Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Tiểu luận kinh tế chính trị:“Phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta mà đại hội Đảng IX đã nêu và ích lợi của việc sử dụng nó vào việc phát triển KT-XH ở trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam”. ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (555.03 KB, 27 trang )
















Tiểu luận kinh tế chính trị

Đề tài: “Phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước
ta mà đại hội Đảng IX đã nêu và ích lợi của việc sử dụng nó
vào việc phát triển KT-XH ở trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở Việt Nam”.

.




PHẦN MỞ ĐẦU
Thời kỳ quá độ là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan niêu, bao
cấp bộc lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả tập trung là
cuộc cách mạng kinh tế-xã hội sâu sắc vào cuối những năm 1970 đầu


những năm 1980.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ năm của Đảng cộng sản Việt Nam
đã đánh giá tình hình đất nước, đặc iệt là trong lĩnh vực kinh tế ,luôn luôn ở
tình trạng trì trệ , chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó
khăn, tình hình trì trệ ấy có nguyên nhân khách quan khách quan như nền
kinh tế đang gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu
dài, viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ trong chiến tranh nhưng
nguyên nhân chủ yếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn về kinh tế và
xã hội vẫn là mô hình kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế khách
quan. Chính những khó khăn của đất nước buộc Đảng ta phải suy nghĩ,
phân tích tình hình nguyên nhân , tìm tòi các giải pháp , trong đó Đảng ta
đã khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần, đây là mô
hình kinh tế được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở
nước ta, vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm của Lênin về
“chính sách kinh tế mới” vào điều kiện lịch sử ở nước ta và thế giới ngày
nay, đặc biệt là từ khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông âu sụp đổ.
Thực hiện mô hình kinh tế mới nhằm mục tiêu căn bản cấp thiết là
tăng nhanh lực lượng sản xuất , từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tạo
cơ sở vật chất và xã hội cho việc từng bước hoá nền sản xã hội.
Chính trong sự cấp thiết về tầm quan trọng của vấn đề “cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần ở nước ta” mà em đã chọn đề tài “Phân tích cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta mà đại hội Đảng IX đã nêu và ích lợi
của việc sử dụng nó vào việc phát triển KT-XH ở trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở Việt Nam”.
Em hi vọng bài viết của em sẽ nhận được sự đánh giá và góp ý của
thầy để đề án được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.

NỘI DUNG

I. Cơ sở khách quan của việc tồn tại kinh tế nhiều thành phần và các

thành phần kinh tế tồn tại ở nước ta mà đại hội Đảng IX đã nêu trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

I.1 Quan điểm của Lênin:
Kế thừa những luận điểm của C.Mac và Ph.Ănghen, VI.Lênin đưa ra
nhiều luận điểm quan trọng về đặc điểm của thời kỳ quá độ. Có thể nêu
thành bốn đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, thời kỳ quá độ là thời kỳ xét trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội , dều do thành phần không thuần nhất cấu tạo nên. Đó là thời
kỳ có sự đan xen , thâm nhập vào nhau giữa CNTB va CNXH, đúng như
VI.Lênin đã viết “Ngày nay, chúng ta không thể không đặt vấn đề CNTB
nhà nước và CNXH, vấn đề chúng ta cần có thái độ như thế nào trong thời
kỳ quá độ; trong thời kỳ này một mẩu nhỏ CNTB và một mẩu nhỏ CNXH
tồn tại cạnh nhau”.
Thứ hai, đó là thời kỳ, sự phát triển của cái cũ , của những trật tự cũ
đôi khi lấn át những mầm mống của cái mới. Lênin cho rằng, những mảnh
vụn của trật tự cũ đôi khi chất đống lại một cách nhanh chóng, trong khi đó
những mầm mống của cái mới đôi khi lại phát triển chậm chạp và không
phải bao giờ cũng thấy rõ ngay được.
Thứ ba, đó là thời kỳ xét về mọi phương diện, đều có sự phát triển
của tính tự phát tiểu tư sản , là thời kỳ chứa đựng mâu thuẫn không thể
dung hoà được giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản và tính vô
chính phủ, vô kỷ luật của tầng lớp tiểu tư sản.
Lênin cho rằng , tính tự phát tiểu tư sản là kẻ thù giấu mặt hết sức
nguy hiểm và còn nguy hiểm hơn bọn phản cách mạng công khai. Mâu
thuẫn giữa tính tự phát tiểu tư sản và tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp
vô sản là một trong những đặc điểm nổi bật của “giai doạn đặc biệt” , giai
đoạn quá độ.
Thứ tư, đó là thời kỳ lâu dài, có rất nhiều khó khăn phức tạp , phải
trải qua nhiều lần thử nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những hướng đi

