - Asteridae
Gồm: 10 bộ, 48 họ, 56.000 loài
Đây là phân lớp thứ hai, hoa có cánh hợp. Nhị ít, mọc xen với cánh tràng, noãn luôn luôn hai, có
một vỏ và nội nhũ tế bào mỏng. Phân lớp này theo Takhtajan tách thành 2 phân lớp: phân lớp Bạc hà
Lamiidae (nhị ít 4-2) và phân lớp Cúc - Asteridae.
8.9.2 Lớp Một lá mầm - Monocotyledoneae = Loa kèn - Liliopsida
Gồm: 5 phân lớp, 18 bộ, 65 họ, 54.000 loài và phân lớp các Astenridal (nhị 5 có bao phấn hợp,
chỉ nhị rời, cụm hoa dày đặc)
8.9.2.1 Phân lớp Trạch tả - Alismatidae
Gồm: 4 bộ, 15 họ, 500 loài
Đặc trưng cây thảo sống ở nước hay đất ướt. Hầu hết bộ nhụy rời, hạt phấn ba tế bào. Khi chín

hạt không nội nhũ. Có hai tế bào bao quanh tế bào khí khổng. Phân lớp này được coi như một nhánh
sót lại củ
a Một lá mầm. Nó còn giữ lại nhiều dấu hiệu nguyên thủy.
8.9.2.2 Phân lớp Cau - Arecidae
Gồm: 4 bộ, 6 họ, 6.400 loài
Khoảng 50% số loài là cây gỗ. Hoa có xu hướng nhiều nhỏ và thường tập hợp thành bông mo
được bao bởi lá hoa dạng mo. Có 4 (2 - 3) tế bào bao quanh tế bào khí khổng. Nhiều loài có đặc điểm
Một lá mầm không điển hình như có lá lớn, có cuống gân rõ. Tất cả các loài trừ Arales đều có mạch
điển hình.
8.9.2.3 Phân lớ
p Thài lài - Commelinidae
Gồm: 6 bộ, 16 họ, 16.200 loài


124
Đặc trưng là cây thảo mọc ở nước đến ở cạn hoặc bì sinh. Hoa có đài và tràng phát triển hoặc bao
hoa dạng vảy, dạng lông hoặc tiêu giảm hòan toàn, các đại diện nguyên thủy có hoa thích nghi thụ
phấn nhờ côn trùng trong lúc đó các đại diện tiến bộ bao hoa tiêu giảm thích nghi thụ phấn nhờ gió.
Hạt phấn hoặc ba nhân hoặc ít khi hai nhân.
8.9.2.4 Phân lớp Gừng - Zingiberidae
Gồm: 2 bộ, 9 họ, 2.800 loài
Đặc trưng hoa có hoa thụ phấn nhờ côn trùng, cánh tràng có màu s
ắc, có tuyến mật; bầu dính có
hai ô có nhiều đặc điểm tách biệt nhau có khả năng phát triển độc lập. Chúng khác với các Một lá
mầm khác là có tuyến mật và bầu dưới.
8.9.2.5 Phân lớp Hành - Liliidae
Gồm: 2 bộ, 19 họ, 28.000 loài
Đặc trưng hoa quanh bầu, bao hoa dạng cánh thích nghi thụ phấn nhờ côn trùng. Đa số cây thảo
sống trên đất hay bì sinh. Lá hình dải và có gân song song đến dạng rộng có hệ gân rõ. Bầu trên, tế bào
quanh lỗ khí thường vắ

ng đôi khi có hai hay hơn hai.


125
Chương 9
XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ PHÒNG MẪU CÂY
KHÔ (HERBARIUM)
Những sưu tập mẫu cây là rất quan trọng để nghiên cứu phân loại. Chúng bao gồm toàn
bộ các loài và các biến dạng của chúng, là nguồn nguyên liệu đầu tiên để nghiên cứu hệ thực
vật một vùng và chúng là những bằng chứng để nghiên cứu thực nghiệm. Các nguyên liệu
thực vật phải được chọn lọc một cách cẩn thận được chuẩn bị và bảo quản. Đó là những thông
tin vĩnh c
ửu để cho các nhà nghiên cứu về sau nghiên cứu.
Các nhà phân loại học căn cứ vào các sưu tập đó để nghiên cứu những biến đổi trong một
hay giữa các quần thể của cùng một loài ở các môi trường khác nhau do sự lai tạo, do sự biến
đổi của đất đai, độ ẩm, độ dốc, ánh sáng. Nhiều dấu hiệu có thể quan sát dễ dàng ở cây sống
nhưng khó nhận biết ở cây mẫu khô nh
ư màu hoa, mùi vị thì phải được ghi chép lại.
Một mẫu lý tưởng dùng để xác định và nghiên cứu là phải nguyên vẹn và đầy đủ các bộ
phận. Những mẫu đơn độc chỉ có lá hoặc chỉ có hoa thì không có giá trị khoa học. Có thể thu
toàn bộ cây đối với cây thảo và vài cây thảo nhiều năm. Những phần dưới đất của cây nhiều
năm như rễ, thân rễ, dò cũng nên được thu thập. Lá điển hình và cơ quan sinh sản là quan
trọng nhất. Hoa, quả và hạt của cây có hoa là những bộ phận quan trọng vì hầu hết các khóa
xác định đều dựa vào các bộ phận đó. Với cây thảo lớn, cây bụi, cây gỗ, các loại lá khác nhau
đều có ích. Các cá thể của một quần thể ở các giai đoạn khác nhau cũng cần chú ý thu thập.
9.1 THU MẪU VÀ ÉP MẪU
Dụng cụ thu mẫu: Cặp hay túi đựng mẫu, giấy báo, dây buộc, nhãn, kim chỉ, bút chì 2B,
sổ ghi chép, cồn.
Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu: Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một
khu nghiên cứu, chúng ta không thể đi hết các điểm trong khu nghiên cứu vì thế việc chọn

