Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Sơ lược lịch sử phát triển chuyên ngành Gây mê Hồi sức pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (172.06 KB, 15 trang )

Sơ lược lịch sử phát triển chuyên ngành
Gây mê Hồi sức

I. Nguồn gốc và sự phát triển chuyên ngành Gây mê Hồi sức
Thực hành gây mê được ghi nhận từ thời xa xưa và cho tới giữa thế kỷ XIX bắt
đầu phát triển thành một chuyên khoa nhưng chỉ được công nhận là một chuyên
khoa của ngành y chỉ cách đây gần 70 năm.
Vào thời kỳ văn minh cổ đại người ta đã biết dùng cây thuốc phiện, lá cây coca, rễ
cây mandrake (cây độc có quả vàng), rượu và ngay cả việc trích máu (mục đích
tạo nên mất tri giác) để cho phép các nhà ngoại khoa thực hiện phẫu thuật điều trị
bệnh nhân. Người Ai cập cổ cũng đã biết kết hợp cây thuốc phiện và cây
hyoscyamus (là hai cây thuốc sau này điều chế thành morphine và scopolamine
được sử dụng trong tiền mê) để gây mê.
Ngoài ra phương thức giảm đau gần giống như gây tê vùng cũng đã được sử dụng
từ thời xưa như: Gây chèn ép thân thần kinh (gây thiếu máu nuôi dây thần kinh),
làm lạnh để gây tê vùng mổ (cryoanalgesia) hoặc các phẫu thuật viên đã thực hiện
phương thức như gây tê tại chỗ bằng cách nhai các lá cây coca rồi đắp lên vết
thương. Lúc đó các thủ thuật, phẫu thuật bị giới hạn và chỉ thực hiện được với các
trường hợp gãy xương, các vết thương do chấn thương, cắt cụt chi hoặc lấy sỏi
bàng quang. Vì vậy sự phát triển của lĩnh vực ngoại khoa bị cản trở không những
do thiếu hiểu biết về quá trình bệnh lý, giải phẫu, vô trùng trong phẫu thuật mà
còn thiếu hụt sự tin cậy và an toàn của kỹ thuật gây mê.
Kỹ thuật gây mê được phát triển trước hết bắt nguồn từ việc sử dụng thuốc mê bốc
hơi và khí mê, tiếp theo là các thuốc tê để áp dụng trong gây tê vùng và tê tại chỗ,
sau cùng là các thuốc mê tĩnh mạch, thuốc giảm đau trung ương và thuốc giãn cơ.
Sự khám phá về gây mê trong lĩnh vực ngoại khoa được đánh giá là một đột phá
quan trọng về lịch sử phát triển của con người.
1. Thuốc mê bốc hơi và khí mê
- Thuốc mê hơi tìm ra đầu tiên đó là ether, quả thật ether (thực sự là diethyl ether)
đã được biết đầu tiên vào năm 1540 do Valerius Cordus tìm ra, lúc ông mới 25
tuổi, ether cũng được biết trong lĩnh vực y học nhưng đã không được sử dụng như


một thuốc mê, cho đến năm 1842 khi Crawford W. Long và William E. Clark
dùng nó cho bệnh nhân của họ. Tuy nhiên nó vẫn chưa được phổ biến sự khám
phá này.
Bốn năm sau, ở Boston (Mỹ), vào ngày 16 tháng 10 năm 1846, William T.G
Morton giới thiệu sử dụng ether để khởi mê trong gây mê toàn thân. Sự thành công
đầy ngoạn mục và gây ấn tượng sâu sắc này gây ra những hoài nghi của một số
thính giả có tính đa nghi tham dự trong buổi báo cáo khoa học vào lúc đó, đến nỗi
mà người nghiên cứu và những nhà ngoại khoa đã phải trấn an với kêu thán lên
rằng: "Thưa các Ông các Bà đây không phải sự lừa dối bịp bợm đâu!". Sau ether,
thuốc mê hơi chloroform được khám phá bởi Von Leibig vào năm 1831 nhưng chỉ
được sử dụng như là một thuốc mê vào năm 1947 bởi Holmes Coote.
- Chloform được khám phá bởi Leubig, Guthrie và Soubeiran vào năm 1831.
Được sử dụng đầu tiên bởi Holmes Coote vào năm 1947. Sau đó Sir James
Simpson, một nhà Sản khoa đưa vào sử dụng trên lâm sàng để giảm đau trong
chuyển dạ cho những bệnh nhân của Ông. Sau này do Chloroform thường gây rối
loạn nhịp tim, ức chế hô hấp, nhiễm độc gan trong và sau gây mê nên càng ngày
những Nhà gây mê từ chối sử dụng.
- Mặc dù khí N
2
O (nitrous oxide) được khám phá từ 1772 bởi Joseph Priestley
nhưng mãi đến 1844 mới được xem như thuốc mê và vì có nhiều tai biến do gây
thiếu oxy trong quá trình sử dụng để gây mê, thuốc này không được sử dụng cho
đến 1868 Edmun Andrew đã dùng lại bằng cách pha trộn với 20% oxy, khí mê này
hiện nay còn được sử dụng phổ biến và vẫn là một khí mê tốt. Dẫu rằng, về sau có
thêm nhiều loại thuốc mê hơi khác được tìm ra (ethyl chloride, ethylene,
divinylether, cyclopropane ), nhưng ether vẫn được đánh giá là thuốc gây mê
toàn thân tiêu chuẩn và tiếp tục sử dụng cho đến đầu thập niên 60 của thế kỷ XX.
- Sự ra đời của nhóm thuốc mê họ halogen vào giữa thập niên 1950 cũng là một
bước ngoặc phát triển của ngành gây mê hồi sức thế giới (halothan tìm ra 1951 và
cho phép sử dụng 1956), methoxyflurane (tìm ra 1958 và cho phép sử dụng 1960)