đúng đắn; và trong quá trình thử nghiệm ấy , nói như C. Mac, có thể phải
trả giá cho những sai lầm trầm trọng. Lênin đã nhận thức được điều đó khi
ông viết: “Còn chúng ta thì biết rằng việc chuyển từ CNTB lên CNXH là
cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn. Nhưng chúng ta sẵn sàng chịu hàng
nghìn khó khăn, thực hiện hàng nghìn lần thử, và khi chúng ta đã thực hiện
được hàng nghìn lần thử rồi, thì chúng ta sẽ giữ cái lần thứ một nghìn lẻ
một”.
VI.Lênin còn nhận thấy những nước có nền kinh tế lạc hậu, chẳng
hạn như nước Nga có nền kinh tế tiểu nông, khi quá độ lên CNXH càng
gặp nhiều khó khăn, phức tạp, càng phải trải qua nhiều bước quá độ , nhiều
bước thử nghiệm. Ông nhắc lại nhiều lần quan điểm này vào những năm
năm 1918-1921. Chẳng hạn, tháng 10-1921, Lênin đã nói: “Kể từ năm
1917, khi nhiệm vụ nắm chính quyền được đề ra và được những người bạn
Bôn-sê-vích nói rõ cho toàn thể nhân dân biết , thì các tác phẩm lý luận của
ta đã nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng: Tất yếu phải có một thời kỳ quá độ
lâu dài và phức tạp từ XHTBCN (xã hội đó càng ít phát triển, thì thời kỳ đó
càng dài) tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa”.
* Đặc điểm kinh tế -xã hội:
Những năm sau cách mạng tháng Mười (trước chính sách kinh tế
mới) VI. Lênin có nhiều luận điểm về sự không thuần nhất, sự đan xen giữa
CNTB và CNXH trong thời kỳ quá độ . Đặc điểm đó được biểu hiện trong
tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội, nhưng rõ nét nhất là trong lĩnh vực
kinh tế. VI Lênin đã định nghĩa danh từ “ thời kỳ quá độ” trong lĩnh vực
kinh tế : “Vậy danh từ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có nghĩa là
trong chế độ hiện nay có những thành phần , những bộ phận, những mảnh
của cả CNTB lẫn CNXH không ? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có. Song
không phải mỗi người thừa nhận điểm ấy đều suy nghĩ xem các thành phần
của kết cấu KT-XH khác nhau hiện có ở Nga, chính là ntn. Mà tất cả then
chốt của vấn đề lại chính là ở chỗ đó”.
Như vậy, trước khi có chính sách kinh tế mới, Lênin mới chỉ vạch ra

những nét đại thể của thành phần kinh tế phi XHCN , đó là tính tự phát của
người tiểu tư hữu; là sự phản kháng ngoan cố của CNTB dưới nhiều hình
thức. Nhưng ngay sau khi có chính sách kinh tế mới, cả trong lý luận cũng
như trong thực tiễn, Lênin lại thừa nhận có 5 thành phần kinh tế đồng thời
tồn tại trong thời kỳ quá độ. Các thành phần kinh tế hoàn toàn mới so với
trước là thành phần kinh tế tư bản và thành phần CNTBNN. Lênin đã xếp
thứ tự 3 thành phần kinh tế thứ tự như sau: Thứ nhất, kinh tế tư gia trưởng;
thứ hai, kinh tế hàng hoá nhỏ; thứ ba, kinh tế tư bản; thứ tư, kinh tế nhà
nước TBCN; và thứ năm, kinh tế XHCN.
Như vậy Lênin đã có sự thay đổi trong việc nhìn nhận về những đặc
điểm kinh tế của thời kỳ quá độ. Nừu như những năm đầu sau khi mới
giành được chính quyền , ông cho rằng sự tồn tại của các thành phần kinh
tế phi XHCN là bất đắc dĩ, là những ái chống lại XHCN là phải đấu tranh
xoá bỏ chúng, thì đến năm 1921, sau khi đưa ra chính sách kinh tế mới.
Lênin nhận thấy sự tồn tại 5 thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là tất
yếu, là hợp qui luật; chúng cần tồn tại trong một thời gian cần thiết.
I.2 Quan điểm của Đảng ta.
*Thời kỳ 1976-1986.
Đây là thời kỳ đất nước ta quá độ nên CNXH trong tình hình đất
nước chịu những đảo lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc chiến
tranh lâu dài , diễn biến trong tình hình thế giới có những mặt không thuận
lợi . Đây là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu , bao cấp , bộc lộ
một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó ,là kết quả tập trung là cuộc cách
mạng KTXH sâu sắc vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 của đảng cộng sản Việt Nam đã đánh
giá tình hình đất nước từ những năm 1975-1980 là thời kỳ nền kinh tế ở
trạng thái trì trệ, trên mặt trận kinh tế , đất nước ta đứng trước nhiều vấn đề
gay gắt , kết quả thực hiện khoa học kỹ thuật 5 năm (1976-1980) chưa thu
hẹp được những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân. Sản
xuất phát triển chận trong khi dân số tăng nhanh, thu thập quốc dân chưa

bảo đảm được tiêu dùng xã hội, một phần tiêu dùng XH dựa vào vay và
viện trợ, nền kinh tế chưa tạo được tích luỹ lương thực , vai trò của các
hàng tiêu dùng thiết yếu còn thiếu , tình hình cung ứng vật tư,giao thông
vận tải rất căng thẳng ,chênh lệch lớn giữa thu và tri tài chính, giữa hàng và
tiền , giữa xuất khẩu và nhập khẩu.Thị trường và vật giá không ổn định, số
người lao động chưa được sử dụng còn đông, đời sống nhân dân còn rất
nhiều khó khăn.
Chính những khó khăn của đất nước buộc Đảng ta phải suy nghĩ
phân tích, tình hình và nguyên nhân , tìm tòi các giải pháp , từ đó đổi mới
các cơ sở điạ phương, đề ra những chính sách cụ thể, có tính chất đổi mới
từng phần như: Khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần ở
miền Nam trong một thời gian nhất định, cải cách một phần mô hình hợp
tác xã qua chỉ thị khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp
tác xã cải tiến công tác khoa học hoá và hạch toán kinh tế ở các xí nghiệp
quốc doanh nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền
tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
Tóm lại, đã có những quan niệm chủ trương ban đầu đổi mới mô
hình hình kinh tế cũ theo tư tưởng:” Làm cho sản xuất bung ra” nghĩa là
đổi mới hình thức quan hệ sản xuất để giải phóng lực lượng sản xuất và
phát triển lực lượng sản xuất.
Điều đáng ghi nhận nhất là ở thời kỳ này là tư tưởng mới từng bước
được hình thành và phát triển. Biểu hiện chủ yếu ở nghị quyết hội nghị lần
thứ 6 của ban chấp hành trung ương khoá IV. Đến đây mô hình quan niệm
cốt lõi của nền kinh tế mới về cơ bản đã được hình thành . Sự phát triển
tiên tiên này đã dẫn đến những bước nhảy vọt trong đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ 6 về mô hình kinh tế mới.
Đó là thời kỳ đổi mới toàn diện nền kinh tế thông qua những nghị
quyết của đại biểu toàn quốc lần thứ 6,7,8 . Mô hình từ cũ bị xoá bỏ , mô
hình kinh tế mới được xây dựng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan
và trình độ phát triển của nền kinh tế .

