Tải bản đầy đủ (.pdf) (118 trang)

Nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính sinh học một số hợp chất phân lập từ cây cọ hạ long (Livistona halongensis) và cây rau má (Centella asiatica)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.83 MB, 118 trang )


1

MỞ ĐẦU

Công nghiệp phát triển, đời sống con người được nâng cao nhưng mặt
trái của nó là thảm họa môi trường. Dẫn đến, con người gặp phải các chứng
bệnh nan y như ung thư, HIV/AIDS, bệnh tim mạch hay là những dịch bệnh
phức tạp, nguy hiểm mới xuất hiện gần đây: viêm đường hô hấp cấp SARS,
cúm gia cầm H
5
N
1
, cúm lợn H
1
N
1
, v.v đồng thời một số loài động, thực vật
bị đưa vào sách đỏ và tuyệt chủng. Thực tế đó đã thúc đẩy các nhà khoa học
phải tìm ra các thuốc chữa bệnh mới có tác dụng chọn lọc, hiệu quả cao và
giá thành rẻ hơn để điều trị các bệnh hiểm nghèo cũng như tìm cách bảo vệ,
bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm.
Một trong những con đường hữu hiệu để phát hiện ra các chất có hoạt
tính tiềm năng, có thể phát triển thành thuốc chữa bệnh cho con người, gia
súc và cây trồng là đi từ các hợp chất thiên nhiên. Trải qua hàng triệu năm
tiến hóa các hợp chất thiên nhiên có khả năng tương thích với nhau dễ dàng,
tương đối phù hợp với cơ thể sống, ít độc hơn và đặc biệt là thân thiện với
môi trường.
Từ thiên nhiên người ta đã phân lập được rất nhiều hợp chất có hoạt
tính quý để làm thuốc chữa bệnh phục vụ cho đời sống xã hội. Các hợp chất
thiên nhiên có hoạt tính được sử dụng trực tiếp để làm thuốc, ngoài ra chúng


còn được dùng làm "Mô hình" cho các nghiên cứu tổng hợp và bán tổng hợp
các loại thuốc mới.
"Mô phỏng tự nhiên" là một trong những con đường đặc biệt hiệu quả
và kinh tế để tìm ra các loại thuốc mới nhằm chữa bệnh cho người, gia súc và
cây trồng chính vì vậy để tạo ra các loại biệt dược, thực phẩm bổ dưỡng
phục vụ đời sống con người thì "Nghiên cứu sàng lọc về mặt hóa học nguồn

2

tài nguyên thiên nhiên" là một trong những hướng nghiên cứu hiện đang
được các nhà khoa học ở trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên
có nguồn thực vật rất đa dạng và phong phú với khoảng 12.000 loài, đây là
nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Trong số đó đã có rất nhiều
loại cây cỏ được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh cho người, gia súc và cây
trồng, tuy nhiên hiệu quả kinh tế vẫn còn hạn chế bởi việc khai thác và sử
dụng hầu như là vẫn dựa vào kinh nghiệm dân gian. Trong những năm gần
đây, ngành hóa học các hợp chất thiên nhiên đã được trang bị nhiều phương
tiện hiện đại, các phương pháp nghiên cứu tiên tiến đã được áp dụng nên
nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như hoạt
tính sinh học của một số chi, loài, họ thực vật của Việt Nam đã được công
bố, góp phần làm sáng tỏ tính năng cũng như tăng cường hiệu quả trong khai
thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên này.
Qua tra cứu họ Cau, trên thế giới có khoảng 236 chi, 3500 loài. Ở Việt
Nam bao gồm 5 phân họ, 8 tông, 15 phân tông, 39 chi, 103 loài, 2 thứ. Theo
thống kê của TS. Trần Thị Phương Anh [1] thì họ Cau ở Việt Nam có 39 chi,
103 loài và 2 thứ, trong đó phát hiện thêm 26 loài trong họ Cau mới thấy ở
Việt Nam, đồng thời bổ sung thêm một số loài mới cho khoa học, có nhiều
loài là đặc hữu của Việt Nam, nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và
được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Trong họ Cau có rất nhiều cây đã gắn liền

với đời sống của nhân dân ta từ lâu đời. Ví dụ: Cây cau, cây dừa, cây cọ, cây
song, cây mây, . Bao đời nay, người Việt Nam cũng như một số nơi trên thế
giới như Trung Quốc, Australia, . . . đã sử dụng các loài trong họ cau để làm
nhà, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, làm thuốc, làm thực phẩm vv. Tuy
nhiên cho đến nay hầu như có rất ít công trình nghiên cứu về cấu trúc hoá
học và hoạt tính sinh học của các cây trong họ Cau của Việt Nam được công
bố.