enflurane (tìm ra 1963 và cho phép sử dụng 1973), isoflurane (tìm ra 1965 và cho
phép sử dụng 1981).
Sau đó những thuốc mê bốc hơi mới tiếp tục phát triễn: như desflurane (1972), có
nhiều tính chất dược lý giống isoflurane, cũng như có tính chất hấp thu nhanh và
đào thải nhanh giống N
2
O đã đưa vào sử dụng. Sevofluran một thuốc mê có tỉ lệ
hoà tan trong máu thấp được cho phép sử dụng 1995.
- Với sự phát triễn các phương tiện và máy gây mê, máy theo dõi trong gây mê
hiện đại tạo điều kiện tốt phát triển những kỹ thuật gây mê hiện đại như gây mê hệ
thống kín, gây mê dòng thấp đã thúc đẩy Ngành gây mê hồi sức phát triễn nhanh
chóng đáp ứng được nhu cầu phát triễn như vũ bão của lĩnh vực Ngoại khoa.
2. Thuốc tê
- Tiếp theo sau khám phá thuốc mê hơi là sự khám phá và phát triển các loại thuốc
tê. Các kỹ thuật gây tê hiện nay được phát triển bắt nguồn từ ứng dụng của Carl
Koller, một nhà Nhãn khoa, người đầu tiên chứng minh và sử dụng cocain để gây
tê bề mặt trong phẫu thuật nhãn khoa vào năm 1884, một năm sau (1885) cocaine
được phân lập từ cây coca.
- Nhà ngoại khoa William Halsted là người đầu tiên chứng minh và sử dụng
cocain trong gây tê từng lớp và ức chế (block) dây thần kinh trong phẫu thuật
ngoại khoa.
- Năm 1898 August Bier người đầu tiên ứng dụng kỹ thuật gây tê tuỷ sống, ông ta
sử dụng 3ml cocaine 0,5% tiêm vào dịch não tuỷ, ông cũng là người đầu tiên mô
tả kỹ thuật gây tê vùng đường tĩnh mạch (Bier block) vào năm 1908.
- Thuốc tê procaine được khám phá và điều chế vào năm 1904 bởi Alfred Einhorn,
trong vòng một năm sau Heinrich Braun đã sử dụng trên lâm sàng và cũng chính
ông ta là người đầu tiên đã thêm Adrenaline (epinephrine) trong thuốc tê để kéo
dài tác dụng tê. Ferdinand Cathelin và Jean Sicard đã giới thiệu gây tê đuôi ngựa
(tê qua khe xương cùng) vào năm 1901. Kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng được
mô tả đầu tiên bởi Fidel Pages vào năm 1921 và được ứng dụng trở lại bởi Achille