Thời kỳ này đã diễn ra sự biến đổi trong mô hình kinh tế , từ mô
hình gián tiếp tiến lên XHCN . Thực hiện mô hình kinh tế nhằm mục tiêu
căn bản , cấp thiết là giải pháp tăng nhanh lực lượng sản xuất , từng bước
cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã hội cho XHH từng
bước nền SXHH.
Từ những phương hướng chủ yếu của cuộc đổi mới đã được đại hội VI
của Đảng đề ra đến chủ trương “phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trưồng có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN ”. Được đại hội VI quyết định và dược đại hội Đảng IX phát
triển theo chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế chính trị định
hướng XHCN là những bước tiến quan trọng trong quá trình tổng kết thực
tiễn cách mạng ,đổi mới tư duy kinh tế, vượt qua những quan niệm sơ cứng
về mô hình phát triển KT-XH và con đường đi lên CNXH.
Trong đường lối chiến lược của Đảng ta, tư tưởng đại đoàn kết toàn
dân và phát huy dân chủ được thể hiện rất rõ ràng. Đại hội IX xác định
“phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, tinh thần yêu nước , tự lực
tự cường tự hào dân tộc, mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh và tôn trọng những khác
nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc,xoá bỏ mặc cảm định
kiến,phân biệt đối xử về vị thế giai cấp, thành phần xây dựng tình hình cởi
mở, tin cậy về nhau hướng tới tương lai”.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mục tiêu đến
năm 2010, hình thành về cơ bản và tiến hành thông suốt theo cơ chế thị
trường, là chính sách nhất quán, lâu dài nhằm thực hiện đại đoàn kết toàn
dân và phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế.
Đại hội Đảng IX của Đảng đã nhấn mạnh : “Động lực chủ yếu để
phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân”, phát triển kinh tế cũng là phát
huy khả năng của mọi người dân, mọi thành phần kinh tế đều là bộ bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ”
trên đất nước ta. Chính sách này thể hiện một nhận thức mới, phù hợp với

thực tế là mặc dầu có nhiều hình thưc sở hữu về tư liệu sản xuất , nhiều
thành phần kinh tế, có nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội, nhưng “mối quan
hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là hệ hợp tác và đấu tranh trong
nội bộn nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng” . Thực tế vừa qua rằng, chúng
ta đã bước đầu phát huy được sức mạnh của sự thống nhất trong tính đa
dạng của nền kinh tế, nhiều thành phần kinh tế thực sự đã là cơ sở tốt cho
đại đoàn kết toàn dân.
Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định, trong nền kinh tế nhiều thành
phần, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo,bảo đảm cho toàn bộ nền
kinh tế quốc dân phát triển ổn định và bền vững theo định hướng XHCN.
Dẫu rằng kinh tế nhà nước đang còn một số mặt yếu kém nhưng trên thực
tế, đã nắm những cân đối lớn của nền kinh tế và đang giữ vai trò chủ đạo
.Trong mấy năm tới chúng ta tiếp tục đẩy nhanh quá trình đổi mới để nâng
cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở đó kinh
tế nhà nước làm tốt hơn vai trò chủ đạo của mình. Hội nghị lần thứ III của
ban chấp hành trung ương Đảng ( Khoá IX) .Đã có những quyết định quan
trọng về vấn đề này, yêu cầu các cấp các ngành phải quán triệt và thực hiện
nghiêm túc để tạo ra một bước chuyển biến cơ bản trong những năm tới.
Kinh tế nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo chính là để phát huy khả
năng của kinh tế nhà nước và phát huy khả năng các thành phần kinh tế
khác. Đảng và nhà nước ta đã xác định rõ: “ Mọi tổ chức kinh doanh theo
các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến
khích phát triển lâu dàI, hợp tác, cạnh tranh, bình đẳng ”, xin được nhấn
mạnh thêm bình đẳng là bình đẳng trước pháp luật , đường lối của Đảng
phải được thể chế hoá thành pháp luật các cơ quan nhà nước và mọi người
dân mọi doanh nghiệp , thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải nghiêm
chỉnh chấp hành ,với ý nghĩa đó thành phần kinh tế nhà nước là hạt nhân
của quan hệ .Sản xuất mới là một lực lượng kinh tế ,là một công cụ có sức
mạnh vật chất để nhà nước Việt Nam thực hiện vai trò đIều tiết , hướng dẫn

nền kinh tế nhiều thành phần phát triển đúng định hướng XHCN.
Sau hơn mười năm đổi mới, cùng với việc phát triển các lĩnh vực
khác , việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã đi vào thực
tiễn góp phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế trong bối cảnh tình
hình quốc tế không thuận lợi và tình hình trong nước còn nhiều khó khăn,
thực tiễn đã nhắc nhở chúng ta thực hiện nhất quán chính sách kinh tế
nhiều thầnh phần , coi đó là con đường tất yếu quá độ lên XHCN, bỏ qua
giai đoạn phát triển TBCN.