tuyến và điểm thu mẫu là cần thiết. Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của
khu nghiên cứu. Có thể chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó cắt
ngang các vùng đại diện cho khu nghiên cứu. Trên các tuyến đó chúng ta lại chọn những điểm
chốt, tức là những điểm đặc trưng nhất để thu mẫu kỹ hay đặt các ô tiêu chuẩn vừa phục vụ
cho nghiên cứu về đa dạng loài vừa nghiên cứu về đa dạng hệ sinh thái.
Phương pháp thu m
ẫu: Để thu mẫu, hiện nay chúng ta nên dùng túi pôlyetylen để đựng mẫu
không dùng cặp gỗ dán như trước đây vừa cồng kềnh, vừa khó bảo quản, cần có sổ ghi chép
riêng, nhãn hay băng dính giấy có thể viết được và kéo cắt cây.
Nguyên tắc thu mẫu:
Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là cành, lá và hoa đối với cây lớn hay cả cây
đối với cây thảo và cả quả càng tốt.


126
Mỗi cây nên thu từ 3 - 10 mẫu, còn mẫu cây thảo nên tìm các mẫu giống nhau và cũng thu
với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài, vừa để trao đổi.
Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu. Có hai cách đánh số từ 1
trở đi kể từ khi thu mẫu đầu tiên cho đến hết đời làm nghiên cứu khoa học hoặc đánh số theo
năm tháng không phụ thuộc vào các đợt thu mẫu trước đó. Ví dụ đợt nghiên cứu vào tháng 7
năm 1996 ta có thể đánh số là 967 là gốc và sau đó lần lượt ghi tiếp từ số 01 trở đi. Cách đánh
này tiện lợi là không cần phải nhớ số trước đó mà thu đợt này và qua số đó có thể nhận biết
thời gian thu mẫu nhưng có nhược điểm là không thể biết cả cuộc đời của nhà thực vật đã thu
được bao nhiêu mẫu.
Khi thu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên như đặc điểm
vỏ cây, kích thước cây nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi khô như màu sắc của hoa, quả,
mùi vị


Hình 9.1.

Các dụng cụ trong phòng thí nghiệm của bảo tàng
Thu và ghi chép xong cho vào túi pôlyetylen cỡ lớn hay bao tải dứa mang về nhà mới làm
mẫu. Việc cho vào túi pôlyetylen hay bao tải có lợi là gọn nhẹ, không bị va quệt khi băng qua
rừng, mẫu giữ tươi lâu kể cả khi trời nắng to nhưng cần chú ý là khi cho mẫu vào túi phải nhẹ
nhàng, nếu có hoa thì dùng các lá của mẫu để bọc lấy trước khi cho vào túi. Có thể dùng các
túi nhỏ, mỏng đựng các loài riêng rẽ và buộc chặt lại, tất cả các túi nhỏ đó cho vào túi to hay
bao tải.
9.2 CÁCH XỬ LÝ
Sau một ngày lấy mẫu cần đeo nhãn cho mỗi mẫu. Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu của tác
giả còn các thông tin khác sẽ ghi vào sổ riêng hoặc trên nhãn ghi đầy đủ các mục như sau:
Số hiệu mẫu;


127


Số hiệu:
Địa điểm:

Đặc điểm:


Sinh cảnh:

Ngày thu:
N
g
ời thu:

Hỡnh 9.2.