3

Cây rau má là loài cây rất thường thấy ở các vùng có khí hậu nhiệt đới.
Trong dân gian rau má được sử dụng để làm rau ăn, làm nước giải khát và
đặc biệt nó đã được sử dụng trong nhiều bài thuốc để trị một số các chứng
bệnh thường gặp ở người và gia súc. Ở Việt Nam, cây rau má cũng rất quen
thuộc với chúng ta.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu
cấu trúc và hoạt tính sinh học một số hợp chất phân lập từ cây cọ hạ
long (Livistona halongensis T.H. Nguyen & Kiew) và cây Rau má
[Centella asiatica (Linn.) Urban]”

Với mục tiêu như trên, luận án đặt ra nhiệm vụ là:
- Thu thập mẫu thực vật và xử lý mẫu
- Điều chế các cao chiết từ mẫu thực vật
- Phân lập các hợp chất từ các cao chiết mẫu thực vật
- Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được
- Thử hoạt tính của một số dịch chiết và hợp chất phân lập được
















4

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Chi Cọ (Livistona. R. Br. )
Trên thế giới, chi Cọ (Livistona R.Br.) thuộc họ Cau (Arecaceae) có
khoảng 36 loài, phân bố ở Nam và Đông Nam châu Á, Oxtrâylia, Châu Phi
và rải rác một số khu vực trên thế giới [2]. Ở Việt Nam, cọ là những cây mọc
hoang phổ biến ở những vùng đồi núi, trung du. Chúng còn được trồng làm
cây cảnh ở nhiều nơi, và gồm có bốn loài như sau :
- Cọ hạ long (Livistona halongensis T.H. Nguyen & Kiew).
- Cọ [Livistona saribus (Lour.) Merrie. ex A. Chev.], còn có tên kè đỏ.
- Cọ xẻ [Livistona chinensis (Jacq.) R.Br.], còn gọi là kè tàu.
- Kè bắc bộ (Livistona tonkinensis Magalon).
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt một số loài của chi cọ:
1.1.1. Đặc điểm thực vật và ứng dụng của chi Cọ
1.1.1.1. Cây cọ xẻ (Livistona chinensis):
Cây cọ xẻ được giới thiệu tại hình 1.1











Hình 1.1. Cây cọ xẻ

5

Cây cọ xẻ còn gọi là kè tàu có nguồn gốc ở Nam Trung Quốc, Ấn Độ,
Nam Nhật Bản, Đài Loan và Việt Nam, được trồng rộng rãi ở nhiều vùng á
nhiệt đới, nhiệt đới và ở nhiều đảo biển. Ở Việt Nam, cây phân bố tại Yên
Bái, Tuyên Quang (Chạm Chu), Bắc Kạn, (Chợ Đồn), Thái Nguyên (Thần
Sa, Đại Từ), Quảng Ninh (Ba Mùn), Hà Nội, Ninh Bình ), Kon Tum (Đắc
Glei) Tên gọi Livistona chinensis do nhà khoa học người Áo Nicolaus
Joseph von Jacquin phát hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc và công bố dưới tên
khoa học Latania chinensis Jacq. (1801). Về sau nhà khoa học người Anh
Robert Brown cùng nhà khoa học người Đức Karl Friedrich Philipp von
Martius công bố lại dưới tên Livistona chinensis (Jacq.) R.Br. ex Mart
(1838); trong đó tính ngữ “chinensis” có nghĩa là ở Trung Quốc, tên tiếng
Anh là Chinese fan palm hoặc Chinese fountain palm. Ở Trung Quốc nó
được gọi là Bồ Quì [3]. Cây mọc đơn độc cao 8 – 15 m, đường kính 20 – 30
cm, hình trụ, nhẵn, có nhiều vòng do sẹo lá để lại. Lá hình quạt, xẻ thuỳ hình
chân vịt thành nhiều thuỳ. Bẹ lá có sợi, mép lá có gai dẹp, cong. Lưỡi gốc
phiến lá hình bán nguyệt có chóp. Thuỳ lá hình đường, đỉnh thuỳ xẻ đôi sâu
10 – 15 (30) cm, các thuỳ rủ xuống. Cụm hoa phân nhánh 2 – 3 lần, lá bắc cỡ

26 x 4 cm, 2 sống, xẻ một bên, không có lông, nhánh con mảnh, dài 10 – 15
cm. Hoa thành nhóm 4 – 5 hoa đính trên mấu lồi. Hoa hình cầu, có cạnh,
đường kính khoảng 2 mm; đài 3, tràng hợp ở gốc, xẻ 3 thùy, hình tam giác;
nhị 6, chỉ nhị ngắn, bao phấn hình bầu dục; bầu hình trứng ngược; vòi nhuỵ
ngắn. Quả hình bầu dục, cỡ 1 – 1,5 x 0,8 – 1 cm có màu xanh lục. Hạt 1, hình
bầu dục [1]. Cây ra hoa tháng 4, có quả tháng 5 – 6 [4] . Thu hái hạt suốt mùa
thu, mùa đông, thu hái lá và rễ quanh năm, rửa sạch, phơi khô.
1.1.1.2. Cây cọ (Livistona saribus (Lour.) Merrie. ex A. Chev.):
Cây cọ được giới thiệu tại hình 1.2



6














Là một loài cây mọc đơn độc, thân cột, mang lá tập trung trên đỉnh thân
tạo thành một vòm tán hình cầu. Thân cao 20 – 25 m, đường kính 15 – 30 cm,
hình trụ, khi non có nhiều cuống lá còn tồn tại, sau nhẵn, có sẹo do lá để lại.