Dogliotti vào năm 1931.
Sau này nhiều thuốc tê mới ra đời và được ứng dụng trên lâm sàng như: dibucaine
(1930), tetracaine (1932), lidocaine (1947), chloroprocaine (1955), mepivacaine
(1957), prilocaine (1960), bupivacaine (1963), etidocaine (1972) và thuốc tê mới
nhất ropivacaine (1990) là loại thuốc tê có tính chất tác dụng như bupivacaine
nhưng ít độc tính với tim hơn.
3. Thuốc mê tĩnh mạch
Thuốc mê tĩnh mạch được pha chế và sử dụng trong gây mê bắt nguồn từ phát
minh của Alexander Wood vào năm 1855, khi ông dùng kim bơm tiêm chích vào
vùng đồi thị để gây mất tri giác của vật thí nghiệm.
- Barbiturate được tổng hợp đầu tiên bởi Fischer và Von Mering vào năm 1903,
thuốc được dùng khởi mê đầu tiên là Barbital (diethylbarbituric acid), nhưng chưa
được giới thiệu để sử dụng rộng rãi, về sau hexobarbital điều chế năm 1927 là
thuốc được phổ biến để sử dụng khởi mê.
- Năm 1932 Volwiler và Tabern tổng hợp được Thiopental, John Lundy và Ralph
Waters là người đầu tiên sử dụng trên lâm sàng vào năm 1934, thiopental là thuốc
mê tĩnh mạch vẫn đang còn dùng rộng rãi trong gây mê hiện nay. Tiếp theo nhóm
thuốc an thần như chlordiazepoxide (1957), diazepam (1959), lorazepam (1971)
và midazolam (1976) được điều chế và dùng rộng rãi để tiền mê, khởi mê, phối
hợp trong gây mê và an thần bằng đường tĩnh mạch.
- Ketamin được tổng hợp năm 1962 bởi Stevens, Corssen và Domino là người
dùng trên lâm sàng đầu tiên vào năm 1965 cho đến 1970 được sử dụng rộng rãi
trong gây mê, đây là loại thuốc mê tĩnh mạch duy nhất có tác dụng giảm đau đồng
thời cũng là thuốc ít có tác dụng ức chế hô hấp và tim mạch.
- Năm 1964, etomidate được tổng hợp và được đưa vào sử dụng trong gây mê năm
1972 cũng là thuốc ít có tác dụng ức chế tim mạch và hô hấp nhưng lại có tác dụng
ức chế sự bài tiết hormon tuyến thượng thận nếu dùng liều lặp lại và kéo dài.
- Một sự phát triển lớn trong lĩnh vực gây mê đó là thuốc mê tĩnh mạch mới
propofol được tổng hợp và đưa vào sử dụng năm 1989, đặc biệt đây là mốc được
đánh giá phát triển kỹ thuật gây mê ngoại trú (bệnh nhân nhập viện can thiệp phẫu

thuật và ra viện trong cùng một ngày) do tính chất tác dụng và đào thải của thuốc
trong thời gian ngắn.
4. Thuốc giảm đau trung ương
Ngoài các thuốc mê hô hấp, thuốc mê tĩnh mạch. Thuốc giảm đau cũng là một
trong các điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kỹ thuật của ngành Gây mê hồi
sức.
- Morphine được chiết xuất từ cây thuốc phiện từ năm 1805 bởi Sertuner và về sau
cũng được thử nghiệm như một thuốc mê tĩnh mạch. Do tỷ lệ đe doạ tử vong và tử
vong cao khi sử dụng liều cao của morphine trong gây mê đã dẫn đến các nhà gây
mê tránh sử dụng, mãi cho đến năm 1939, meperidine (pethidine, dolargan) được
tổng hợp mới được sử dụng lại trong gây mê.
- Khái niệm "gây mê cân bằng" (balanced anesthesia), bằng cách dùng thiopental
để khởi mê, khí N
2
O để duy trì mê và làm quên đi mọi sự việc xảy ra trước và
trong gây mê, meperidine hoặc các dẫn chất khác của opium để giảm đau và thuốc
giãn cơ được ra đời từ đây do Lundy giới thiệu cũng là một bước phát triển mới
của lĩnh vực gây mê.
- Năm 1969 Lowenstein quan tâm và nhen lại ngọn lửa sử dụng liều cao thuốc
phiện trong gây mê và đã giới thiệu lại khái niệm dùng liều cao của morphine như
là một kỹ thuật gây mê toàn thân, về sau các dẫn chất tổng hợp khác như fentanyl,
sufentanil và alfentanil lần lượt được dùng với một liều cao ngay từ đầu trong gây
mê.
- Hiện nay có loại morphine tổng hợp mới remifentanil có thời gian tác dụng ngắn,
đặc biệt bị phá huỷ nhanh tại huyết tương do enzyme không đặc thù của tổ chức
(pseudocholinesterase) đã tạo điều kiện thoát mê nhanh cũng như thuận lợi cho
gây mê ở bệnh nhân có chức năng thận kém là một tiến bộ mới về dược chất sử
dụng trong ngành Gây mê hồi sức.
- Vào thập niên 70-80 của thế kỷ XX, một kỹ thuật gây mê mới được ứng dụng
gọi là kỹ thuật "giảm đau-liệt thần kinh trung ương" (neuroleptanalgesia) bằng