Cỏch buc nhón v thụng tin cn thu thp
a im v ni ly (tnh, huyn, xó, nỳi no v mc ven sui hay nh nỳi), to ;
c im quan trng: cõy g hay dõy leo, cao, ng kớnh, mu lỏ, hoa, qu, cú nha
m hay khụng, mu gỡ.
Ngy ly mu;
Ngi ly mu.
Tấm nhôm

Giấy báo

Hỡnh 9.3.
Cỏc dng kp mu
Khi ghi phi dựng bỳt chỡ mm, hay bỳt bi c dng khụng b nhũe, khi ngõm tm tuyt
i khụng dựng bỳt bi bỡnh thng hoc bỳt mc trỏnh b mt khi ngõm tm v sau.
Sau mi ngy mang v ni cn c x lý mu ngay. Cú hai cỏch x lý mu:
X lý khụ: Sau khi ó eo nhón, mi mu t gn trong 1 t bỏo gp 4, vut ngay ngn
nhng chỳ ý trờn mu phi cú lỏ sp, lỏ nga cú th quan sỏt d dng c hai mt lỏ m
khụng phi lt mu. i vi hoa nờn dựng cỏc mnh bỏo nh ngn cỏch nú vi cỏc hoa hay
lỏ bờn cnh phũng khi sy d b dớnh vo cỏc b phn khỏc ca cõy. i vi qu to cn ct
thnh lỏt theo hai hng: theo chiu cung qu v theo chiu vuụng gúc vi qu thy qu
cú bao nhiờu ụ, cỏc phin ú phi cú nhón riờng v mang cựng mt s hiu.


128
Bã mÉu cÇn
sÊy
TÊm ng¨n
c¸ch
Hép gi÷
nhiÖt

Lß sÊy


Hình 9.4.
Các bộ phận của lò sấy bằng bếp điện

Đối với lá to, thì chỉ lấy từng phần đại diện và các phần đó mang cùng một số hiệu. Sau
đó xếp nhiều mẫu thành chồng cứ 5 - 7 mẫu nên chèn một tấm nhôm để thông thoáng và giữ
nhiệt giúp cho mẫu chóng khô và không phải thay giấy báo hàng ngày và dùng đôi cặp ô
vuông (mắt cáo) để ốp ngoài ép chặt mẫu và bó lại.
Nếu mẫu có quả to hay cành to, khi ép nhớ chèn các tờ báo xung quanh để nâng cao mặt
bằng sao cho mẫu tiếp theo nằm trên mặt phẳng. Giữa các mẫu chèn càng nhiều báo càng tốt.
Cách bó xem ở hình 9.3. Bó mẫu đưa phơi nắng hoặc sấy trên bếp than hay tủ sấy. Nếu không
có tấm nhôm, hàng ngày phải thay giấy báo mới để mẫu chóng khô và không bị ẩm sẽ làm
cho mẫu bị hỏng.
Xử lý ướt: Khi không có thời gian và điều kiện làm mẫu ngay trong ngày, sau khi đã làm
mẫu xong chúng ta không dùng cặp mắt cáo để ép mẫu hay chỉ ép một thời gian ngắn sao cho
chúng đủ thờ
i gian ổn định vị trí, sau đó bỏ cặp và dùng giấy báo bọc ngoài rồi bó chặt lại rồi
cho các bó mẫu đó vào túi polyetylen cỡ lớn. Mỗi túi lớn có thể chứa nhiều bó mẫu và dùng cồn
đổ cho thấm các tờ báo và buộc chặt lại để chuyển về nơi có điều kiện sấy khô. Cách làm đó có
thể giữ cho mẫu trong khoảng 1 tháng mà không cần phải sấy ngay. Mục đích là để giết các
enzym chống sự rụng lá.
9.3 XÁC ĐỊNH TÊN KHOA HỌC
Phân chia mẫu theo họ và chi: Trước khi phân tích các mẫu cây phải biết mẫu cây thuộc
họ nào. Muốn thế chúng ta phải sắp xếp chúng theo theo từng họ. Để làm nhanh cần có các
chuyên gia có kinh nghiệm giúp đỡ để giảm nhẹ công việc và thời gian hoặc chúng ta theo
bảng chỉ dẫn nhận nhanh và phân chia các họ (xem Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật
của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997). Từng họ lại nhờ các chuyên gia sắp chúng theo từng chi trước
khi phân tích và tiến hành xác định loài. Những mẫu nào chưa phân họ và chi được thì dùng

các khóa xác định họ và chi để xác định.