Về tên gọi, ngoài cọ còn có nhiều tên khác nữa như cọ đỏ, cọ nam, kè, lá
gồi…, tên tiếng Trung là Đại diệp Bồ quì, tên tiếng Anh là Taraw palm. Xét
về nguồn gốc, vào giữa thế kỉ 19 người ta cho rằng nó là loài được phát hiện
đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1836, nhà khoa học người Hà Lan Karl Ludwig
von Blume đã công bố tên khoa học là Saribus cochinchinensis. Đến năm
1837, nhà khoa học người Đức Karl Friedrich Philipp von Martius công bố
lại dưới tên khoa học là Livistona cochinchinensis. Năm 1919, nhà khoa học
người Hoa Kỳ Elmer Drew Merril cùng nhà khoa học người Pháp Auguste
Jean Baptiste Chevalier đã công bố lại tên khoa học là Livistona saribus [5].
Ở nước ta, cây mọc hoang vùng đồi trung du miền Bắc và miền Trung, là cây
đặc sắc của rừng ven suối, đất ẩm vùng núi tới 1500m. Cây Phân bố rải rác
trong rừng nhiệt đới ở Hà Giang (Bắc Quang), Bắc Kạn (Na Rì), Yên Bái,
Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Phòng (Cát Bà), Thái Nguyên,
Hình 1.2. Cây cọ

7

Hà Tây (Ba Vì: Thủ Pháp), Hà Nội, Quảng Trị, Lâm Đồng (Langbiang),
Đồng Nai (Biên Hoà), TP Hồ Chí Minh (Thủ Đức). . . . Cây có dáng đẹp
trồng trang trí trong các khu du lịch, resort, công viên hoặc làm cây cảnh nhỏ
trồng ở chậu dùng trang trí nội thất Cây ra hoa vào tháng 12-2, ra quả vào
tháng 5-7 hàng năm [4].
1.1.1.3. Cây cọ bắc bộ (Livistona tonkinensis):
Là cây đặc hữu của Việt Nam. Thân thẳng, cao 25 – 30 m, đường kính
khoảng 25 cm. Khi non có nhiều cuống lá còn tồn tại, sau nhẵn, có sẹo do lá
để lại. Lá xẻ thuỳ hình chân vịt cách gốc 80 – 90 cm thành 50 – 60 thuỳ. Bẹ
lá có sợi. Mép cuống có gai dài 2,5 cm, lưỡi gốc phiến hình bán nguyệt có
chóp, cỡ 2 x 2 cm. Thuỳ hình đường, thuỳ to nhất cỡ 130 – 150 x 4 cm, đỉnh
thuỳ xẻ đôi sâu khoảng 2 cm, thuỳ thẳng đứng. Cụm hoa dài 60 – 70 cm; lá
bắc cỡ 18 x 3 cm, 2 sống, xẻ một bên, có lông rải rác. Nhánh con dài khoảng

20 cm, mảnh, hoa mọc trên những mẫu lồi. Quả bầu dục, cỡ 2 – 3 x 1 – 1,5
cm, xanh màu ôliu, có cuống dài khoảng 2 mm. Cây này mọc trên đồi, núi
đất, có quả vào tháng 8 đến tháng 10. Cây được trồng nhiều ở Bắc Việt Nam:
Bắc Kạn (Chợ Đồn), Sơn La (Xuân Nha), Lào Cai (Bảo Thắng), Tuyên
Quang (Chạm Chu), Phú Thọ (Xuân Sơn), Thanh Hoá (Bá Thước, Quan
Hoa) [1].
1.1.1.4. Cây cọ hạ long (Livistona halongensis):
Cây cọ hạ long được giới thiệu tại hình 1.3
Đây là một trong 13 loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long, mới được
phát hiện từ năm 1999, là loài mới cho khoa học, đặc trưng cho hệ sinh thái
rừng núi đá trên đảo miền Bắc Việt Nam. Cây đơn độc, cao đến 10 m, đường
kính khoảng 20 cm. Lá xẻ thuỳ hình chân vịt thành nhiều thuỳ; bẹ lá có sợi,
mép lá có gai, mặt dưới có sọc màu vàng; lưỡi gốc phiến xẻ 2 thùy tròn. Cụm
hoa thẳng, dài hơn lá. Cuống cụm hoa kéo dài nên cụm hoa dài hơn lá; lá bắc
hình ống. Hoa nhỏ, hình trứng, màu vàng kem nhạt, vươn lên trên tán; đài
nhẵn, hình ống, đỉnh xẻ 3 thuỳ. Tràng dài khoảng 2 mm, xẻ 3 thuỳ; nhị 6 dài

8

khoảng 1 mm; bầu hình bầu dục, vòi nhuỵ nhỏ. Quả hình cầu, đường kính 1 –
1,2 cm, màu xanh đậm sáng.















Cây ra hoa từ tháng 4 đến tháng 6, có quả vào tháng 7 [1]. Cây có hình
thái đẹp, thích hợp làm cây cảnh, trồng ở các khu du lịch nên có giá trị kinh
tế cao, nhưng số lượng còn lại rất ít [6].
1.1.1.5. Ứng dụng của một số loài trong chi cọ:
Các loại cọ xẻ (Livistona chinensis) và kè nam (Livistona saribus; L.
cochinchinensis Mart.) có hình dáng đẹp nên ở nước ta và một số nước trồng
chủ yếu để làm đai xanh, tôn tạo cảnh quan cho nhiều không gian xanh đô
thị, thường gặp nhất là ở các công viên, khu văn hóa, các biệt thự Ở một
vài vùng cây cọ xẻ, kè nam mọc tự nhiên, người dân còn lấy lá non chầm
nón, kết áo đi mưa (tơi); lá già có thể dùng để lợp nhà, đan túi xách, đan mũ,
dệt chiếu, làm quạt. Thân già được dùng làm cột, làm máng nước. Gốc chồi
Hình 1.3. Cây cọ hạ long

