TRƯỜNG ðẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LÊ TRƯƠNG HIẾU
TÁC ðỘNG CỦA DỊCH CÚM GIA CẦM ðẾN TÌNH HÌNH
CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM Ở HUYỆN
CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
BÁO CÁO KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
An Giang, Tháng 6. 2007
TRƯỜNG ðẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LÊ TRƯƠNG HIẾU
TÁC ðỘNG CỦA DỊCH CÚM GIA CẦM ðẾN TÌNH HÌNH
CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM Ở HUYỆN
CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
BÁO CÁO KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Bá Trung
An Giang, Tháng 6. 2007
i
Cảm tạ
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Bá Trung ñã tận tình
hướng dẫn và truyền ñạt kinh nghiệm quý báu ñể em hoàn
thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Nông
Nghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên Trường ðại học An Giang,
cùng các Thầy, Cô thỉnh giảng ñã giảng dạy và truyền ñạt kiến
thức cho em trong suốt khoá học.
Em xin cảm ơn cán bộ phòng thí nghiệm, cán bộ thư viện và tất
cả các bạn sinh viên lớp Phát Triển Nông Thôn DH3 ñã giúp
ñỡ, tạo ñiều kiện thuận lợi và ñộng viên em trong suốt khoá học
cũng như trong suốt thời gian làm luận văn.
Em xin gởi lời cảm ơn ñến quí thầy cô phản biện ñã có những
nhận xét, ý kiến ñóng góp ñể luận văn của em ñược hoàn chỉnh.
ii
Tóm lược
ðề tài này nhằm xác ñịnh tổng ñàn gia súc, gia cầm trước cúm và sau cúm gia cầm,
ñánh giá tác ñộng của dịch cúm ñến hoạt ñộng chăn nuôi ở ñịa bàn huyện Châu
Thành, tỉnh An Giang và khảo sát cơ cấu ñàn gia súc, gia cầm sau dịch cúm.
Kết quả ñề tài cho thấy:
- Cơ cấu ñàn vật nuôi làm nguồn thu nhập chính trước và sau dịch cúm vẫn
không thay ñổi: heo, bò và vịt. ðây là cơ cấu ñàn có tiềm năng phát triển của
huyện Châu Thành.
- Tổng ñàn gia cầm giảm nhiều vào năm 2004 và ñược phục hồi trong năm
2005: năm 2003 (26.715 con), năm 2004 (16.572 con), năm 2005 (27.943
con).
- Tổng ñàn gia súc tăng từ năm 2003 ñến 2005: năm 2003 (1.527 con), năm
2004 (1.754 con), năm 2005 (2.003 con).
- Trở ngại chính trong hoạt ñộng chăn nuôi là giá bán chiếm 56,8 % hộ và bệnh
tật chiếm 37,8 % hộ, nguyên nhân là do tác ñộng của dịch cúm gia cầm.
- Yếu tố quyết ñịnh thành công trong chăn nuôi chính là nguồn vốn chiếm
85,6 % hộ.
Dịch cúm gia cầm tác ñộng chủ yếu ñến: tổng ñàn vật nuôi, kỹ thuật nuôi gia cầm,
chi phí thức ăn, ñầu tư lao ñộng, chủ trương phát triển chăn nuôi của chính quyền ñịa
phương.