129
Đối chiếu mẫu nghiên cứu với bộ mẫu lưu: Đối với những nơi có bộ mẫu cây khô lưu các
bảo tàng thực vật hay các phòng mẫu cây khô (bách thảo = Herbarium) với đầy đủ tên khoa
học, chúng ta mang mẫu của chúng ta so với bộ mẫu lưu để có tên sơ bộ. Nếu các mẫu hoàn
toàn giống nhau thì chúng ta tạm yên tâm với các tên đó và xếp riêng. Những mẫu còn nghi
ngờ được tiếp tục phân tích cụ thể và tra tên khoa học theo khóa xác định.
Phân tích mẫu: Để tra tên khoa học, đầu tiên phải tiến hành phân tích các mẫu đã thu
thập. Khi phân tích trên mẫu khô phải lấy từng hoa ra cho vào ống nghiệm cùng với ít nước
vừa đủ ngập hoa và đun sôi để mẫu trở lại trạng thái bình thường. Hai tay với hai kim nhọn
tách từ từ các bộ phận của hoa dưới kính lúp để quan sát và vẽ hình. Khi phân tích chú ý một
số nguyên tắc như sau:
Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến các chi tiết bên trong.
Phân tích từ cái lớn đến cái nhỏ.
Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình.
Tra tên khoa học: Sau khi đã phân tích, chúng ta tiến hành tra tên khoa học dựa theo các
khóa xác định lưỡng phân hoặc vừa phân tích vừa tra khóa.
Chú ý một số nguyên tắc khi tra tên như sau:
Hoàn toàn khách quan và trung thành với các mẫu thực, không phụ thuộc vào các tên
giám định sẵn hay tên do các tác giả xác định trước đây.
Khi tra khóa luôn luôn đọc hai đặc điểm đối nhau cùng một lúc để dễ dàng phân định
giữa các cặp dấu hiệu.
Sau khi đã có tên khoa học, cần kiểm tra lại bằng các bản mô tả đã được giới thiệu trong
các bộ thực vật chí hay các sách chuyên khảo. Nếu mẫu đúng với bản mô tả thì chép đầy đủ
tên khoa học của cây kèm theo tên tác giả và tên họ của mẫu cây đó, sau đó các mẫu được
nhập vào Phòng mẫu cây khô (Herbarium) để xử lý tiếp theo.
Chỉnh lý tên khoa học: Sau khi đã có tên khoa học cần chỉnh lý lại tên khoa học theo tên
chi theo cuốn Vascular plant families and genera của Brummitt (1992) vì đây là cuốn sách

tổng hợp khá đầy đủ các chi trên toàn thế giới và tên loài theo bộ 3 tập Danh lục các loài thực
vật Việt Nam. Bởi vì khi xác định tên khoa học chúng ta sử dụng các bảng tra theo nhiều
nguồn khác nhau và mỗi nguồn sử dụng các hệ thống khác nhau, khối lượng các ngành, lớp,
bộ và họ khác nhau, cho nên điều trước tiên cần có tính chất nhất quán, để dễ so sánh và đánh
giá.
Lập danh sách các loài: Sau khi
đã có tên đầy đủ, các họ, các chi trong từng họ và các
loài trong từng chi được nhập vào máy tính theo một phần mềm cố định thống nhất trên toàn
thế giới. Mỗi loài cần có đầy đủ các thông tin thuộc về các taxôn bậc trên đó, tên khoa học
đầy đủ, thuộc họ hay bộ nào, phân lớp và lớp nào, địa điểm lấy mẫu, ngày lấy, nơi lưu trữ,
công dụng nếu có và các dấu hiệu đặc trưng khác cùng v
ới hình ảnh của vật mẫu
9.4 QUẢN LÝ MẪU CÂY KHÔ
Sưu tập mẫu đã ép, sấy khô và xử lý thuốc chống sâu bọ và nấm được xếp theo từng họ
và lưu giữ trong phòng kín gọi là phòng mẫu cây khô hay phòng Bách thảo (Herbarium). Ở
các viện nghiên cứu các họ được sắp xếp theo hệ thống phân loại từ thấp đến cao còn ở các
trường học các họ đó thường xếp theo ABC chữ đầu của họ. Đây là một tài sản quý, là cơ sở
để
nghiên cứu về thực vật phân loại, về địa lý thực vật, về tài nguyên thực vật


130
Mỗi phòng mẫu cây khô chứa vài trăm mẫu đến hàng triệu mẫu của các hệ thực vật khác
nhau từ một vùng nhỏ đến hệ thực vật trên toàn thế giới.
Mục tiêu của phòng mẫu cây khô là thu thập và lưu giữ các mẫu cây có các nhãn chứa
các thông tin cần. Các phòng mẫu cây khô đầu tiên được thành lập ở Ý là những sưu tập mẫu
cây khô khâu vào giấy. Vào nửa thế kỷ 16, John Falconer và William Turner, hai người Anh
đã thông báo về các sưu tập của họ. Đến đầu thế kỷ 19, các cây được khâu hay dán lên những
trang giấy phẳng và đóng thành tập. Linnê đã phổ biến kỹ thuật trình bày mẫu trên tờ giấy
riêng lẻ và xếp chồng lên nhau để lưu giữ. Từ sự khởi đầu đó các phòng mẫu cây khô đã phát

triển nhanh lưu giữ hàng triệu mẫu đựng trong những thùng kim loại. Danh mục các phòng
mẫu cây khô của thế giới và tên viết tắt chuẩn được công bố trong “Index Herbariorum” do
Holmgren and Keuken (1974) biên soạn. Các phòng mẫu cây khô của các viện nghiên cứu
thường rất lớn còn ở các trường thì bé hơn do nguồn kinh phí hạn hẹp.