9

lá có thể dùng làm rau ăn. Quả cọ có thể nấu chín để ăn hoặc ép lấy dầu, và là
một món đặc sản của miền tây Nghệ An [10].
Rễ cây kè nam dùng chữa bạch đới, khí hư, thường phối hợp với những
vị khác như rễ cau, rễ tre, rễ cây móc với lượng bằng nhau, sắc đặc uống làm
2 lần trong ngày. Liều dùng hàng ngày 6 - 12 g [11].
Theo đông y, cây cọ xẻ (Livistona chinensis) có vị ngọt và chát, tính
bình, hạt làm tiêu ung thư, khối u, rễ có tác dụng giảm đau [11, 12]. Y học
dân gian Trung Quốc dùng hạt cọ xẻ chữa ung thư mũi, họng, thực quản, ung
thư rau, bệnh bạch cầu. Rễ cây này được dùng để trị hen suyễn, giảm đau do
tiêm. Liều dùng 15-30 g, dạng thuốc sắc. Lá để trị chảy máu tử cung 1, 11].

Đơn thuốc chứa cọ xẻ ở Trung Quốc:
- Chữa ác tính: Dùng hạt cọ xẻ 30 g, nấu với thịt lợn nạc 30 g trong 2
giờ.
- Chảy máu tử cung: Dùng cuống lá cọ xẻ đốt thành tro, hoà vào nước
uống, hoặc sao lên và nấu nước uống.
- Trong vị thuốc dân gian, hạt cây cọ xẻ L. chinensis R.Br. có tên “Quỳ
thụ tử”.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về chi cọ
1.1.2.1. Thành phần hóa học
* Nghiên cứu trong nước:
Trước đây, hầu như chưa có công trình nào trong nước nghiên cứu về
các cây thuộc chi cọ. Đầu năm 2011, Giang Thị Kim Liên và cộng sự thông
báo trên tạp chí Hoá học đã phân lập được 4 hợp chất từ các dịch chiết của
quả cọ xẻ (Livistona chinensis), gồm: 5,7,4’-trihydroxy–3’,5’–dimetoxy–
flavon (tricin, 1), 2–(hydroxy–metyl) phenyl–D–glucopyranosid (salicin, 2),
stigmast–5,22–dien–3β–O–β–D–glucopyranosid (stigmasterol glucosid, 3),
saccharose (4) [13].

10

8
7
6
5
10
9
4
3
2
O

1'
HO
OH O
2'
3'
4'
5'
6'
OCH
3
OH
OCH
3


1. Tricin


O
O
HO
OH
H
O
OH
HO


2. Salicin




H
O
H H
O
HO
HO
H
O
HO
2
3
4
5
7
8
9
10
1'
2'
3'
4'
5'
6'
6
11
12
13
14

15
16
17
18
20
22
23
24
28
29
25
27
26
21
19
1


3. Stigmasterol glucosid

11


O
O
HO
OH
HO
H
O

1
2
3
4
5
6
O
HO
HO
CH
2
OH
5'
1'
2'
3'
4'
HO


4. Saccharose


* Nghiên cứu trên thế giới:
Trong chi cọ, cây cọ xẻ được nghiên cứu nhiều về thành phần hoá học
và hoạt tính sinh học. Singh, R.P. và Kaur G. (Ấn Độ) nghiên cứu định tính
thành phần hoá học cho thấy rằng các hợp chất phenol có hàm lượng cao
[14].
Maurer – Menestrina và cộng sự (Brazil) đã tách và xác định cấu trúc
của một betaxylan (polysacharid) có nhiều nhóm thế từ nhựa quả cọ xẻ [15].

Tao Yuan và cộng sự đã phân lập và xác định được cấu trúc 14 hợp chất
trong quả cọ xẻ, chúng gồm 3 chất mới là hai depsidon (5, 6), một
benzofuran (7) và 11 hợp chất đã biết là: 3-stilben, 4-steroid, 3-flavan-3-ol,
và 1 alkaloid : trans-3,5,3',5'-tetrahydroxy-4'-metoxy-stilben (8), cis-
3,5,3',5'-tetrahydroxy-4'-metoxy-stilben (9), 4-hydroxy-3',5'-dimetoxystilben
(10), 5α,8α-epidioxy-22E-ergosta-6,22-dien-3β-ol (11), 5α,8α-epidioxy-22E-
ergosta-6,9,22-trien-3β-ol (12), 24-etylcholest-4-en-3-on (13), 6β-hydroxy-
stigmast-4-en-3-on (14), catechin (15), epicatechin (16), epiafzelechin (17),
terreusinon (18) [16].



12

O
O
O
HO
HO
OH
H
5
6
1
2
3
9
4
6'
5'

4'
3'
2'
7
1'
7'
8
5.
Depsidon 1

O
O
O
HO
HO
OH
CH
3
5
6
1
2
3
9
4
6'
5'
4'
3'
2'

7
1'
7'
8
6. Depsidon 2



O
OCH
3
OCH
3
HO
4'
3' 2'
1'
6'
5'
2
3a
4
5
6
7
1a
3
7.
Benzofuran


R
3
R
4
R
5
R
1
R
2
8.
(E) R
1
=R
2
=R
3
=R
5
=OH R
4
=OCH
3
9. (Z)
R
1
=
R
2
=

R
3
=
R
5
=OH
R
4
=
OCH
3
10. (E) R
1
=R
2
=OCH
3
R
4
= OH R
5
=R
3
=H











13

Từ quả cọ xẻ, Xiaobin Zeng, và cộng sự đã tách được 11 hợp chất
flavonoid với 3 chất mới (19, 20, 21) và 8 chất đã biết là: tricin (1), quercetin
3-O-β-D-glucopyranosid (22), isorhamnetin 3-O-β-D-glucopranosid (23),
rhamnazin 3-O-β-D-glucopyranosid (24), (-)-epiafzelechin (25), (+)–catechin
(26), 2R,3R-3,5,7,3’,5’ pentahydroxyflavan (27), (–)-catechin (28) [17].


