Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Luận văn tốt nghiệp : Tình hình chung hiện nay của hạch toán thuê tài sản cố định phần 2 doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (130.02 KB, 12 trang )


13

4. Những u điểm của chuẩn mực kế toán Việt nam phần "TSCĐ thuê tài
chính" đối với đơn vị đi thuê.
Chuẩn mực 06 phần thuê tài sản mới ban hành theo Quyết định số
165/2002/QĐ-BTC đã có nhiều u điểm hơn so với các chuẩn mực đã ban hành
trứơc đó.
Trớc hết, xét về sự thay đổi trong việc tính tiền lãi thuê TSCĐ mà bên
thuê phải trả.Trớc đây, tại thời điểm thuê, toàn bộ lãi thuê phải trả trong suốt
thời gian đi thuê lãi thuê lại đợc ghi nhận cùng một lúc vào tài khoản 142(1421-
Chi phí trả trớc).Về thực chất số lãi này mới đợc thoả thuận theo hợp đồng
thuê chứ cha trả. Hơn nữa tài khoản 1421 đợc dùng để theo dõi các khoản trả
trớc có thời gian phân bổ trong vòng 1 năm trong khi tổng số lãi thuê quá lớn
thậm chí nhiều hợp đồng số lãi này còn lớn hơn cả số gốc( lãi suất trên thế giới
tại thời điểm này phổ biến ở mức 11%). Sự thay đổi trong việc tính lãi vay đã làm
cho giao dịch thuê tài sản đợc chính xác. Đó là việc phản ánh lãi thuê vào Tài
khoản 635- chi phí tài chính.
Chuẩn mực mới ban hành cũng có sự thay đổi trong tính thuế GTGT ở bên
đi thuê trong điều kiện áp dụng luật thuế GTGT. Số thuế GTGT của TSCĐ thuê
tài chính do bên cho thuê nộp khi mua hoặc nhập khẩu tài sản sẽ đợc bên đi
thuê trả dần trên cơ sở hợp đồng thuê tài chính. Nh vậy về phía nhà đi thuê
ngoài việc trả tiền thuê còn phải trả tiền thuế GTGT mà bên cho thuê đã thanh
toán cho nhà cung cấp tài sản ( nếu mua trong nớc) hoặc đã nộp ngân sách nhà
nớc( trờng hợp nhập khẩu).Toàn bộ thuế GTGT đầu vào của tài sản thuê mà
bên cho thuê đã thanh toán đợc bên thuê ghi nhận cùng lúc với việc ghi tăng
TSCĐ. Sau khi hạn thuê kết thúc tài sản thuê đợc chuyển quyền sở hữu thì khi

14

đó tài sản này lại đợc tính thuế GTGT thêm một lần nữa. Nh vậy đơn vị thuê


TSCĐ thuê tài chính đã phải chịu hai lần thuế trớc bạ. Một lần bên cho thuê tính
vào giá mua trong thời gian thuê và một lần đợc tính khi kết thúc hợp đồng thuê
chuyển quyền sở hữu. Điều bất hợp lý này đã đợc sửa đổi trong chuẩn mực mới
ban hành. Khoản thuế mà đơn vị thuê phải chịu khi thuê tài sản sẽ đợc khấu trừ
dần theo hợp đồng và doanh nghiệp đi thuê chỉ thực sự chịu thuế khi mua lại tài
sản thuê.
5. So sánh giữa chuẩn mực kế toán Quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt nam
về TSCĐ thuê tài chính.
Phần lớn quy định hiện hành về TSCĐ thuê tài chính ở Việt nam tơng
thích với nội dung của chuẩn mực kế toán quốc tế và có sự tiếp thu từ chuẩn mực
kế toán quốc tế để ngày càng hoàn thiện.
Hầu hết các đơn vị đi thuê và đơn vị cho thuê đều áp dụng theo yêu cầu
của chuẩn mực và đem lại thuận lợi cho các công ty tham gia vào hoạt động tài
chính. Việc phân loại cho thuê là thuê hoạt động hay thuê tài chính đợc xác
định ngay tại thời điểm khởi đầu cho thuê.
Việc kế toán của bên thuê cũng hạch toán nh nhau:Tại thời điểm khởi
đầu thuê tài sản, tài sản và nợ tơng ứng cho việc thanh toán tiền thuê sau này
đợc ghi nhận theo cùng một giá trị trong bảng cân đối kế toán. Các chi phí trực
tiếp ban đầu liên quan đến hoạt động thuê đợc vốn hoá vào tài sản. Thanh toán
tiền thuê bao gồm chi phí tài chính và nợ phải trả.
Bên đi thuê có trách nhiệm tính, trích khấu hao TSCĐ và chi phí sản xuất
kinh doanh theo định kỳ trên cơ sở áp dụng chính sách khấu hao nhất quán với
chính sách khấu hao của tài sản cùng loại thuộc sở hữu của doanh nghiệp đi thuê