iii
Mục lục
Nội dung
Trang
Cảm tạ i
Tóm lược ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình v
Chương 1. Giới thiệu 1
1.1. ðặt vấn ñề 1
1.2. Mục ñích 1
Chương 2. Lược khảo tài liệu 2
2.1. Những hiểu biết cơ bản về cúm gia cầm 2
2.2. Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 4
2.3. Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 5
2.4. Tình hình dịch cúm gia cầm ở An Giang 8
2.5. Các chủ trương – chính sách 10
Chương 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 12
3.1. Vật liệu 12
3.2. Phương pháp 12
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 12
3.2.2. Phương pháp tiến hành 12
3.2.3. Chỉ tiêu theo dõi 13
3.3. Phân tích thống kê 13
Chương 4. Kết quả và thảo luận 14
4.1. ðặc ñiểm nông hộ 14
4.1.1. Tuổi và trình ñộ học vấn của chủ hộ 14
4.1.2. Kinh nghiệm chăn nuôi 15
4.1.3. Diện tích ñất nông hộ 15
4.1.4. Nguồn thông tin cho hoạt ñộng chăn nuôi 17
4.1.5. Tình hình tài chính nông hộ 17
4.2. Ứng phó của chính quyền ñịa phương và phản ứng của người chăn nuôi
khi có thông tin dịch cúm gia cầm 18
4.2.1. Ứng phó của chính quyền ñịa phương khi có thông tin dịch cúm
iv
gia cầm 18
4.2.2. Phản ứng của người chăn nuôi khi có thông tin dịch cúm gia cầm 18
4.3. Hoạt ñộng chăn nuôi của hộ từ khi có dịch cúm xảy ra 19
4.3.1. Qui mô nuôi 19
4.3.1.1. Biến ñộng số lượng vật nuôi khi có thông tin dịch cúm 19
4.3.1.2. Loại vật nuôi làm nguồn thu nhập chính 21
4.3.2. Kỹ thuật nuôi 22
4.3.2.1. Phương thức nuôi 22
4.3.2.2. Kỹ thuật nuôi 22
4.3.3. ðầu tư con giống 23
4.3.4. Chi phí thức ăn 24
4.3.5. ðầu tư lao ñộng từ khi có thông tin dịch cúm xảy ra 24
4.3.6. Biến ñộng ñàn gia súc gia cầm sau dịch cúm 25
4.3.7. Trở ngại chính trong hoạt ñộng chăn nuôi từ tháng 12/2003 – 2005 26
4.3.8. Yếu tố quyết ñịnh thành công trong chăn nuôi 26
4.3.9. Kế hoạch trong thời gian tới 27
Chương 5. Kết luận và khuyến nghị 29
5.1. Kết luận 29
5.2. Khuyến nghị 29
Tài liệu tham khảo 30
v
Danh sách bảng
Bảng 1: Tỷ lệ (%) hộ theo ñộ tuổi và trình ñộ học vấn của chủ hộ 14
Bảng 2: Kinh nghiệm của hộ chăn nuôi tại huyện Châu Thành tỉnh An Giang 15
Bảng 3: Tỷ lệ (%) hộ có tổng diện tích theo các mô hình 16
Bảng 4: Tỷ lệ (%) hộ thu nhận các thông tin cho hoạt ñộng chăn nuôi 17
Bảng 5: Số lượng gia cầm bị tiêu huỷ 18
Bảng 6: Biến ñộng số lượng vật nuôi từ năm 2003 ñến 2005 20
Bảng 7: Số lượng vật nuôi từ 2003 ñến 2005 20
Bảng 8: Mức ñộ thay ñổi kỹ thuật nuôi 22
Bảng 9: ðầu tư con giống 23
Bảng 10: Mức ñộ ñầu tư chi phí thức ăn cho vật nuôi từ khi có dịch cúm 24
Bảng 11: Mức ñộ ñầu tư lao ñộng từ khi có thông tin dịch cúm 25
Bảng 12: Mức ñộ biến ñộng ñàn từ khi có dịch cúm 25
Bảng 13: Một số trở ngại chính trong chăn nuôi 26
Bảng 14: Yếu tố quyết ñịnh thành công trong chăn nuôi 27
Bảng 15: Kế hoạch trong thời gian tới 28
Danh sách hình
Hình 1: Hộ lấy vật nuôi làm nguồn thu nhập chính 21
1
Chương 1
Giới thiệu
1.1. ðặt vấn ñề
Cúm gia cầm (còn gọi là cúm chim, cúm gà, cúm týp A) là bệnh cúm gây bởi một týp
virus cúm sống trên loài có lông vũ, nhưng có thể lây nhiễm sang nhiều loài ñộng vật
có vú. Bệnh ñược xác ñịnh lần ñầu tiên ở Montenergro vào ñầu những năm 1900 và
hiện ñược biết là có mặt trên khắp thế giới. Chủng cúm gia cầm H5N1 xuất hiện năm
1997 tại Hồng Công nhiều khả năng là nguồn gây dịch cúm gia cầm trên ñàn gia cầm
của nhiều nước châu Á từ cuối năm 2003 ñến nay (Cẩm Tú, 2007).
Ở nước ta dịch cúm gia cầm xuất hiện vào tháng 12 năm 2003 và ñến tháng 5 năm
2005, cả nước ñã xảy ra ba ñợt dịch cúm và tái phát dịch ñều có gia cầm bị chết ñã
gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng và cho nền kinh tế cả nước
nói chung.