OHO
OH
OH
OH
OH
19. 2S,3S-3,5,7,3',5'-pentahydroxyflavan
OHO
OH
20. 2R,3R-3,5,6,7,8,4'-hexahydroxyflavan
OH
HO
OH
OH





OHO
OH
OH
HO OH
OH
OH
21. 2R,3R-3,5,6,7,8,3',5'-heptahydroxyflavan



Đặc biệt, từ cây cọ úc (Livistona australis), năm 2009, Samy K El-
Desouky (Ai cập) và cộng sự đã phân lập từ lá 1 chất mới là dẫn xuất
pyranon: 3-hydroxy-2-(4-hydroxyphenyl)-6-metyl-4H-pyran-4-on (29) [18].
Năm 2011, Mona E.S. Kassem tại trung tâm nghiên cứu quốc gia (Ai cập)
cùng các cộng sự đã phân lập ra 1 hợp chất muối mới : flavon glycosid

14

sunphat (30) cùng 14 hợp chất flavonoid đã biết, gồm: genkwanin-6-C-β-
glucopyranosid (31), genkwanin-8-C-β-D-glucopyranosid (32), isovitexin
(33), isoorientin (34), orientin (35), tricin 7-O-β- D-glucopyranosid (36)
tricin 4'-O-β-glucopyranosid (37) luteolin 7-O-β-glucopyranosid (38),
quercetin 3-O-

-glucopyranosid (22) quercetin 3-O-β-galactopyranosid (39),
tricin (1), quercetin (40), apigenin (41) và luteolin (42) [19].





30. Flavon sunphat glycosid
O
OH
O
OH O
OCH
3
OCH
3
O
HO
HO
OH
OSO
3
Na
32. Genkwanin-8-C--D-glucopyranosid
O
OH
H
3
CO
OH O
H
H
HH
Glu










15





41.
Apigenin 42. Luteolin


1.1.2.2. Hoạt tính sinh học
Tại Việt Nam, Giang Thị Kim Liên và cộng sự đã báo cáo kết quả thăm
dò hoạt tính sinh học các dịch chiết từ quả cọ xẻ như sau: các dịch chiết n-
hexan và MeOH có hoạt tính ức chế sinh trưởng đối với vi khuẩn Gram (+)
Staphylococcus aureus với nồng độ IC
50
lần lượt là 46,77 và 209,71 μg/ml. Ở
hoạt tính chống oxi hoá, dịch chiết MeOH quả cọ xẻ có hoạt tính ức chế hoạt
động của enzym peroxydaza với IC
50
là 61,22 μg/ml. Dịch chiết MeOH quả
cọ xẻ có hoạt tính gây độc tế bào đối với 3 dòng tế bào ung thư thử nghiệm
là: KB (ung thư biểu mô), MCF – 7 (ung thư vú) và Hep-G2 (ung thư gan)
với các giá trị IC

50
lần lượt là 68,04; 88,30 và 101,25 μg/ml [13].

16

Singh, R.P. và Kaur G. (Ấn Độ) thông báo hoạt tính chống tạo mạch
(antiangiogenic) và hoạt tính chống tăng sinh tế bào (antiproliferative) in
vitro của dịch chiết quả và hạt cọ xẻ. Phân đoạn chứa các hợp chất phenol
của cây này có hoạt tính phá màu (hemolytic) [20]. Nhóm tác giả trên cũng
đưa ra giả thiết là hàm lượng cao các hợp chất phenol có trong cây cọ xẻ là
nguyên nhân gây chết các tế bào [14].
Nhóm nghiên cứu của Hoang W.C. (Đài Loan) đã thông báo hoạt tính ức
chế enzym sinh trưởng biểu bì (Epidermal Growth Factor, EGF) và enzym
hoạt tính phân bào (Mitogen – activated protein kinase, MAPK) trong các
dòng tế bào ung thư ở người bởi một phân đoạn protein kí hiệu là LC–X
được tách và tinh chế từ hạt cọ xẻ [21].
Zhong Z.G. và cộng sự đã công bố rằng dịch chiết ethyl acetat rễ cọ xẻ
thể hiện hoạt tính ức chế sinh trưởng đối với 7 dòng tế bào ung thư thử
nghiệm, bao gồm: ung thư dạ dày SGC 7901, ung thư máu L 1210, P 388D1,
ung thư cuống họng Hela, ung thư gan hele 7404, ung thư hắc tố da
(melanoma B16) và ung thư thần kinh chuột nhắt lai chuột cống NG 108 – 15
[22].
Dịch chiết cồn và dịch chiết nước hạt cọ xẻ đã được Cheng S. và cộng
sự nghiên cứu rất chi tiết về hoạt tính ức chế tế bào ung thư máu HL 60, kết
quả cho thấy dịch chiết cồn có hoạt tính tốt hơn [23].
Muneo Tsukiyama và cộng sự (Nhật Bản) đã nghiên cứu tác dụng chống
tích tụ mỡ, làm căng da, chống nhăn, giảm béo của dịch chiết hạt cọ xẻ. Vì
vậy, có thể nghiên cứu để sử dụng dịch chiết hạt cọ xẻ trong mĩ phẩm [24].
Ngoài ra, các hợp chất khung flavan được phân lập ra từ quả cọ xẻ như 3
chất mới (19, 20, 21) và (-)-epiafzelechin (25), (+)-catechin (26), 2R,3R-