II.Vấn đề sử dụng các thành phần kinh tế ở nước ta:
2.1.Sự cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế ở nước ta :
Trong thời kỳ quá độ lên XHCN ở Việt Nam , sự tồn tại của sản xuất
hàng hoá là một tất yếu khách quan, bởi vì nước ta có lực lượng sản xuất
còn rất thấp, đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau, sự phân công
lao động xã hội gắn với nhiều chủ thể sở hữu khác nhau như các thực thể
kinh tế độc lập . Trong những đIều kiện đó , việc trao đổi sản phẩm giữa
các chủ thể sản xuất với nhau không thể thực hiện theo nguyên tắc nào
khác là nguyên tắc trao đổi ngang giá , tức là trao đổi hàng hoá thông qua
thị trường , sản phẩm phải trở thành hàng hoá .
Ở nước ta trong thời kỳ quá độ , muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng
sản xuất thì phải xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động. Quá trình ấy chỉ
có thể diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế hàng hoá . Sản xuất
càng xã hội hoá, chuyên môn hoá , thì càng đòi hỏi phát triển sự hiệp tác và
trao đổi hoạt động trong xã hội, càng phải thông qua sự trao đổi hàng hoá
giữa các đơn vị sản xuất để đảm bảo những nhu cầu cần thiết của các loại
hoạt động sản xuất khác nhau. Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hoá mới
làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động. Kinh tế tự nhiên , do bản
chất của nó chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn. Trong cơ chế kinh tế cũ , vì
coi thường quy luật kinh tế giá trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống
và động lực để phát triển sản xuất . Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử dụng

quy luật giá trị , quy luật này buộc mỗi người sản xuất phải tự chịu trách
nhiệm về hàng hoá do mình làm ra . Chính vì thế mà nền kinh tế trở nên
sống động . Mỗi ngừời sản xuất đều chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự
tiêu thụ trên thị trường sao cho sản phẩm của mình được xã hội thừa nhận
và cũng từ đó họ mới có được thu nhập.
Phát triển sản xuất hàng hoá là sự phát triển của lực lượng sản xuất
xã hội , cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng
nhu cầu đa dạng của mọi người. Ơ nông thôn nước ta , sự phát triển kinh tế
hàng hoá và việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho hàng hoá bán ra
của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng lên, đồng thời các ngành nghề của
nông thôn cũng ngày một phát triển , tạo cho nông dân nhiều việc làm . Đó
cũng là đIều đã diễn ra ở thành phố, đối với những người lao động thành
thị.
Phát triển hàng hoá có thể đào tạo ngày càng nhiều cán bộ quản lý
và lao động. Muốn thu được lợi nhuận , họ cần phải vận dụng nhiều biện
pháp để quản lý kinh tế, thúc đẩy tiến bộ KT hạ giá thành sản phẩm làm
cho sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường , nâng cao hơn nữa hiệu
quả kinh tế . Qua các cuộc cạnh tranh trên thị trường những nhân tài quản
lý kinh tế và lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là một
dấu hiệu quan trong của tiến bộ KT.
Như vậy phát triển sản xuất hàng hoá đối với nước ta là một tất yếu
khách quan, một nhiệm vụ cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu sang nền
kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con
đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất , khai thác có hiệu quả
tiềm năng của đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá , hiện đại
hoá. Kinh tế hàng hoá không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế xã hội của
thời kỳ quá độ tiến lên XHCN mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát
triển mạnh mẽ hơn.
Thực tiễn của những năm đổi mới chỉ ra rằng , việc chuyển sang mô
hình kinh tế hàng hoá là hoàn toàn đúng đắn nhờ mô hình kinh tế đó ,

chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu
hút vốn và kỹ thuật nước ngoài giải phóng được năng lực sản xuất trong xã
hội, phát triển lực lượng sản xuất , gop phần quyết định đảm bảo nhip độ
tăng trưởng GDP, bình quân hàng năm trong những năm 1991-1995 là
8,3% vượt mức đề ra là 5,5-6%.
2.2 Bản chất và cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ :
2.2.1 Bản chất của các thành phần kinh tế:
Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, trong nền kinh tế của mỗi nước
, số lượng của các thành phần kinh tế và tỷ trọng kinh tế có thể khác nhau
tuỳ theo đặc đIúm cụ thể của từng nước và trong mỗi nước lại tuỳ từng giai
đoạn , hiện nay, nền kinh tế nước ta có các thành phần sau đây:
a) Kinh tế nhà nước : là thành phần kinh tế bao gồm các doanh
nghiệp nhà nước các xí nghiệp quốc gia và tài sản thuộc quyền sở
hữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển ngân sách , các
quỹ dự trữ ngân hàng nhà nước
Kinh tế nhà nước rộng và mạnh hơn doanh nghiệp nhà
nước phân biệt được hai phạm trù này nhận thức đầy đủ vai trò
kinh tế nhà nước là một bước phát triển về nhận thức thực tiễn nền
kinh tế nước ta trong quá trình đổi mới .
b). Kinh tế tập thể: là hình thức liên kết của những người lao động
nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể
để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề của sản xuất , kinh
doanh và đời sống.
Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng
từ thấp đến cao từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã theo tắc tự
nguyện, bình đẳng ,cùng có lợi , quản lý dân chủ thực hiện đúng
luật hợp tác xã. Kinh tế tập thể được phát triển , rộng rãi và đa
dạng trong các ngành nghề ở nông thôn và thành thị , nó giữ vai
trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân . Trong quá trình phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN , kinh tế nhà nước

cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
của nền kinh tế quốc dân
c).Kinh tế cá thể , tiểu chủ : (Của nông dân , thợ thủ công , người làm
thương nghiệp và người làm cá thể) bao gồm những đơn vị kinh tế
dựa trên hình thức sở hữu tư nhân qui mô nhỏ về tư liệu sản xuất
và hoạt động dựa vào sức lao động của từng hộ là chủ yếu. Trong
một số ngành nghề ở nông thôn và thành thị kinh tế cá thể và tiểu
chủ có vị trí quan trọng nó có khả năng tận dụng tiềm năng về vốn,
sức lao động, tay nghề của từng gia đình , từng người lao động.
Nhưng đến một trình độ nhất định , việc mở rộng sản xuất kinh
doanh của kinh tế cá thể tiểu chủ sẽ bị hạn chế vì thiếu vốn , trình
độ công nghệ thấp và khó tìm thị trường tiêu thụ , bởi vậy cần
được sự hỗ trợ của nhà nước để khắc phục những hạn chế nói trên.
Các đơn vị kinh tế cá thể tiểu chủ có thể tồn tại độc lập , hoặc
tham gia các loại hình kinh tế tập thể , hay liên doanh liên kết với
các doanh nghiệp nhà nước dưới nhiều hình thức.
d) Kinh tế tư bản tư nhân:là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một
số nhà tư bản góp lại để sản xuất kinh doanh và thuê mướn nhân
công. Kinh tế tư bản tư nhân có nhiều hình thức là xí nghiệp tư
doanh hay công ty trách nhiệm hữu hạn.
Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong đIều
kiện quá độ lên CNXH ở nước ta, thành phần kinh tế này còn có
vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất,
xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn
đề xã hội.
e). Thành phần kinh tế tư bản nhà nước:
Đó là đơn vị kinh tế hình thành do sự liên doanh giữa nhà
nước xã hội chủ nghĩa với tư bản tư nhân trong nước hoặc với tư
bản tư nhân nước ngoàI, kinh tế tư bản nhà nước ra đời còn do nhà

nước xã hội chủ nghĩa góp vốn cổ phần hoặc do tư nhân ở trong và
ngoài nước thuê tài sản , kinh tế tư bản nhà nước là cầu nối giữa
sản xuất nhỏ với sản xuất lớn . Đảng ta đã khẳng định kinh tế tư
bản nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng
to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà tư
bản , vì lợi ích của bản thân họ cũng như công việc xây dựng và
phát triển đất nước .
2.2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế :
Các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH có mối quan
hệ và tác động qua lại lẫn nhau , hoạt động đan xen vào nhau trong cơ cấu
kinh tế quốc dân thống nhất . Vai trò của các thành phần kinh tế ,mối quan
hệ giữa các thành phần kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất , Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự đóng góp của chúng
vào sự phát triển của nền kinh tế . Mỗi thành phần kinh tế dựa trên một
hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Các hình thức sở hữu về tư
liệu sản xuất tuy có sự độc lập tương đối và cơ bản có bản chất riêng,
nhưng trong hoạt động sản xuất kinh doanh không có sự ngăn cách và có
thể hỗn hợp , đan kết với nhau (cùng một chủ sở hữu có thể tham gia nhiều
quan hệ sở hữu, cùng một đối tượng sở hữu có nhiều quan hệ sở hữu).
Hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng trong nền kinh tế quốc dân
thống nhất do nhà nước hướng dẫn, đIều tiết, kiểm soát ,cùng với việc nhà
nước nắm giữ những vị trí then chốt các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc
các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau , bổ sung cho nhau vừa cạnh
tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật. Đại diện cho mỗi thành phần
kinh tế là giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định mà tổng hợp toàn bộ tạo
thành cơ cấu xã hội- giai cấp.Trong cơ cấu xã hội giai cấp ấy mỗi giai cấp
mỗi tầng lớp xã hội , các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần
kinh tế đều có những lợi ích kinh tế riêng, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn
với nhau , hơn nữa nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động phát
triển theo các quy luật kinh tế thị trường, đồng thời chịu sự đIều tiết của

nhà nước theo định hướng XHCN.
III. Nền kinh tế nước ta hiên nay - Thực trạng và giải pháp
quản lý vĩ mô.
3.1. Những tiến bộ chủ yếu đạt được khi chuyển sang nền kinh
tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH:
Trong điều kiện xoá bỏ bao cấp , chuyển sang vận dụng cơ chế thị
trường, nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn , song vẫn giữ nhịp độ
năm sau tăng hơn năm trước . Trong những năm 1986-1990 , tính theo giá
cố định năm 1982 hàng năm tổng sản phẩm xã hội tăng 4,4% , thu nhập
quốc dân tăng 3,2% so với năm 1985 ,các chỉ tiêu tương ứng của năm
1990 tăng 25% và 20% . Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng nhanh
nhu đIện tăng gần 60%, xi măng tăng 80%. Một số ngành công nghiệp mới
ra đời và phát triển nhanh như thăm dò và khai thác dầu khí, lắp giáp đIện
tử, đặc biệt trong nông nghiệp sản lượng lương thực qui thóc tăng từ 18,2
triệu tấn năm 1985 lên 21,5 triệu tấn năm 1990, tăng gần 18,1%. Lần đầu
tiên trong lịch sử , Việt Nam đã giải quyết về cơ bản vấn đề lương thực ,
bảo đảm cân đối nhu cầu tối thiểu trong nước và một phần đáng kể để xuất
khẩu, trong hai năm 1989-1990 đã xuất khẩu mỗi năm 1,3 triệu tấn. Sản
xuất và xuất khẩu đã tăng lên đáng kể , đã hình thành một số mặt hàng xuất
khẩu chủ lực như : Thuỷ sản , dầu thô , gạo Cùng với thị trường truyền
thống Liên Xô (cũ ) và các nước Đông Âu , Việt Nam đã mở rộng quan hệ
trao đổi hàng hoá với nhiều nước khác.
Cơn sốt lạm phát đã thuyên giảm rõ rệt , thành công đáng kể là toàn
bộ cơ chế hai giá đã chuyển sang cơ chế một giá , nhà nước chỉ qui dịnh giá
đối với rất ít mặt hàng như đIện , xăng, dầu, xi măng ,sắt , thép, gạo
Sáu tháng đầu năm 1991,tuy thị trường xuất khẩu truyền thống bị thu
hẹp đột ngột (giảm tới 85% ) song sản xuất công nghiệp vẫn tăng 2% so
với cùng kỳ năm ngoáI, đIều đáng lưu ý là công nghiệp do trung ương trực
tiếp quản lý đã phục hồi dần dần thích nghi với điều kiện kinh doanh mới
,nhờ vậy mức sản xuất đã tăng 7,4% so với 6 tháng đầu năm 1990 , trong