15

( theo quy định của Chuẩn mực kế toán'Tài sản cố địnhhữu hình' và chuẩn mực
kế toán' Tài sản cố định vô hình').
Chuẩn mực kế toán quốc tế đã quy định điều kiện một tài sản thoả mãn là
thuê tài chính là thời hạn cho thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của

tài sản. Chuẩn mực kếtoán mới ban hành ở Việt nam cũng quy định điều này.
Các thông tin trên báo cáo tài chính của bên thuê tài chính đều phải đảm
bảo các chỉ tiêu: Tiền thuê phát sinh thêm đợc ghi nhận là danh thu trong kỳ;
phải lập dự phòng luỹ kế cho các khoản phải thu khó đòi về khoản thanh toán
tiền thuê tối thiểu; giá trị còn lại của tài sản thuê không đợc đảm bảo theo tính
toán củabên cho thuê; diễn giải khái quát về những thoả thuận cho thuê quan
trọng. Đồng thời trên báo cáo tài chính của bên đi thuê cũng phải có các chỉ tiêu:
Giá trị còn lại của tài sản là đối tợng của hợp đồng thuê tài chính tại thời thời
điểm lập báo cáo; Tiền cho thuê bất thờng đợc ghi nhận là chi phí trong kỳ;
diễn giải khái quát về những thoả thuận cho thuê quan trọng.
Bên cạnh đó còn có một số khác biệt giữa hai chuẩn mực trên:
+Xét về hình thức trình bày chuẩn mực: IAS 17 trình bày các vấn đề theo
các tiêu thức cụ thể có liên quan đối với từng bên thuê và bên cho thuê: khoản
thanh toán tiền thuê tối thiểu, Giá trị còn lại của tài sản thuê đợc đảm bảo; ghi
nhận thuê tài sản trong báo cáo tài chính và trình bày báo cáo tài chính. Trong
khi đó chuẩn mực kế toán Việt nam( chuẩn mực 06) lại trình bày mỗi vấn đề cho
từng bên.
+Xét về nội dung:
Chuẩn mực kế toán Việt nam quy định rằng việc phân loại tài sản thuê nên
dựa vào bản chất của nghiệp vụ khôngnên dựa vào hình thức của hợp đồng trong

16

khi đó theo chuẩn mực kế toán quốc tế việc phân loại chỉ mang tính hớng dẫn,
phần lớn các tiêu thức này chỉ mang tính chất định tính vì vậy rất khó áp dụng.
Việc xác định giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cũng
có sự khác nhau. Chuẩn mực kế toán Việt nam quy định khoản tiền này chiếm
phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê trong khi chuẩn mực kế toán quốc tế lại
yêu cầu khoản thanh toán này xấp xỉ giá trị hợp lý của tài sản cho thuê.
Về các chỉ tiêu đợc trình bày trên báo cáo tài chính ở bên đi thuê cũng có