3,5,7,3’,5’ penthahydroxyflavan (27), (–)-catechin (28) được biết đến với
các hoạt tính sinh học nổi trội như:
*.) Hoạt tính chống oxy hóa

17

Epicatechin (25) được báo cáo là có tác động giống insulin, với các hiệu
ứng bảo vệ hồng cầu. (-) Epicatechin cũng chống lại sự peroxy hóa lipid và
ức chế sự tạo khối của các tiểu cầu. (-) Epicatechin có tác dụng trong việc hỗ
trợ kiểm soát các biến chứng thứ cấp của bệnh tiểu đường. Các polyphenol
nói chung cũng được chứng minh là hữu ích trong việc bảo tồn đảo tụy chuột
in vitro [25].
Catechin (26), là một hợp chất phenol chống oxy hóa tự nhiên. Trong
nghiên cứu của Nakayma và cộng sự [26], catechin thể hiện hoạt tính ngăn
chặn độc tính tế bào của O
2
-
và H
2
O
2
trên tế bào chuột đồng Trung Quốc
V79.
*.) Hoạt tính đối với hệ tim mạch:
Lavollay, Neumann, Porrot, đã chứng minh: Catechin (26) có tác dụng
mạnh hơn vitamin C trong việc giữ bền thành mạch, chủ yếu là do khả năng
điều hòa, làm giảm sức thấm vào mao mạch, ngăn cản không cho protit của
máu thẩm dịch qua các mô khác, có tác dụng dự phòng vỡ mao mạch, gây
xuất huyết , gây phù thũng [27, 28].
Epicatechin (25), có thể cải thiện lưu thông máu và có lợi ích tiềm năng

cho sức khỏe tim [25].
*.) Hoạt tính gây độc tế bào, chống ung thư
Chất mới phân lập từ quả cọ xẻ: 2S,3S–3,5,7,3′,5′–pentahydroxyflavan
(19) có tác dụng ức chế đáng kể đối với dòng tế bào HL–60 với IC50 là 0,2 ±
0,01 và CNE–1 với IC50 là 1,0 ± 0,1 μM áp đảo so với các hợp chất tham
khảo trong các thử nghiệm [16, 17].
Hợp chất muối mới flavon glycosid sunphat (30), từ cây cọ úc (Livistona
australis) được Mona E.S. Kassem (Ai cập) cùng các cộng sự phân lập ra, có
hoạt tính chống oxi hoá tốt, đã được đánh giá bằng cách xác định mức
glutathion (GSH) của máu [19].


18

1.2. Chi rau má (Hydrocotyle; Centella)
1.2.1. Đặc điểm thực vật và ứng dụng
Rau má là cây thân thảo, mọc hoang ở khắp nơi, đặc biệt là ở những nơi
đất ẩm. Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, vào can,
tỳ vị có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Rau
má thường dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí
hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sẩy.
Tham khảo các tài liệu [29, 30] thấy ở Việt Nam có 12 loài rau má:
*. Rau má, liên tiền thảo: Centella asiatica (L.) Urb.
*. Rau má chevalier: Hydrocotyle chevalieri (Chern.) Tard.
*. Rau má trung quốc: Hydrocotyle chinensis (Dunn) Craib.
*. Rau má java, rau má lá to: Hydrocotyle nepalense Hook.
*. Rau má pételot: Hydrocotyle petelotii Tard.
*. Rau má dạng sanh cầu: Hydrocotyle pseudosanicula De Boiss.
*. Rau má xiêm: Hydrocotyle siamica Craib.
*. Rau má nhỏ: Hydrocotyle sibthorpioides LamK.

*. Rau má bắc bộ: Hydrocotyle tonkinensis Tard.
*. Rau má wilford: Hydrocotyle wilfordii Maxim.
*. Rau má lá sen: Hydrocotyle vulgaris (L.)
*. Rau má lá sen: Hydrocotyle bonariensis (L.)
1.2.1.1. Rau má java, rau má lá to:
Cây Rau má lá to được giới thiệu tại hình 1.4
Rau má lá to (Hydrocotyle nepalense Hook), (H. javanica Thunb.),
thuộc họ Hoa tán [Apiaceae], nó còn được gọi là rau má dại, rau má rừng.
Cây thảo có thân mọc bò trên mặt đất, dài 0,5-1,2m. Rau má lá to thường
thấy ở các nước như Nêpan, Ấn Ðộ, Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia và
Việt Nam. Ở nước ta, cây này thường thấy mọc tập trung thành từng đám lớn

19

ở những nơi ẩm ướt tại các tỉnh Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Bắc Thái, Khánh Hoà,
Lâm Ðồng, Kontum, Ninh Thuận.