Nếu dịch cúm gia cầm ở Việt Nam ñược coi là ñiểm nóng của thế giới thì An Giang
ñang là ñiểm nóng của Việt Nam. Ba ñợt dịch cúm và tái phát dịch ñều có gà, vịt bệnh
chết ở các ñịa phương. Tổng ñàn gia cầm ở An Giang hơn hai triệu con nên dịch cúm
xảy ra ñã gây thiệt hại không ít ñến nền kinh tế nói chung và tình hình chăn nuôi nói
riêng của tỉnh (Cao Tâm, Báo An Giang, 2005).
Là một phần ở tỉnh An Giang nên huyện Châu Thành cũng chịu ảnh hưởng của dịch
cúm. Nó ảnh hưởng ñến ñời sống, sản xuất và tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm
của người dân trên ñịa bàn. Nhằm khảo sát cơ cấu ñàn gia súc, gia cầm sau cúm và
tiềm năng giống vật nuôi có triển vọng phát triển trong tương lai ở huyện Châu
Thành, chúng tôi tiến hành ñề tài “Tác ñộng của dịch cúm gia cầm ñến tình hình
chăn nuôi gia súc, gia cầm ở huyện Châu Thành tỉnh An Giang”.
1.2. Mục ñích
Xác ñịnh tổng ñàn gia súc, gia cầm trước và sau cúm .
ðánh giá tác ñộng của dịch cúm gia cầm ñến tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ở
huyện Châu Thành
Khảo sát cơ cấu ñàn gia súc, gia cầm sau dịch cúm.
2
Chương 2
Lược khảo tài liệu
2.1. Những hiểu biết cơ bản về cúm gia cầm
Cho ñến nay, các chuyên gia thú y trên thế giới ñều khẳng ñịnh rằng: Bệnh cúm gia
cầm (Avian influenza, thường ñược gọi là cúm gà) là một trong những bệnh truyền
nhiễm cấp tính ở gia cầm, lây lan rất nhanh, tỉ lệ chết cao (100% số gà bị bệnh), lây
nhiễm cho nhiều loại gia cầm và chim trời, từng gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn
nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung ở nhiều nước trên thế giới trong thế
kỉ XX.
Cúm là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ñường hô hấp do virus cúm gây ra. Virus
cúm có 3 type A, B, C. Virus dễ bị tiêu diệt ở nhiệt ñộ thường nhưng có sức sống khá
dai dẳng ở nhiệt ñộ thấp. Cũng chính vì lý do này nên bệnh cúm thường rộ lên vào
mùa ðông – Xuân. Tên của mỗi loại virus cúm ñược viết tắt bằng các chữ “H” và
“N”. Với người những virus từng gây bệnh là từ H1 ñến H3 (tất cả có 15 virus H);
còn với virus N thì chỉ có N1 và N2 có thể gây bệnh cho người. Dịch cúm hiện tại là
do virus H5N1 gây nên, lan truyền rất nhanh trong gia cầm, gây chết hàng ñàn. Loại
virus này ñược gọi là H5N1 vì nó mang 2 loại protein ở bề mặt là Hémagglutinine H5
và Neuraminidase N1. H và N là 2 protein ñặc trưng trong các virus cúm, nhưng ở
H5N1, hai protein này kết hợp với nhau khiến cho virus xâm nhập dễ dàng vào tế bào
và tiếp tục nhân ñôi, lây lan sang các tế bào khác. Trong dòng các virus cúm, H5N1
là loại có mức ñộ hoạt ñộng lây nhiễm lớn nhất, do khi ñã xâm nhập vào tế bào, nó sẽ
nhận biết ñược axit Sialic alpha 2 và 3, hoạt chất có mặt trên bề mặt tất cả các tế bào
trong cơ thể gia cầm. ðây có thể coi là tính chất ñặc trưng của virus cúm H5N1. Nhờ
H5 và N1 phối hợp với nhau, virus có thể tự do di chuyển trong tất cả các mô của gia
cầm, từ ñó phá huỷ hầu hết các cơ quan nội tạng của gia cầm như: hệ hô hấp, tiêu
hoá, … gây tử vong cho con vật (Vũ Quốc Khánh, 2005).