1 2
Hình 9.5.
Các phòng mẫu
1. Một phần của Phòng mẫu, 2. Nhà lưu trữ mẫu của Băng Kok, Thai Lan.
9.5 CHỨC NĂNG PHÒNG MẪU CÂY KHÔ
Phòng mẫu cây khô là nơi lưu giữ vĩnh viễn các mẫu cây và là nguồn thông tin về thực
vật và thảm thực vật. Thực chất tất cả nghiên cứu về phân loại đều liên quan đến vai trò các
mẫu lưu trữ đó. Nếu không có phòng mẫu khô lưu giữ các type tên gọi thì các tên gọi các loài
sẽ không tồn tại. Về mục đích thực tế, chỉ có ở phòng mẫu cây khô mới có thể tập hợp các
loài h
ọ hàng của một chi hay một họ với nhau để phục vụ cho nghiên cứu. Việc phân loại hệ
thực vật thế giới đầu tiên phải dựa trên các mẫu cây khô và các tài liệu liên quan đến nó.
Những nhà chuyên khảo các chi và họ nghiên cứu không chỉ từ các mẫu trong các phòng
mẫu cây khô của họ mà còn nghiên cứu các mẫu lưu giữ trong các phòng mẫu cây khô khác
trên thế giới. Điều đó có được nhờ sự trao đổi mẫu hoặc nhờ đến làm việc tại các nơi đó.
Việc nghiên cứu nhiều mẫu vật đã làm sáng tỏ và hiểu biết sâu về tính phức tạp các loài
vì vậy các mẫu cây khô trong các phòng mẫu cây khô của các vùng khác nhau sẽ giúp cho
chúng ta hiểu sự biến đổi sinh thái và địa lý của loài và sẽ chỉ cho chúng ta thấy trào lưu của
các tính chất. Nhiều quần thể tách biệt được tìm thấy từ các phòng mẫu cây khô chứa trong
nhiều mẫu thu thập từ nhiều nơi khác nhau.



131





1


2

3

4

4

Hình 9.6.
Bên trong các phòng mẫu
1, 2. Phòng mẫu của Mỹ; 3. Phòng mẫu của Trung Quốc; 4. Phòng mẫu của Việt Nam
(HNU)
Các phòng mẫu cây khô chứa các dữ liệu nguyên bản tức là các mẫu mà từ đó tất cả các
hiểu biết của chúng ta về phân loại học, tiến hóa luận, phân bố và vv của hệ thực vật còn lại.
Tất cả các cuốn cẩm nang, chuyên khảo và các cuốn sách cây hoa dại thực tế đều dựa vào
nguồn tư liệu đó. Các vấn đề bản chất của loài, phân loại học, định loại và tên gọi tất cả đều
dẫn đến phòng mẫu cây khô.
Các hoạt động hay là chức năng của phòng mẫu cây khô được chỉ ra như sau:
- Cung cấp sưu tập mẫu chuẩn để duy trì tên gọi các loài, để kiểm tra và xác định
những tên khoa học. Đó là chức năng lớn của nhiều phòng mẫu cây khô.
- Phụ
c vụ như một sưu tập tham khảo cho phân loại thực vật và các chương trình
thực vật khác.
- Đào tạo sinh viên.

- Cung cấp những thông tin về sự có mặt một loài ở từng địa phương hay những tài
liệu về phân bố địa lý của loài đó. Nó cũng giúp cho xác định chính xác nơi mà ở
đó người ta đã thu mẫu đầu tiên và cũng như từ đó thu lại mẫu đ
ó.
- Cung cấp những mẫu về hệ thực vật một vùng ví dụ như nhà sinh thái học đến
phòng mẫu cây khô sử dụng tập mẫu đó và sắp xếp các mẫu của mình theo từng
nhóm. Nếu không có phòng mẫu cây khô thì không thể sắp xếp được.
Bằng việc nghiên cứu họ sẽ tiết kiệm thời gian đi thực địa. Cũng như vậy các nhà phân
loại viết thực vật chí của một vùng mà không phải tốn nhiều công, nhiều ngân sách đi thu mẫu
ngay từ đầu.