sự khác biệt. Trong IAS 17 có quy định thêm một số chỉ tiêu nh: Yêu cầu đối
với nhà xởng, máy móc và thiết bị cho thuê; Số tiền thanh toán thuê lại tối thiểu
trong tơng lai dự tính thu đợc dới hình thức cho thuê lại không thể huỷ bỏ vào
ngày lập bảng cân đối kế toán.
6. Hạch toán TSCĐ thuê tài chính:
6.1. Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi tình hình đi thuê TSCĐ dài hạn, kế toán sử dụng tài khoản
212 TSCĐ thuê tài chính.
Bên nợ: Phản ánh nguyên giá TSCĐ thuê tài chính tăng.
Bên có: Phản ánh nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính giảm do chuyển
trả lại cho bên cho thuê khi hết hạn hợp đồng hoặc mua lại thành TSCĐ của
doanh nghiệp.
Số d bên nợ: Phản ánh nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính hiện có.
5.2. Sơ đồ hạch toán:

17


Kế toán TSCĐ thuê tài chính
(Trờng hợp khoản nợ phải trả xác định theo
giá mua cha có thuế GTGT)























623,627
641,642
Khi trích
TK 111, 112

TK 142

Khi phát sinh
các chi phí trực
tiếp ban đầu khi
nhạn TSCĐ thuê

TK 244

Khi chi tiền ký
quỹ đảm bảo
thanh toán tiền

thuê
TK 635

Định kỳ nhận đợc
hoá đơn chi tiền trả nợ

Nợ
TK 133

Nợ lãi

Thuế

GTGT

623,627,641,64
GTGT

Thuế

(PP khấu trừ)
(PP trực tiếp)
TK 315

Khi chi tiền trả nợ
thuê TSCĐ chính
TK 342

Cuối kỳ k/c số nợ
đến hạn trả vào kỳ

Khi nhận

Số nợ phải
trả kỳ này
TSCĐ
TK 111,112
Nguyê
n
Giá
Tài
Sản
cố
định
Thuê

Tài
chính

CP tr
ực
tiếp phát
sinh khi
nhận
TSCĐ
TK 212

Khi hết thời hạn
trả TSCĐ thuê cho
bên cho thuê
TK 2141

TK 2142

TK 211
Khi mua lại TS thuê

TK
Khi phải trả
thêm tiền
K/c số
Khấu hao

TSCĐ thuê

KHTS
thuê tài
chính
K/c số chi phí trực tiếp ban đầu
phát sinh khi nhận TSCĐ thuê

18


Kế toán TSCĐ thuê tài chính
(Trờng hợp khoản nợ phải trả xác định theo
giá mua có cả thuế GTGT)

















K/c số chi phí trực tiếpban đầu
phát sinh khi nhận TSCĐ thuê
TK 111, 112 TK 142

Khi phát sinh các chi
phí trực tiếp ban

đầu trớc khi
nhận TSCĐ
thuê

TK 244

Khi chi tiền ký quỹ

đảm bảo thanh
toán tiền thuê

Nguyên giá

TSCĐ thuê
TK 212

Trả lại
TSCĐ thuê
cho bên cho thuê
Khi hết hạn thuê
TK 2142
623,627
641,642
Khi trích
KHTS thuê
Tài chính
TK 2141
K/c số
Khấu hao
TSCĐ thuê

TK 111,112

CP trực tiép
Phát sinh
khi nhân
TSCĐ
TK 111, 112

Trả
thêm tiền
TK 211
K/c giá trị TSCĐ

Thuê khi hết hạn
thuê đơn vị mua
lại

TK 315

Khi nhận đợc
Hoá đơn
chi tiền
trả luôn

Cuối kỳ K/c số nợ

đến hạn trả
vào kỳ sau

Nhận hoá đơn
Ch
TK 342

TK 635

Nợ lãi
TK 138

Định kỳ nhận hoá
đơn tính thuế GTGT


Vào chi phí

SXKD (PP trực
tiếp

TK 133

623,627,641,642

Định kỳ nhận hoá
đơn tính thuế
GTGT vào chi phí
SXKD

Số nợ phải trả kỳ này
Số nợ phải trả ở

Các kỳ tiếp theo

Số thuế GTGT

đầu vào

19


Phơng pháp kế toán bán và thuê lại tài sản là thuê tài chính











Phân bổ

TK 111,112

TK 242

TK 342
Giá bán
Lỗ
TK 315
Nợ dài hạn

Số phải trả

kỳ này
Giá cha có

thuế GTGT

Thuế GTGT

đợc khấu trừ
TK 212

TK 133

(1332)