đó bộ năng lượng tăng 3,2%. Bộ công nghiệp tăng 11,2 %. Bộ xây dựng
tăng 11,8 % sản xuất nông nghiệp : Diện tích gieo trồng cây lương thực vụ
đông xuân năm 1991 trong cả nước tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước trừ
miền Bắc do thời tiết không bình thường và sai lầm trong chỉ đạo về cơ cấu
giống lúa và thời vụ nên bị thất thu , miền Nam thu hoạch khá , tăng gần 30
vạn tấn qui thóc so với đông xuân năm 1990.
Nhìn chung từ đầu năm 1991, Việt Nam bước vào thời kỳ gay gắt
nhất từ trước đến nay trong khi nền kinh tế vẫn còn khủng hoảng ,nhiều
khó khăn cơ bản và lâu dài chưa được khắc phục, lại xuất hiện những trở
lực mới song sản xuất không những vẫn trụ được mà còn có phần phát
triển. Nền kinh tế đang được đổi mới đúng hướng cả về cơ cấu ngành , cơ
cấu thành phần kinh tế về sự kết hợp khai thác tiềm năng ở trong nước và ở
nước ngoài , sự kết hơp giữa kinh tế với xã hội , kinh tế với quốc phòng.
3.2 Những tồn tại và những vấn đề lớn đang đặt ra trong nền kinh tế
cần phải giải quyết :
Ai cũng thấy rằng,những tiến bộ về kinh tế đã đạt được trong những
năm qua là sự cố gắng lớn của Đảng và toàn dân, song chưa cơ bản và
chưa vững chắc. Chúng ta thực hiện CNH trong đIều kiện một nước nông
nghiệp lạc hậu, hàng trục năm chiến tranh liên tục phá hoại các nguồn tiềm
năng của đất nước. Đó là những nguyên nhân sâu xa của tình trạng kinh tế
nghèo nàn, lạc hậu, cùng với hậu quả nặng nề do 1/3 thế kỷ ngự trị của cơ
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã hằn sâu trong nếp nghĩ, đã và
đang chi phối hoạt động của mỗi người dân, mỗi tổ chức, và mọi quan hệ
kinh tế xã hội không dễ dàng khắc phục.
Sự tồn vong và phát triển của dân tộc đang đặt ra nhiệm vụ vô cùng
nặng nề và cao cả là việc tính số và trả giá đối với những hậu quả của sai
lầm quá khứ và trở lực hiện tại. Những biểu hiện chủ yếu đó là :
1. Một nền kinh tế thấp kém , chưa đủ tái sản xuất giản đơn , thu
nhập quốc dân bình quân đầu người ở mức thấp nhất trong khu
vực và trên thế giới.

2. Cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là kết cấu hạ tầng , trừ số rất ỉt
trang thiết bị mới được đầu tư trong những năm gần đây, đại bộ
phận rất lạc hậu không đồng bộ ,phải thải loại và thay thế mới có
thể đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hoá hiện nay cùng với
sự chuyển đổi cơ chế trong kinh tế quốc doanh 80-90% số cơ sở
các quận, huyện 70-80 % số cơ sở cấp tỉnh, 20-30% số cơ sở cấp
trung ương quản lý đang thô lỗ. Trong đó khoảng một nửa số
đơn vị này đang gặp khó khăn gay gắt khó có thể tồn tại.
3. Thị trường vật tư và tiêu thụ sản phẩm ở khu vực bị thu hẹp đột
ngột, khả năng tiếp thị với thị trường khu vực hai còn qua hạn
chế , chủ yếu là về chất lượng sản phẩm và nguồn ngoại tệ
mạnh.
4. Dân số tăng nhanh, số lượng lao động dôi ra từ các cơ sở sản
xuất, kinh doanh , hành chính sự nghiệp, quốc phòng , số học
sinh bỏ học, số tốt nghiệp ở các trường và số thanh niên đến tuổi
đến tuổi lao động ngày càng đông cùng với chế độ lạm phát còn
cao, gây sức ép gay gắt về việc làm và đời sống.
5. Ngân sách nhà nước thất thu, bội chi lớn, mất cân đối nghiêm
trọng trong cán cân thanh toán nội bộ nền kinh tế và kinh tế
trong khi nợ nước ngoài lớn khó có khả năng thanh toán, càng
gây sức ép về vốn cho sản xuất kinh doanh về bảo đảm thu nhập
của công nhân viên chức, những người thuộc diện chính sách xã
hội, khó kìm được tình trạng xuống cấp nhanh chóng trong lĩnh
vực y tế, giáo dục, vh-xh.
6. Tệ nạn xã hội không ngăn chặn được là bao và vẫn phát sinh, lây
lan dưới nhiều hình thức tinh vi hoặc trắng trợn hơn.
7. Công tác tổ chức, cán bộ vẫn sơ cứng,trì trệ, đại bộ phận cán
bộ, nhân viên chưa được đào tạo lại, bồi dưỡng theo cơ chế
quản lý nhà nước, tiềm năng chất xám khá lớn song vẫn còn để
trôi nổi , phân tán , chưa được huy động, sử dụng đúng mức.