132
- Nhờ phòng mẫu cây khô mà các nhà phân loại có thể phát hiện những vấn đề tồn
tại trong phân loại. Những nghiên cứu sơ bộ của các mẫu trong phòng mẫu cây khô
có thể chỉ ra rằng loài chứa những cây mà chúng không tổ hợp những tính chất đã
được thống kê trong các cẩm nang do đó cần phải có những nghiên cứu bổ sung.
- Phòng mẫu cây khô là nơi trưng bày các tài liệu thô về thực vật. Đó là dạng cây,
hình thái học cơ quan sinh sản, mẫu hạt phấn, mẫu lá để phân tích hóa học, phân
tích ADN, mẫu để giải phẫu, tư liệu về bản đồ phân bố, về sinh thái, kinh tế, thực
vật học dân tộc qua các nhãn cây.
- Bảo vệ các mẫu chuẩn và phục vụ như kho lưu giữ các thể nhiễm sắc, khóa phân
loại và những bằng chứng thí nghiệm. Nghiên cứu các mẫu chuẩn cho phép nhà
nghiên cứu xác định cây nào đã được mô tả trước đây và phát hiện những mẫu
chính xác liên quan đến tên gọi.
Những tài liệu tham khảo phân loại hiện đại được phổ cập nhờ những mẫu cây lưu giữ
trong phòng mẫu cây khô, tên người thu mẫu, số và ngày thu mẫu. Nếu có sai sót khi xác định
cây dùng để tính thể nhiễm sắc chẳng hạn về sau sẽ được sửa chữa nếu mẫu còn được lưu giữ
trong phòng mẫu cây khô.
Hiện nay không thể công bố những công trình số thể nhiễm sắc hay tài liệu về sinh hóa

phân loại mà không có bằng chứng mẫu cây khô được lưu giữ cụ thể ở đâu thì có thể coi tài
liệu đó không có giá trị.
9.5.1. Nhãn
Nhãn là ghi lại một cách ngắn gọn hồ sơ của mẫu để làm cơ sở cho các nhà nghiên cứu
phân loại, sinh thái, địa lý thực vật, sinh hóa phân loại, di truyền phân loại trong quá trình
nghiên cứu. Một công trình đầy đủ, chính xác và nghiêm túc về sinh học như trên đã nói phải
thông báo đầy đủ những thông tin được ghi trong nhãn. Đây là một bộ phận quan trọng của
mẫu lưu giữ vĩnh viễn nó có giá trị như các tập hồ sơ của các phòng tổ chức.
Nhãn thường có hình chữ nhật kích thước khoảng 7 x 10 cm giấy trắng dai, viết bằng tay
hay đánh máy thường được in sẵn gồm hai phần:
Đầu trên ghi tên phòng mẫu cây khô bằng tiếng La tinh, tiếng Anh hay tiếng Việt. Để phổ
cập nên dùng tiếng La tinh.
Phần dưới cùng góc trái ghi số hiệu mẫu (No) số do người thu mẫu ghi và ngày lấy mẫu
(Data). Ở góc bên phải ghi tên người thu mẫu (Leg. = Legit) và tên người xác định tên khoa
học (Det. = Determiner).
Phần ở giữa để trống sau khi đã xác định xong và trình bày mẫu mới ghi và dán ở góc trái
phía dưới bìa mẫu.
Phía trên ghi tên La tinh đầy đủ của loài bao gồm cả tên tác giả, nên viết chữ to hay chữ
in (có thể ghi tên họ kèm theo).
Dòng tiếp dưới ghi: Địa điểm từ tỉnh, huyện, xã và môi trường lấy. Phần này càng ghi cụ
thể càng tốt nhất là nên lấy những mốc cố định để xác định vị trí, ghi toạ độ, độ dốc
Tiếp theo ghi những thông tin khác như: màu hoa quả, mùa ra hoa, ra quả, màu vỏ, màu
nhựa mủ, độ cao, đường kính, vỏ cây, công dụng …


133
Ngoài ra một số nhãn khác thường bé hơn độ 3 x 10cm được dán kèm theo ở phía trên
hay bên cạnh ghi những thay đổi do các chuyên gia viết về sau, khi kiểm tra mẫu, có thể sửa
đổi tên khoa học cho cập nhật hoặc thay lại tên khoa học cũ bằng một tên mới sau khi kiểm
tra lại đã có sẵn trong đó ghi cả họ và tên người kiểm tra và ngày kiểm tra. Nếu mẫu đã có tên