TK 212

TK 818

TK 214

NG

GTCL
GTHM

TK 711

Giá trị còn lại

TK 3387


TK 3331


Lãi
Phân bổ










20

Phần II: Thực trạng và giải pháp
Về thuê và cho thuê tscđ
1. vai trò của hoạt động cho thuê tài chính trong nền kinh tế
thị trờng Việt nam hiện nay.
1.1. Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính đối với nền kinh tế.
-Hoạt động cho thuê tài chính góp phần thu hút vốn đầu t cho nền kinh
tế.Trong xu thế hội nhập và giao lu quốc tế ngày nay, cho thuê tài chính góp
phần giúp nớc ta đa dạng hoá việc thu hút các nguồn vốn từ nớc ngoài cho
đầu t phát triển thông qua các loại máy móc, thiết bị thuê mà chúng ta nhận
đợc. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế còn thấp thì hoạt động cho thuê tài
chính càng có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài bằng
máy móc, thiết bị giúp các doanh nghiệp hiện đại hoá sản xuất, tăng năng lực
hoạt động, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Mặt khác cho thuê tài chính
là họat động tín dụng có mức độ rủi ro thấp hơn các hình thức tín dụng khác vì
bên cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sản nên bên đi thuê không may bị phá
sản thì bên cho thuê mặc nhiên thu hồi tài sản của mình. Do đó có thể khuyến
khích các tổ chức kinh doanh tiền tệ (các ngân hàng thơng mại,công ty tài
chính) đầu t vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Và để thực hiện hoạt
động cho thuê tài chính các tổ chức kinh doanh tiền tệ phải tìm cách để thu hút
vốn nhàn rỗi ở các đối tợng khác nhau trong nền kinh tế phục vụ cho hoạt động
này.
-Cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, đẩy
nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Thông qua hoạt
động cho thuê tài chính, các loại máy móc, thiết bị hiện đại có điều kiện để đa

vào các doanh nghiệp góp phần nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, đáp ứng
đợc nhu cầu đổi mới công nghệ với tốc độ nhanh từ đó đẩy nhanh tiến trình

21

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
1.1 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính đối với ngời cho thuê.
-Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ vốn có độ an toàn cao.Trong hình
thức tài trợ này, quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc ngời cho thuê vì vậy họ có
quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài sản. Trờng hợp có biểu hiện đe doạ
sự an toàn của tài sản cho thuê thì ngời cho thuê có thể thu hồi tài sản. Do vậy
ngời cho thuê tránh đợc thiệt hại có thể mất vốn đầu t.
Khoản vốn đầu t qua hoạt động cho thuê tài chính chắc chắn sẽ đợc sử
dụng đúng mục đích, vì vậy đảm bảo khả năng trả nợ của ngời đi thuê,điều nay
cũng có nghĩa là đảm bảo khả năng thu hồi vốn đầu t của ngời cho thuê. Mặt
khác do cho thuê tài chính là hình thức tài trợ bằng hiện vật nên hạn chế đợc
ảnh hởng của lạm phát, ngời cho thuê có thể bảo toàn đợc giá trị của vốn đầu
t.
- Cho thuê tài chính là phơng thức kinh doanh cho phép ngời cho thuê
linh hoạt trong kinh doanh. Do tiền thuê và lãi thuê đợc ngời đi thuê trả dần
hàng kỳ, vì vậy trong thời gian cho thuê, vốn đầu t đợc thu hồi dần cho phép
ngời cho thuê tái đầu t vốn vào các hoạt động kinh doanh khác để kiếm lời và
luôn giữ đợc nhịp độ hoạt động.
1.3 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính đối với ngời đi thuê.
-Nhờ có hoạt động cho thuê tài chính mà ngời đi thuê có thể gia tăng
năng lực hoạt động trong điều kiện hạn chế về khả năng tài chính.Ngời đi thuê
trong quan hệ thuê tài chính thờng là các doanh nghiệp có nhu cầu tăng năng
lực hoạt động trong khi khả năng tài chính hạn chế. Nếu doanh nghiệp di vay
theo các thể thức tín dụng thông thờng thì khó thực hiện vì có thể thiếu tài sản
thế chấp, hiện tợng này thờng xảy ra đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