cách kết hợp hai nhóm thuốc fentanyl và droperidol (có biệt dược là Thalamonal)
để gây mê tĩnh mạch hoặc mê tĩnh mạch kết hợp đặt nội khí quản. Tuy nhiên kỹ
thuật này dần dần ít được sử dụng có tác dụng ức chế hô hấp sau mổ nếu dùng liều
cao thuốc nhóm morphine .
5. Thuốc giãn cơ
- Trong thời kỳ thuốc giãn cơ chưa có, các loại phẫu thuật được thực hiện trên
bệnh nhân bằng cách sử dụng với liều tương đối lớn của các thuốc mê với mục
đích để tạo ra giãn cơ. Nhưng liều lớn các thuốc mê sử dụng thường gây ức chế
tuần hoàn và hô hấp quá mức cũng như kéo dài thời gian tác dụng sau mổ. Hơn
nữa chúng thường không thích hợp cho những bệnh nhân ở trong tình trạng bệnh
lý nặng phải phẫu thuật.
- Vào năm 1942 Harold Griffith và Enid Johnson báo cáo nghiên cứu sử dụng dẫn
chất của curare (nhựa độc tẩm ở mũi tên để săn thú ở Nam Mỹ) dùng trong gây mê
là một mốc lịch sử lớn về sử dụng thuốc giãn cơ của ngành Gây mê Hồi sức.
- Succinylcholine là thuốc giãn cơ khử cực, được tổng hợp bởi Bover vào năm
1949 và đưa vào sử dụng năm 1951, nó được đánh giá là thuốc giãn cơ tiêu chuẩn
để đặt nội khí quản vì khởi phát tác dụng nhanh và thời gian tác dụng ngắn, hiện
nay vẫn còn được sử dụng trong một số trường hợp.
- Thuốc giãn cơ tạo điều kiện dễ dàng cho thủ thuật đặt nội khí quản cũng như
trong phẫu thuật, đặc biệt phẫu thuật các cơ quan trong ổ phúc mạc. Các thuốc
giãn cơ khác lần lượt được tìm ra và giới thiệu sử dụng trên lâm sàng (gallamin,
decamethonium, metocurin, alcuronium và pancuronium), tuy nhiên do các thuốc
này có nhiều tác dụng phụ, đặc biệt giải phóng nhiều histamin nên thường gây sốc
như dạng phản vệ. Vì vậy tìm kiếm thuốc giãn cơ lý tưởng vẫn được tiếp tục.
- Mivacum một thuốc giãn cơ không khử cực có thời gian tác dụng ngắn ra đời, nó
ít có tác dụng phụ nhưng khởi phát tác dụng vẫn chậm hơn so với succinylcholine.
Một thuốc giãn cơ mới khác xuất hiện vào thập niên 1990 đó là Rocuronium, nó
có thời gian tác dụng trung bình nhưng khởi phát tác dụng gần bằng với
succinylcholine. Sau đó có thuốc giãn cơ Rapacuronium, nó có thời gian tác dụng
và khởi phát tác dụng bằng succinylcholine. Tuy nhiên nhà sản xuất đã tự ý loại bỏ