đúng thì chuyên gia kiểm tra cần dán thêm một nhãn con ghi đủ tên và ngày tháng và ở giữa
ghi dấu “!” để khẳng định tên trong mẫu là đúng. Trên bìa mẫu cũng có những nhãn chỉ ra
người đã lấy hạt phấn hay các bộ phận khác để nghiên cứu tế bào hay sinh hóa.
9.5.2. Trình bày mẫu
Trình bày mẫu là một quá trình gắn mẫu và nhãn vào tờ bìa. Hầu hết các bìa mẫu của các
nước Bắc Mỹ có kích thước 29 x 41cm. Ở Việt Nam thường dùng kích thước 28 x 42 cm. Bìa
mẫu là những giấy Crôki dày, đanh và cứng. Chất lượng giấy tùy thuộc vào mục đích sử
dụng. Đối với phòng mẫu cây khô giấy cần 100% chất xơ để đảm bảo độ cứng, còn để học tập
chất lượng giấy thấp hơn. Giấy cần phải cứng khó gấp để đỡ hỏng mẫu nhất là khi chuyền tay
nhau.
Để đính mẫu vào bìa mẫu có nhiều cách khác nhau. Ở Việt Nam theo truyền thống dùng
chỉ để khâu các bộ phận đính chặt lên bìa mẫu. Vì điều kiện độ ẩm cao nếu dùng các băng
dính để dán thì dễ bị bong ra.
Khi khâu chú ý theo các đường thẳng, ngắn nhất từ trên xuống dưới. Mục đích để dán
chặt các đường chỉ ở mặt lưng bìa vào bìa một cách dễ dàng nhất. Hiện nay các mẫu được
đính vào bìa mẫu là vừa dùng chỉ khâu những nơi cứng và vừa dùng súng bắn nhựa để dán
những phần mềm hơn và ở phía sau. Việc dán mối chỉ phía sau nhằm mục đích khi chồng các
mẫu lên nhau không bị vướng làm hỏng mẫu phía dưới. Ở các nước thường dùng các băng
dính hoặc các hồ dán như: Swiffs Z - 5032, Elmen’s glue - all, Nicobon B hoặc Wihold 128.
Nhựa 35 - 6262 được dùng để dán các lá cứng. Các phần dễ rơi thường đựng vào các túi hoặc
dán kết hợp với khâu vào bìa mẫu.


134

9.5.3. Sắp xếp mẫu
Các bìa mẫu sau khi hoàn thành được sắp xếp từng nhóm. Các bìa mẫu của một loài được
đặt trong một bìa chung 30 x 45cm gọi là áo bìa. Phía ngoài ở góc bên phải phía trên để dán
nhãn đề tên loài. Các loài trong các chi trong một họ cũng xếp theo ABC. Các chi trong một
họ xếp trong một hay một số thùng hay các ngăn liền nhau. Các họ trong các phòng mẫu cây

khô cũ thường được đánh số theo một số hệ thống phân loại nổi tiếng như hệ thống Engler
hoặc Hooker.
Ở Việt Nam phòng m
ẫu cây khô thành phố Hồ Chí Mính sắp xếp theo hệ thống Bentham
và Hooker; ở phòng mẫu cây khô của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật sắp xếp theo hệ
thống Takhtajan; ở Đại học Quốc gia Hà Nội sắp xếp theo ABC. Các bìa áo có thể phân biệt
màu khác nhau theo vùng địa lý lớn ví dụ như ở châu Á màu tím, châu Âu màu đỏ, châu Mỹ
màu vàng chẳng hạn. Các thùng đựng mẫu truyền thống được làm bằng tôn không rỉ hoặc
plastic với kích thước dài 48cm rộng 35 và cao 25cm. Đóng thùng loại này rẻ h
ơn và dễ vận
chuyển. Hiện nay nhiều phòng mẫu cây khô đóng các tủ gỗ hoặc sắt mạ chống rỉ có kích
thước cao 18cm, rộng 90cm, dày 51,5cm và mới nhất các hệ thống tủ được đặt trên hệ thống
đường ray được di chuyển bằng tay quay hay bằng điện.
9.5.4. Diệt côn trùng
Nhiệm vụ hàng đầu trong việc quản lý và bảo phòng mẫu cây khô là chống sự phá hoại
của côn trùng và nấm mốc. Hầu hết các chất dùng để xua đuổi hay diệt đều nguy hiểm và độc



1 2 3


4 5
Hình 9.7.
Trình bầy mẫu
1. Trên tờ bìa cứng; 2. Dán nhãn vào góc bìa; 3, 4. Mặt sau là đường chỉ sẽ được dán lại;
5. Áo bọc những tiêu bản cùng loài