(loại hình doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn ở nớc ta). Thông qua hoạt động
thuê tài chính, các doanh nghiệp này có thể từ tay không mà vẫn có đợc máy

22

móc, thiết bị phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh nhằm tăng năng lực hoạt
động và nhờ đó, nếu sử dụng có hiệu quả các máy móc, thiết bị này thì sau một
thời gian thì có thể có đợc một số tài sản nhất định.
-Hoạt động cho thuê tài chính giúp các doanh nghiệp cha đủ các điều
kiện để vay vốn của các tổ chức tín dụng cũng có thể nhận đợc vốn tài trợ để
thoả mãn nhu cầu vốn cố định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với các
doanh nghiệp cha có uy tín với các tổ chức tín dụng trong khi tài sản để thế
chấp không nhiều, họ khó thoả mãn các điều kiện dể đợc nhận tài trợ vốn bằng
các thể thức tín dụng thông thờng nhằm thoả mãn nhu cầu bổ sung vốn cố
định.Trong khi đó, do đặc thù của hoạt động cho thuê tài chính là ngời cho thuê
vẫn nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản cho thuê, nên ngời cho thuê vẫn
sẵn sàng thoả mãn nhu cầu vốn cố định của khách hàng ngay cả khi vị thế tài
chính và uy tín của họ có hạn chế.
-Hoạt động cho thuê tài chính có thể giúp doanh nghịêp đi thuê không bị
đọng vốn trong tài sản cố định. Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính đợc
phát huy ngay cả đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành lạnh
nhng muốn giành vốn tích luỹ cho mục đích kinh doanh khác. Trong trờng
hợp này, khi họ có nhu cầu về tài sản cố định thì vẫn có thể thực hiện đợc thông
qua thuê tài sản theo phơng thức thuê tài chính. Điều này gíup các doanh
nghiệp đi thuê không bị đọng vốn trong tài sản cố đinh.
-Thuê tài chính là cách để các doanh nghiệp (ngời đi thuê) rút ngắn
thời gian triển khai đầu t, đấp ứng kịp thời điều kiện khai thác các cơ hội kinh
doanh. Là hình thức tín dụng có mức độ rủi ro thấp, vì vậy các thủ tục và điều
kiện để đợc thuê tài sản đơn giản, nhanh chóng, các công ty cho thuê tài chính
dễ dàng tài trợ vốn cho ngời cho nhu cầu vốn(ngời đi thuê) bằng cách cho

thuê tài chính, cho phép ngời đi thuê rút ngắn thời gian đầu t thiết bị, máy
móc để kịp thời khai thác các cơ hội kinh doanh. Mặt khác, các công ty cho thuê