khỏi thị trường vì có một vài báo cáo ghi nhận gây biến chứng co thắt phế quản,
ngay cả một vài trường hợp tử vong mà không giải thích được lý do.
- Ngành gây mê có bước tiến xa hơn đó là kỹ thuật đặt nội khí quản chọn lọc trong
gây mê (ngày nay áp dụng trong phẫu thuật cắt phổi), kỹ thuật được thực hiện đầu
tiên vào cuối thế kỷ XIX bởi các phẫu thuật viên như: Sir William MacEwen ở
Scotland, Joseph O'Dwyer ở Mỹ và Franz Kuhn ở Đức. Thập niên 1920, Sir Ivan
Magill và Stanley Rowbotham là người phổ biến rộng rãi kỹ thuật gây mê toàn
thân kết hợp đặt nội khí quản ở Anh.
- Với sự khám phá và tổng hợp được nhiều thuốc mê mới cũng như các phương
tiện gây mê, hệ thống mê, máy mê, máy theo dõi trong gây mê được chế tạo tinh
vi, hiện đại ngành gây mê hồi sức phát triển không ngừng. Ngày nay thực hành
gây mê không chỉ giới hạn trong phạm vi ở phòng mổ mà còn thực hiện các kỹ
thuật vô cảm cho các thủ thuật khác ở bên ngoài phòng mổ như: tán sỏi, các can
thiệp ở khoa chẩn đoán hình ảnh, nội soi can thiệp, thăm dò chức năng, đặc biệt là
công tác chăm sóc và hồi sức những bệnh nhân nặng ở các phòng, trung tâm hồi
sức.
Ngoài ra ngành gây mê hồi sức đã đi vào thực hành chuyên sâu (gây mê-hồi sức
tim mạch, thần kinh, nhi khoa, sản khoa ) và đã đáp ứng tốt cho sự phát triển của
lĩnh vực ngoại khoa, không những các loại phẫu thuật thường qui mà ngay cả các
loại phẫu thuật cao (phẫu thuật tim mạch, thần kinh, ghép cơ quan ) cũng như
cấp cứu bệnh nhân nặng ở ngoài bệnh viện.
II. Sự hình thành tổ chức ngành Gây mê Hồi sức
1. Nguồn gốc từ Anh quốc
- Những hoạt động, thực hành gây mê-hồi sức và nguồn gốc để trở thành một
chuyên ngành của y học là xuất xứ từ nước Anh. Quả thật, sau chứng minh trước
công chúng lần đầu tiên về sử dụng ether để gây mê ở Mỹ, sử dụng ether trong gây
mê đã lan rộng nhanh sang nước Anh. John Snow được đánh giá là cha đẻ của
ngành Gây mê hồi sức, ông là người Bác sĩ đầu tiên đầu tư nhiều thời gian nghiên
cứu thuốc mê hơi này. Ông cũng là người đầu tiên thực hiện thăm dò khoa học đối
với ether và sinh lý học của gây mê toàn thân và là người đầu tiên chế tạo ra

phương tiện hô hấp nhân tạo để sử dụng ether để gây mê qua đường hô hấp. Năm
1847, Snow cho xuất bản cuốn sách thứ nhất về gây mê toàn thân với tiêu đề: "On
the Inhalation of Ether" và "On Chloroform and Other Anaesthetics" là cuốn sách
thứ hai của ông được xuất bản vào năm 1858. John Snow cũng là người tiên phong
của Ngành dịch tể học, chính ông là người đã giúp ngăn được vụ dịch thương hàn
xảy ra ở London vào thời đó và đã chứng minh tác nhân gây bệnh được lây truyền
qua đường tiêu hoá chứ không phải đường hô hấp.
- Sau khi John Snow qua đời Joseph T. Clover thay vào vị trí đầu ngành gây mê
hồi sức của Anh quốc. Ông luôn nhấn mạnh phải theo dõi liên tục mạch của bệnh
nhân trong lúc gây mê, một công việc thực hành mà không được chấp nhập rộng
rãi vào thời đó. Ông là người đầu tiên mô tả và thực hiện động tác nâng hàm trong
trường hợp bị tắc đường thở và cũng là người đầu tiên dùng nòng thông chọc qua
màng giáp nhẫn để cứu sống bệnh nhân bị tắc đường hô hấp do bị khối u ở trong
miệng.
- Sir Frederick Hewitt cũng là một nhà gây mê lỗi lạc của nước Anh thời đó. Ông
là người có nhiều phát minh các phương tiện dùng trong gây mê như: dụng cụ khai
thông đường miệng (oral airway). Hewitt đã viết nhiều cuốn sách trong đó có cuốn
"Textbook of anesthesia" là cuốn sách đầu tiên thực sự viết cho gây mê và nó được
tái bản 5 lần.
Các ông Snow, Clover, Hewitt đã xây dựng nên "truyền thống của các bác sĩ gây
mê hồi sức" mà hiện nay vẫn còn tồn tại ở Anh quốc.
- Năm 1893, một tổ chức đầu tiên của những người làm chuyên khoa gây mê được
thành lập, đó là: "The society of Anaesthetists" (Hội của những người gây mê)
được J.F. Silk thành lập ở Anh.
2. Nguồn gốc từ Hoa kỳ
Ở Hoa kỳ ban đầu một vài bác sĩ được đào tạo chuyên khoa gây mê. Nhưng phần
lớn ở thời điểm này người ta quan tâm nhiều đến các thủ thuật ngoại khoa hơn là
theo dõi bệnh nhân. Ở Mayo Clinic và Cleveland clinic là nơi đầu tiên huấn luyện
và sử dụng những y tá như là người gây mê. Sau đó một tổ chức đầu tiên của
những người làm gây mê được thành lập vào năm 1911 đó là "The Long Island