135

(côn trùng đặc biệt nguy hiểm đối với mẫu khô là cánh cứng thuốc lá, cánh cứng thuốc và
cánh cứng thảm đen thường gọi là cánh cứng Dermestid.
Côn trùng phá nhiều nhất là cánh cứng thuốc lá, chúng có thể hoàn thành chu kỳ sống 45
- 50 ngày với ba đến sáu thế hệ trong một năm. Bất kỳ một loại nào trong số đó có thể phá
mẫu trong suốt thời kỳ lưu giữ trong kho nếu như không được chăm sóc, để chống sự phá
hoại đó có ba cách chính như sau: 1) sấy khô, 2) thuốc xua đuổi côn trùng và 3) thuốc xông.
Sấy: các mẫu có thể sấy trong những thùng đặc biệt ở 64
o
C trong 6 giờ. Nhiệt độ đó sẽ
diệt một cách có hiệu quả trứng, ấu trùng, nhộng và các cơ thể già. Nếu phòng mẫu cây khô
sạch chỉ cần dưới 21
o
C và với độ ẩm 30 - 40%. Nếu mẫu đã được sấy khô thì cơ hội sống sót
có thể giảm xuống rất lớn.
Xua đuổi: là chất để đuổi côn trùng ra khỏi phòng mẫu cây khô vì mùi và vị gây nôn của
chúng. Paradichlorobenzen (PBD) và Napthalen là hai chất được dùng rất rộng rãi trong các
phòng mẫu cây khô.
Chất xông: là các chất được dùng dưới dạng hơi và dùng để diệt côn trùng. Việc xông là
cần thiết và được áp dụng phổ biế
n trong nhiều năm. Những thông tin gần đây chỉ ra rằng rất
nhiều hóa chất được dùng cho phòng mẫu cây khô có thể rất nguy hiểm cho con người và
trong nhiều ví dụ các phương pháp truyền thống cũng nguy hiểm. Các chất diệt côn trùng, diệt
nấm và diệt chuột bị cấm bán để xông, trừ những cách dùng chính xác đã có ghi ở nhãn.
Dowfume - 75 đã được làm sạch bởi hãng bảo vệ môi trường như là thuốc xông chống
cánh cứng phá hoạ
i mẫu cây ở phòng mẫu cây khô. Những mẫu mới nên được xông
Ethyleneclioxide, Methyl - Bromide hoặc Ethylene bibromide ở 38
o
C trong 3 - 4 giờ.
Ba phần Ethyleneclioxide (1, 2 dichloroethane) trộn với một phần Cacbon tetrachloride (CCl

4
)
dùng để xông cho thùng mẫu cây khô. Hỗn hợp đó để khoảng 23 giờ vào cốc để trên mỗi
thùng trong 4 -5 ngày, Ethyleneclioxide là chất nổ nếu không có CCl
4
và có bản chất gây hại
đối với gan và thận (Monro, 1969) CCl
4
cực kỳ độc đối với người (phá huỷ gan) (Monro,
1969). Cả hai chất đó cực kỳ nguy hiểm đối với con người.

Hình 9.8.
Các côn trùng phá hoại mẫu



136
9.5.5. Mẫu chuẩn
Mẫu chuẩn là mẫu mà dựa vào đó để mô tả loài mới và đặt tên loài. Mẫu chuẩn thường
được bảo quản riêng và được bao bởi áo bìa có màu đặc biệt.
9.5.6. Trao đổi mẫu
Nghiên cứu kiểm tra đòi hỏi phải phân tích càng nhiều mẫu càng tốt. Vì thế việc mượn
mẫu từ các phòng mẫu cây khô khác là cần thiết. Bởi vì việc đến từng phòng mẫu cây khô để
phân tích là quá tốn kém và hoặc không thực tế. Các mẫu cây khô cho các viện khác mượn mà
ít khi cho cá nhân mượn. Việc mượn là đòi hỏi của những người quản lý phòng mẫu cây khô
để phục vụ cho việc nghiên cứu của các chuyên gia.
Khi gửi mẫu đi cũng như khi nhận mẫu về cần được kiểm tra cẩn thận vì sự vận chuyển
có thể làm mẫu bị hư hỏng và bị nhầm lẫn. Ở nhiều viện, số và mã số của các bìa mẫu được
ghi bằng bút chì ở góc trái phía dưới trên những mẫu cho mượn. Các số liên tục và chữ viết
tắt phòng mẫu cây khô tạo điều kiện thuận lợi cho việc trả lại mẫu về sau.

Những người mượn phải hết sức cẩn thận, phải tuân theo nguyên tắc khi mượn. Các mẫu
được nghiên cứu để ở viện và trong các thùng kim loại khi không dùng nữa. Việc phân tích
phải cẩn thận và tất cả các phần phải giữ nguyên. Người mượn phải ghi mẫu trước khi trả lại,
việc ghi chú không được ghi lên nhãn của bìa mẫu mà phải ghi riêng lên một nhãn khác và
gián kèm tiếp lên trên mẫu cũ. Mỗi nhãn đó phải có tên khoa học của cây đầy đủ, tên người
ghi chú, ngày, tháng, năm ghi chú Nếu đồng ý với tên cũ nên đánh dấu “!” nghĩa là tôi đã
đồng ý tên đó.
Về lý tưởng nên cho mượn mẫu cùng cả thùng mẫu để bảo vệ mẫu tốt nhất. Khi trao đổi
thì nên lấy giá thấp nhất. Việc trao đổi theo nguyên tắc 1 - 1.

×