Theo Đông y rau má lá to có vị cay, hơi đắng, nó có tác dụng chỉ huyết,
chỉ thống tán ứ thanh nhiệt, thanh phế chỉ khái. Ở một số nước như Ấn Ðộ,
Sri Lanca, Malaixia, Trung Quốc cây này được dùng trị chứng thổ huyết, ho,
đau bụng, gãy xương, lở ngứa, chó cắn, làm thuốc sát trùng. Ðồng bào Dao
dùng toàn cây, giã ra, rắc xuống nước để duốc cá.
1.2.1.2. Rau má nhỏ, rau má mỡ
Tên khoa học: Hydrocotyle sibthorpioides Lam. (H.
rotumdifolia Roxb.), thuộc họ Hoa tán [Apiaceae]. Cây thảo thân nhỏ sống
nhiều năm, mọc hoang ở những chỗ ẩm thấp ven đường đi, bờ ruộng ẩm. Cây
này thường được dùng để trị các chứng bệnh như: viêm gan vàng da, xơ gan
cổ trướng, sỏi mật, ỉa chảy, bệnh đường tiết niệu, sỏi niệu; cảm cúm, ho, ho
Hình 1.4. Cây rau má lá to

20

gà, viêm miệng, viêm hầu, sưng amidan viêm kết, trị viêm kẽ mô quanh
móng tay, eczema, bệnh zona và chảy máu cam.
1.2.1.3. Rau má lá sen:
Cây Rau má lá sen được giới thiệu tại hình 1.5
Cây rau má lá sen [Hydrocotyle vulgaris (L.)], Thuộc họ hoa tán
[Apiaceae], là loài mới được phát hiện ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.














Loài rau má lá sen - Hydrocotyle vulgaris rất dễ bị nhầm với loài rau má
lá sen - Hydrocotyle bonariensis bởi chúng mọc xen lẫn với nhau và có hình
dạng rất giống nhau. Hai loài cây cùng tên rau má lá sen này chỉ khác nhau ở
bộ phận hoa nên thường hay bị lẫn khi thu hái.
1.2.1.4. Rau má thường (Rau má):
Cây Rau má thường được giới thiệu tại hình 1.6
Hình 1.5. Cây rau má lá sen

21

Trong số các loài rau má thì cây rau má thường [Centella asiatica
(Linn.) Urban], là loài rau má đã được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm
nghiên cứu.
Cây rau má thường có tên khoa học là Centella asiatica (Linn.) Urban,
thuộc họ hoa tán [Apiaceae]. Ngoài ra còn có các tên gọi khác như là Tích
huyết thảo, Liên tiền thảo. Ở nước ta cây này thường được gọi một cách đơn
giản là rau má Rau má là loài cây thân thảo mọc bò, rễ mọc từ các mấu của
thân, cây phân nhánh nhiều trên mặt đất. Lá rau má có cuống dài mọc ra từ
gốc hoặc từ các mấu. Lá hình hơi tròn, có mép khía tai bèo, trông giống như
những đồng tiền nhỏ xếp nối tiếp nhau. Hoa ra ở nách lá, tạo thành cụm từ
1đến 5 bông, hình tán đơn, cuống hoa màu trắng hoặc phớt đỏ. Quả dạng dẹt,
có sống khá rõ ràng.















Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, có tác dụng
dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Nó thường dùng để làm
thức ăn bổ dưỡng, thuốc sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới,
mụn nhọt, rôm sẩy, trị chứng cảm mạo phong nhiệt, thuỷ đậu sởi, sốt da vàng
Hình 1.6. Cây rau má thường

22

mặt, viêm họng, sưng amidan, viêm khí quản, ho, viêm đường tiết niệu, đái
dắt, buốt
1.2.1.5. Cây rau má trong một số bài thuốc dân gian [31]
Trong dân gian ngoài việc sử dụng rất rộng rãi để làm rau ăn, làm nước
giải khát , cây rau má còn được sử dụng trong một số bài thuốc dân gian
như:
- Toa căn bản, ra đời vào khoảng năm 1950 do cụ Võ Văn Hưng, một
lương y giàu kinh nghiệm ở Miền đông nam bộ soạn. Sau đó được Bác sĩ
Nguyễn Văn Hưởng, Bộ trưởng Bộ Y tế thời bấy giờ hưởng ứng và khuyến
khích sử dụng. Toa này gồm 10 vị là toa thuốc rất quen thuộc ở các Bệnh
viện, trạm y tế từ bộ đội đến nhân dân, đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ
sức khoẻ nhân dân trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ. Toa căn bản có đặc điểm là không có độc tính, dễ sử dụng, có tác dụng
kích thích tiêu hoá, nhuận gan, nhuận trường, lợi tiểu, giải độc và tăng cường
sức đề kháng của cơ thể. Tuỳ theo tình trạng của người bệnh và điều kiện của
địa phương mà linh động gia giảm vị thuốc hoặc liều thuốc.
Toa thuốc gồm: Rau má 8 g, rễ tranh 8 g, lá muồng trâu 4 g, cỏ mần
chầu 8 g, cỏ mực 8 g, cam thảo nam 8 g, ké đầu ngựa 8 g, củ sả 4 g, gừng
tươi 4 g, vỏ quít 4 g. Đổ 3 chén nước sắc còn non một chén, uống lúc thuốc
còn ấm.
- Hoàn ích khí, dưỡng âm, trợ cơ, cứu đói. Làm thuốc bổ dưỡng cho trẻ
em, người già hoặc ngưòi ốm mới khỏi hoặc dùng làm lương khô mang theo
khi đi xa phòng. Toa thuốc gồm 4 vị : Lá dâu tầm, Mè đen, Bột củ mài và
Rau má. Mỗi vị ngang nhau, tán bột làm hoàn, mỗi hoàn khoảng 5 g. Mỗi
ngày dùng 2 lần, mỗi lần 1 hoặc 2 hoàn.
- Thoái nhiệt đơn. Có công dụng giảm nhiệt, hạ sốt, trừ khát, trấn kinh.
Rau má 15%, Hoạt thạch 30%, Sắn dây 20%, Sài hồ 15%, Thạch cao 10%,
Cam thảo 10%. Tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4g.