23

tài chính thờng có chuyên môn sâu trong lĩnh vực tài sản cho thuê nên họ có
thể tổ choc cung ứng tài sản cho thuê theo phơng thức khép kín: cho thuê thiết
bị gắn với phụ tùng, linh kiện và t vấn về kỹ thuật công nghệ cho ngời đi
thuê. Từ đó giúp ngời đi thuê kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng tài sản, tận
dụng cơ hội kinh doanh.
-Thông qua khai thác, sử dụng tài sản thuê, ngời đi thuê thực hiên hiên
đại hoá sản xuất theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới. Đổi mới máy
móc, thiết bị để theo kịp đà phát triển nhanh chóng của công nghệ mới trong bối
cảnh hiện nay là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế
thị trờng. Nhng đây là vấn đề khó khăn đối với các doanh nghiệp nớc ta hiện
nay, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thông qua thuê tài chính, các
doanh nghiệp có thể có đợc những máy móc, thiết bị hiện đại để hiện đại hoá
sản xuất, thậm chí có thể nhận đợc lời khuyên từ công ty cho thuê chuyện
nghiệp nên áp dụng trình độ ở mức độ nào cho phù hợp với điều kiện cụ thể của
doanh nghiệp, với thị trờng mà vẫn phù hợp với xu thế phát triển công nghệ
mới.
-Thông qua thuê tài sản theo phơng thức thuê tài chính cho phép các
doanh nghiệp thu hút vốn đầu t của nớc ngoài. Ngời cho thuê trong quan hệ
thuê tài chính có thể là các công ty thuê mua quốc tế với 100% vốn nớc ngoài
hoặc các công ty liên doanh thuê mua hoạt động ở Việt Nam, do đó thông qua
họat động thuê máy móc, thiết bị của các công ty này các doanh nghiệp có thể
thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Mặt khác mức lãi suất ngoại tệ trên thị trờng
vốn quốc tế thấp hơn lãi suất ở Việt Nam, vì vậy khi thuê tài sản ở các công ty
nớc ngoài, doanh nghiệp thuê không chỉ thu hút đợc vốn đầu t mà còn nhận
đợc vốn tài trợ với mức lãi suất thấp hơn so với thị trờng vốn tính bằng Đồng

ngân hàng Việt Nam.
1.4 Vai trò của họat động cho thuê tài chính đối với nhà cung cấp máy

24

móc, thiết bị.
Một trong các phơng thức cho thuê tài chính là phơng thức cho thuê có
ba bên tham gia. Theo phơng thức thuê này, ngoài bên cho thuê và bên đi thuê
còn có một bên nữa là nhà cung cấp máy móc, thiết bị. Quan hệ giữa ba bên liên
quan trong hợp đồng thuê tài chính này có thể hiểu nh sau:
+ Bên thuê lực chọn nhà cung cấp máy móc, thiết bị và thoả thuận với họ
về mẫu mã, kiểu dáng, thông số kỹ thuật, giá cả, điều kiện bảo trì, lắp đạtcủa
thiếet bị muốn thuê.
+ Bên đi thuê và bên cho thuê ký hợp đồng thuê máy móc, thiết bị.
+ Trên cơ sở các điều kiện mà bên thuê và nhà cung cấp đã thoả thuận,
bên cho thuê ký hợp đồng mua thiết bị với nhà cung cấp.
+ Nhà cung cấp giao máy móc, thiết bị cho bên đi thuê.
+ Bên cho thuê thanh toán tiền mua thiết bị cho nhà cung cấp.
+ Bên đi thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê cho bên bên cho thuê và cùng bên
cho thuê thực hiện các điều khoản trong hợp đồng thuê.
Từ những quan hệ này cho thấy, thông qua hoạt động cho thuê tài chính
hình thức tài trợ vốn có độ an toàn cao, với những thế vốn có của nó, có tác
dụng kích cầu, tạo điều kiện để nhà cung cấp (các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh máy móc, thiết bị) tiêu thụ đợc nhiều hàng hoá. Hoạt động
cho thuê tài chính càng phát triển, càng tạo cơ hội để các nhà cung cấp máy móc
thiết bị mở rộng thị trờng và phát triển kinh doanh.
Nh vậy hoạt động cho thuê tài chính có vai trò to lớn đối với nền kinh tế
và với các bên tham gia vào hoạt động này. Song vai trò đó chỉ có thể phát huy
đầy đủ ở môi trờng kinh tế vĩ mô thuận lợi, với môi trờng pháp lý đầy đủ, rõ
ràng

2. Thực trạng của hoạt động thuê tài chính hiện nay:

×