Bệnh cúm gà lây truyền rất nhanh từ gà bệnh sang gà khỏe qua ñường hô hấp và
ñường tiêu hóa theo hai cách: Lây nhiễm trực tiếp, do gà khỏe tiếp xúc trực tiếp với
gà bệnh; lây gián tiếp qua không khí, dụng cụ chăn nuôi, xe cộ vận chuyển, phân rác,
thức ăn, nước uống có chứa mầm bệnh.
Thời gian ủ bệnh của gà rất ngắn, từ vài giờ ñến 3 ngày, tính từ khi nhiễm virút ñến
khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng ñầu tiên. Trong cơ thể gia cầm, virút nhân lên rất
3
nhanh, gây trạng thái nhiễm trùng huyết, viêm ñường hô hấp và xuất huyết tràn lan ở
nội tạng cũng như các tổ chức dưới da và cơ
.
Gà bị nhiễm virút và phát bệnh ở tất cả các lứa tuổi với các triệu chứng ñiển hình sau:
Nhiệt ñộ cơ thể tăng ñột ngột, từ 440
0
C ñến 460
0
C (gà bình thường: nhiệt ñộ cơ thể từ
400
0
C-430
0
C), ñi lại loạng choạng, xiêu vẹo, run rẩy; khó thở, khi thở phải há miệng,
ho khẹc, chảy dịch mắt, dịch mũi và dớt dãi liên tục; mào và tích (mào dưới, yếm)
sưng ñỏ, mọng nước và xuất huyết; kết mạc mắt sưng thũng; ỉa chảy rất nặng, phân
xanh vàng ñôi khi có lẫn máu; trên mặt da, ñặc biệt cả da chân có nhiều ñám tụ huyết,
xuất huyết màu ñỏ sẫm.
Mổ khám gà bệnh, thấy: mũi gà bị viêm xuất huyết và tịt lại; mào và tích sưng thũng,
ñỏ sẫm, trong ñó có chứa dịch; viêm hoại tử và xuất huyết tràn lan ở gan, lách, thận,
phổi và cơ tim; tụy tạng phù nề có những vạch vàng và ñỏ sẫm xen kẽ; viêm xuất
huyết toàn bộ niêm mạc ñường tiêu hóa, niêm mạc dạ dày cơ, niêm mạc dạ dày tuyến,
ruột non, ruột già, manh tràng; xuất huyết dưới da và tổ chức cơ, ñặc biệt là vùng da
chân.
Các bác sĩ thú y cũng lưu ý rằng xuất huyết tuyến niêm mạc dạ dày rất dễ nhầm với
bệnh Niucatxơn ở gà; gan xung huyết, phù nề có các ñiểm hoại tử rất dễ nhầm với
bệnh tụ huyết trùng ở gia cầm.
Gà, vịt, gà tây bị bệnh thường ở thể cấp tính, tỉ lệ chết 100%. Tuy nhiên, trong thực
tế, người ta cũng gặp (nhưng rất hiếm) gia cầm bị nhiễm chủng virút cúm có ñộc lực
thấp, gây thể bệnh nhẹ hoặc mang virút ở một số loài chim hoang dã. ðó chính là
nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh trong tự nhiên. Các nhà khoa học Mỹ cũng ñã
phân lập ñược virút cúm gà (nhóm A) từ lợn (năm1970), từ nhiều loại chim hoang dã.
Cúm gia cầm nhiễm virút H5N1 ñược coi là nguy hiểm nhất. Nó ñã biến ñổi nhanh
chóng, rất khó kiểm soát, không chỉ làm người chết, mà còn có thể giết hại nhiều loài
khác, trong ñó có loài gặm nhấm và các loại ñộng vật như lợn, hổ, và mèo Loài vi
rút này có khả năng tồn tại trong phân gà và thịt của những con gà ñã chết, không cần
ñến môi trường máu và tế bào sống. Những loài chim di cư bơi dưới nước, phần lớn
là loài vịt hoang, là nguồn mang vi rút cúm gia cầm, nhưng chúng có thể kháng lại sự
lây nhiễm. Các loại gia cầm, bao gồm gà, gà tây, vịt, ngỗng, thường dễ bị nhiễm vi rút
cúm gia cầm và phát triển thành dịch . Sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp giữa những
loài chim di cư với gia cầm thường gây ra dịch gia cầm. Các chợ bán gia cầm sống
cũng ñã góp phần ñáng kể làm cho dịch cúm gia cầm lan rộng
.