8. Chế độ tiền lương quá lạc hậu không được đổi mới đồng bộ với
hệ thống giá và các hệ thống phân phối khác cùng với tình trạng
sử dụng lãng phí của công, sự phân phối tuỳ tiện trong kinh tế
quốc doanh, sự trốn thuế, lậu thuế trong các thành phần kinh tế ,
công bằng xã hội càng bị vi phạm, sự phân hoá giàu nghèo càng
phổ biến và sâu sắc. Những nguyên tắc xã hội, đạo đức , phẩm
cách, quan hệ con người, xã hội đang bị thế lực đồng tiền gặm
nhấm, chi phối, không ít cán bộ , đảng viên bị sa đoạ, mất phẩm
chất
Nhìn chung những tệ nạn xã hội cũ chưa được khắc phục triệt để,
nay tái phát cùng với những mặt trái của nền kinh tế thị trường như cạnh
tranh vô chính phủ “cá lớn nuốt cá bé” làm và bán hàng giả, hàng không
bảo đảm phẩm chất, gian lận, trốn thuế, lậu thuế, chạy theo lợi nhuận bằng
mọi giá , phân hoá giai cấp
Trong khi sự đIều tiết , kiểm tra , kiểm soát của nhà nước bị buông
lỏng, hiệu lực của chính quyền nhà nước các cấp bị giảm sút , trong nền
kinh tế đã xuất hiện và có xu hướng khá phổ biến tự phát lên TBCN, những
nguyên tắc sống nhân đạo, tương thân, tương ái, công bằng … đang bị xói
mòn, những cá nhân , đơn vị làm ăn chân chính lương thiện không được
bảo hộ , ngược lại, những kẻ bất chấp pháp luật thì không bị nghiêm trị.
Đây là sự biểu hiện muôn hình muôn vẻ của cuộc chiến tranh giai cấp trên
mặt trận kt-xh, sự bộc lộ mâu thuẫn giữa hai con đường XHCN , TBCN
ngày càng gay gắt trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta hiện nay.
3.3 Phương hướng và giải pháp để sử dụng các thành phần kinh tế.
Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế và từ các quan điểm cơ bản
nêu trên, có thể tìm các bước được cụ để nhằm phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần của nước ta bằng một số giải pháp chủ yếu sau:
a) Một là đối với nền KTQD phải củng cố và phát triển để có thể
củng giữ được vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Đây là vấn đề có
tính nguyên tắc, những bước đi và biện pháp phải đối mới. Đổi mới trước

tiên và cấp bách là sửa chữa bước đi sai lầm trước đây bằng giải pháp xác
định lại phạm vi kinh tế quốc doanh. Trước đây chúng ta đã phát triển kinh
tế quốc doanh tràn lan, tạo nên quá trình XHH hình thức, do vậy đến nay
phải lựa chọn lại theo hướng giảm bớt số cơ sở KTQD hiện có. Đấy là vấn
đề dễ đạt được sự nhất trí nhưng giữ lại cái gì, giảm bớt ở chỗ nào và bằng
biện pháp nào không phải là việc đơn giản, vì nó không chỉ là vấn đề kinh
tế mà còn là vấn đề chính trị và xã hội.
Giải quyết vấn đề kinh tế quốc doanh đang là một trong những nội
dung lớn của đường lối đổi mới kinh tế của nhiều nước, do vậy đã có hàng
loạt biện pháp được áp dụng. ở Ân Độ đã tiến hành hiện đại hoá và đa dạng
hoá sản xuất, sử dụng và bảo dưỡng máy móc thiết bị đúng tiêu chuẩn kỹ
thuật nhằm nâng cao công việc sử dụng công suất các cơ sở quốc doanh,
cho phép các xí nghiệp quốc doanh tự chủ về vốn đầu tư, xây dựng mục
đích và kinh doanh sản xuất, sửa đổi giá cho phù hợp, bãi bỏ hình thức trợ
cấp giá, nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo xí nghiệp và học vấn của
công nhân.ở Inđônêxia đã áp dụng các biện pháp đánh giá và phân loại hệ
thống xí nghiệp quốc doanh, đổi mới cơ chế bằng cách thực hiện cơ chế
hoạch toán chặt chẽ, cắt giảm các khoản trợ cấp không cần thiết, cải tổ bộ
máy kết hợp với phong trào quần chúng chống tham nhũng chuyển một bộ
phận KTQD sang tư nhân. Ngoài ra Inđônêxia còn áp dụng biện pháp chế
hoá các đạo luật hoá văn bản về KTQD.
Như vậy, việc sử lý KTQD các nước đã áp dụng nhiều biện pháp , sở dĩ
như vậy vì không có biện pháp nào hoàn chỉnh cả, mỗi biện pháp vừa có
mặt tích cực vừa có mặt hạn chế. Chỉ có trên cơ sở sử dụng nhiều biện pháp
mới tạo ra được sức mạnh tổng hợp, chúng ta phải kết hợp nó để hạn chế
thấp nhất những tiêu cực, tăng các mặt tích cực để KTQD đạt hiệu quả
mong muốn.
b) Hai là , đối với các thành phần kinh tế khác đang có một câu hỏi
lớn đặt ra là: Mặc dù nhà nước khuyến khích phát triển nhưng tốc độ tăng
chậm chạp và không tương xứng với tiềm năng hiện có . Muốn phát triển