Society of Anesthetists", tổ chức này về sau được đổi tên "New York Society of
Anesthetists" và trở thành tầm cở quốc gia với tên gọi: "American Society of
Anesthetists" vào năm 1936. Về sau, vào năm 1945 nó được đổi tên lại "American
Society of Anesthesiologist" (ASA).
- Ở Mỹ có ba bác sĩ gây mê nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX trong lĩnh vực gây mê đó
là: Arthur E. Guedel, Ralph M. Waters và John S. Lundy.
- Guedel là người đầu tiên viết một cách tỉ mỉ về các dấu hiệu theo dõi trong gây
mê toàn thân sau mô tả đầu tiên của John Snow. Chính ông là người đề xướng sử
dụng túi hơi chèn (cuff) của ống nội khí quản và là người giới thiệu phương thức
thông khí nhân tạo (artificial ventilation) trong gây mê, sau này Ralph Waters gọi
là hô hấp kiểm soát (controlled respiration).
- Ralph Waters là người luôn quan tâm và có công hình thành tổ chức để huấn
luyện, đào tạo chuyên khoa gây mê hồi sức của Hoa Kỳ.
3. Sự phát triển để được công nhận một chuyên khoa chính thức
Mặc dù ngành gây mê hồi sức có một sự phát triển không ngừng, có một vài tổ
chức của ngành được hình thành ở Anh, Mỹ, nhưng phải đến năm 1937 "American
Board of Anesthesiology" (nghiệp đoàn của những người gây mê của Mỹ), là tổ
chức gây mê đầu tiên mới được công nhận chính thức, dù rằng trước đó vào năm
1933 Ralph Waters là người đầu tiên đã được phong giáo sư gây mê của Hoa Kỳ ở
Đại học Wisconsin.
- Ở Anh quốc cuộc thi lấy bằng gây mê đầu tiên vào năm 1935 và Sir Robert
Macintosh được phong chức giáo sư đại học về gây mê đầu tiên ở Đại học Oxford
vào năm 1937 nhưng ngành gây mê hồi sức chỉ được công nhận chính thức vào
năm 1947 khi Khoa gây mê của Đại học Hoàng Gia các phẫu thuật viên Anh quốc
được thành lập.
Ngày nay tổ chức gây mê không còn chỉ giới hạn trong một quốc gia mà đã hình
thành một tổ chức có tầm cở thế giới đó là hội Gây mê hồi sức thế giới. Thực hành
gây mê ngày nay đã thay đổi vượt bậc so với thời kỳ John Snow. Các Nhà gây mê
hồi sức đã có truyền thống là người tiên phong trong hồi sức tim-phổi. Người gây
mê hồi sức không còn giới hạn trong việc vô cảm trong phẫu thuật mà còn thực

hiện các kỹ thuật chăm sóc bệnh nhân ở khoa hồi sức tăng cường, cấp cứu ngoại
viện
- Ngành gây mê hồi sức Việt nam được kế thừa từ những thành tựu của gây mê
hồi sức thế giới. Phát triển về gây mê ở Việt nam chỉ khoảng 50 năm trở lại đây và
vào đầu thập niên 1960 đã trở thành một chuyên ngành chính thức hoạt động trong
nền y học Việt Nam. Trước thập niên 60 của thế kỷ XX, phần lớn những người
làm công tác gây mê là những y tá hoặc kỹ thuật viên dưới sự điều hành của phẫu
thuật viên. Cho đến thập niên 1960, ngành gây mê hồi sức Việt nam mới thực sự
có vị trí của nó.
- Trước sự phát triển của ngành Gây mê hồi sức thế giới, nhu cầu của ngành Ngoại
khoa trong nước và của cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, một số bệnh viện lớn
thành lập Khoa gây mê hồi sức (khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Việt Đức; 1962),
tiếp đến tổ chức Hội gây mê hồi sức Việt Nam được thành lập, sau đó các Khoa-
Bộ môn gây mê hồi sức ở các Bệnh viện, các Trường Đại học lớn, dần dần được
thành lập để đào tạo và thực hành gây mê nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh
chóng của các ngành thuộc hệ Ngoại khoa Việt nam.

×