23

- Thuốc hạ huyết áp. Rễ nhàu 16 g, Rễ kiến cò 12 g, Lá tre l2 g, Rễ tranh
12 g, Rễ cỏ xước 12 g, Rau má 16 g, Lá dâu 12 g, sắc uống, hoặc làm trà
uống thay nước.
- Sốt xuất huyết: Rau má 20 g, Cỏ mực 16 g, Rau sam 16 g, Đậu đen 16
g. Sắc uống.
- Chảy máu chân răng, chảy máu cam và các chứng chảy máu: Rau má
30 g, Cỏ nhọ nồi và Trắc bá diệp mỗi vị 15 g sao, sắc nước uống.
- Khí hư bạch đới: Rau má phơi khô làm thành bột dùng 2 thìa cà phê
uống mỗi sáng .
- Thống kinh, đau lưng, đau bụng, ăn kém uể oải: Rau má 30 g, ích mẫu
8 g, Hương nhu 12 g, Hậu phác 16 g. Ðổ 600 ml nước, sắc còn 200 ml chia 2

lần uống trong ngày.
- Viêm hạnh nhân: Rau má tươi giã lấy nước cốt, hoà ít giấm nuốt từ từ.
Ho, đái buốt, đái dắt: Rau má tươi giã lấy nước cốt uống hoặc sắc uống.
- Viêm tấy, mẩn ngứa: Rau má trộn dầu giấm ăn, hoặc giã nát vắt lấy
nước, thêm đường uống.
- Thuốc lợi sữa: Rau má ăn tươi hay luộc ăn cả cái và nước.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về chi rau má
1.2.2.1.Thành phần hóa học
Từ những năm 1940, cây rau má đã được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu công bố về thành
phần hóa học của các loài cây rau má cũng như hoạt tính sinh học của chúng.
 Cây rau má lá sen (Hydrocotyle vulgaris)
Năm 2007, từ dịch chiết ethyl acetat của cây rau má lá sen (Hydrocotyle
vulgaris), nhóm tác giả Tôn Nữ Liên Hương (Trường Đại Học Cần Thơ) đã
phân lập được 16 hợp chất là hexenal, (2E)-hexenal, hexen-1-ol, santalen, β-
carnesen, β-cubeben và quercetin 3-O-galactopyranosid (43) [32].

24


OHO
OH O
O
O
OH
OH
OH
H
O
OH

OH


43. Quercetin 3-O-galactopyranosid

 Cây rau má [Centella asiatica (Linn.) Urban.]
+ Tinh dầu
Nhóm tác giả Qin L.P., Ding R.X. Zhang W.D. và cộng sự đã dùng
phương pháp GC - MS để nghiên cứu thành phần tinh dầu cây rau má, qua đó
đã xác định 45 chất có trong tinh dầu rau má. Caryophyllen, farnesol và
elemen là thành phần chính của tinh dầu rau má [33, 34]. Từ tinh dầu cây rau
má sinh trưởng ở Nam Phi, nhóm tác giả này đã tìm 11 monoterpenoid, 9
monoterpenoid chứa oxy, 14 sesquiterpenoid, 5 sesquiterpenoid chứa oxy, và
1 sesquiterpenoid sulfid. α-humulen, β-caryophyllen và bicyclo-germacren là
các chất chính trong tinh dầu cây này [35].
+ Triterpenoid :
Triterpenoid là thành phần quan trọng nhất của cây rau má. Chất lượng
của cây rau má được đánh giá bởi hàm lượng của triterpenoid có trong cây.
Các triterpen thu được từ cây rau má thường là các axit pentacyclic
triterpen và glycosid, chứa khung ursan hoặc khung oleanan như: axit asiatic,
asiaticosid, axit madecassic, madecassosid, brahmosid, axit brahmic,
brahminosid, thankunisid, isothankunisid, centellosid, axit madasiatic, axit
centic, axit cenellic, axit betulinic, axit indocentic,

25

+ Flavonoid:
Kết quả nghiên cứu của Zainol M. K., Abd-Hamid A., Yusof S., cho
thấy quercetin và kaempferol, catechin, rutin và naringin là các hợp chất
phenolic chính của cây rau má [36].

+ Các hợp chất khác
Các hợp chất dạng polysaccharid, polyin, alken, acid amin, acid béo,
sesquiterpen, alkaloid, sterol, carotenoid, tanin, chlorophyl, pectin, các muối
vô cơ, cũng đã được tìm thấy ở cây rau má.
Từ cây rau má Centella asiatica (Linn.) Urban, sinh trưởng ở Srilanka,
nhóm tác giả người Nhật (Hisashi Matsuda - Trường đại học Dược, Kyoto-
Nhật Bản) đã phân lập được 8 tritecpen glycosid là: centellasaponin A (44),
centellasaponin B (45), centellasaponin C (46), centellasaponin D (47),
madecassosid (48), asiaticosid (49), asiaticosid B (50) và sceffoleosid (51)
[37].




44: Centellasaponin A


45: Centellasaponin B

×