sản xuất thì nguyên lý muôn thủa là phải tăng xuất đầu tư , trước hết là đầu
tư về tài chính. Nguồn tài chính này trong dân khá lớn nhưng chưa được sử
dụng để phát triển sản xuất, để các nguồn này có thể góp phần tăng thêm
suất đầu tư cho sản xuất kinh doanh cần phải có hàng loạt các biện pháp.
+ Có thể bắt đầu ngay từ tên gọi. Không nên xuất phát từ KTQD để
đặt tên cho các TPKT khác , gọi là “ngoài quốc doanh”. Trong nền kinh tế
nhiều thành phần cho dù kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo thì vẫn
phải đảm bảo tính bình đẳng của các thành phần kinh tế và thực chất mỗi
thành phần kinh tế là một bộ phận cấu thành của nền KTQD thống nhất ,
không có bộ phận này là “trong” còn các bộ phận khác là “ngoài”. Thay đổi
cách gọi cũng là giải pháp xoá đi tâm lý tự ty, bi quan của các thành phần
kinh tế khác mà một thời họ đã bị chèn ép , lãng quên.
+ Việc cải tạo các thành phần kinh tế phải được tiến hành theo
nguyên tắc tự nguyện và trên cơ sở hoàn cảnh XHH thực tế. Giải pháp đạt
hiệu quả cao chính là không cô lập các thành phần kinh tế với nhau mà phải
sử dụng các hình thức hợp doanh , đan xen các hệ sử dụng khác nhau vào
trong cùng một lĩnh vực , thậm chí trong cùng một công ti , xí nghiệp. Các
xí nghiệp hợp doanh giữa nhà nước và tư nhân , giữa HTX và tư nhân ,
giữa nhà nước và HTX, tư nhân cần phải trở thành một trong các hình thức
cơ bản tổ chức các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nhiều
thành phần. Trong sản xuất nông nghiệp , do tính đặc thù của nó nên ngoài
việc phải giải quyết tốt quyền sở hữu ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân.
còn phải chuyển kinh tế HTX hiện nay thành kinh tế nông trại. Kinh tế hộ
nhận khoán là cơ sở hình thành kinh tế nông trại và các tổ chức nông trại.
Đây cũng đang là xu hướng chung của nền nông nghiệp thế giới. Trong
điều kiện nước ta hiện nay , không gian tổ chức các nông trại lớn và chưa
vội hợp tác nhiều nông trại với nhau. Có thể mỗi nhóm chỉ nên 5-20 hộ tự
nguyện góp ruộng đất , lao động và tiền vốn để sản xuất kinh doanh . Ngoài
ra còn có các hình thức hợp tác khác như : Các nông trại chung nhau mua
“đầu vào” hoặc chung nhau bản hoặc chung nhau bản “đầu ra” hoặc cũng

thể hợp tác kinh doanh. Tổ chức nông trại và sự hợp tác giữa các nông trại
chính là hình thức HTX nông nghiệp theo mô hình mới cần đạt được.
+ Để nhân dân yên tâm bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh và hoạt động
đúng hướng. Nhà nước phải đưa ra được một hệ thống các văn bản pháp
quy như luật kinh doanh, luật thừa kế , luật chuyển nhượng ,luật thuê mướn
lao động… Đồng thời hoàn thiện chế độ đăng ký kinh doanh, kế toán,
thống kê, thuế , hợp đồng kinh tế. Các luật và chế độ này không chỉ nhằm
đảm bảo lợi ích của nhà nước mà phải góp phần thoả đáng 3 lợi ích: Nhà
nước-tập thể-cá nhân, khuyến khích làm giàu trên cơ sở bỏ vốn kinh doanh
đúng pháp luật.
c) Ba là, tiến hành đồng bộ những giải pháp vĩ mô để tạo môi trường
thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả, bao gồm:
- Hoàn thiện nhanh chóng hệ thống tài chính và ngân hàng bằng
những công nghệ kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại , đảm bảo thông suốt trong và
ngoài nước. Đại bộ phận ,các khoản thanh toán , ngân hàng phải đảm
đương được qua bộ máy của mình ; sử dụng tiền mặt chỉ ở mức hạn chế .
Tín dụng ngân hàng phải thực hiện đi vay để cho vay chứ không dựa vào
nguồn phát hành và chủ yếu đảm bảo cho kinh tế quốc doanh như hiện nay.
Hoạt động tài chính cũng phải được đổi mới , lấy thu lương chi , thu đủ và
chi đúng. Trong điều kiện nguồn thu có hạn, không nên chi quá khả năng
bằng cách vay nợ nước ngoài và phát hành. Điều đó chỉ dẫn đến “lạm phát”
thì không thể nâng cấp bất cứ ngành nào , lĩnh vực nào, do đó cần phải từ
bỏ ngay ý định nâng cấp ngành này hay lĩnh vực kia bằng lạm phát. Lâu
nay, tài chính nước ta thường chạy theo nhu cầu chi quá lớn của một số
ngành, một số lĩnh vực trong khi nguồn thu hạn hẹp. Đây rõ ràng không
thực tế. Do đó chống lạm phát không đạt được mục tiêu đề ra – phải nhanh
chóng xây dựng được một thị trường đầy đủ. Ơ nước ta hiện nay còn thiếu
nhiều trung tâm quan trọng của nền sản xuất hàng hoá như : Thị trường
vốn, thị trường lao động
- Thời đại ngày nay , thông tin được coi là yếu tố của lực lượng sản

xuất. Thông tin là sức mạnh của quyền lực. Do vậy, phải hoàn thiện các hệ
thống thông tin kỹ thuật phục vụ cho các nhà doanh nghiệp và phát huy dân
chủ hoá trong dời sống kinh tế. Hệ thống thông tin của nước ta hiện nay
còn rất yếu và tổ chức chưa hợp lý, thông tin bị chia cắt, số người hiểu
biết về thông tin chưa nhiều. Để đổi mới hoạt động này phải có hoạt động
thông tin kinh tế là một ngành dịch vụ , trong đó tất có các thành phần kinh
tế cá thể và cần thiết tham gia.
- Xây dựng đội ngũ các doanh nghiệp giỏi , các nhà quản lý vĩ mô có
tài, đồng thời liên kết họ lại. Cái thiếu hụt lớn nhất của chúng ta hiện nay là
ở chỗ : Chúng ta đội ngũ cán bộ khá đông đảo nhưng chất lượng không phù
hợp với quá trình đổi mới kinh tế . Có một bộ phận quá quen với cơ chế
quản lý cũ, đến nay hoàn toàn không có đủ khả năng thích ứng với cơ chế
mới, một bộ phận khác chưa được đào tạo trước khi bố trí vào các vị trí
then chốt trong các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tóm lại là đại bộ phận số
cán bộ hiện có phải đựợc bố trí, sắp xếp và đào tạo lại. Về chính sách sử
dụng cán bộ thì mạnh dạn phải được coi là một trong những phương châm
chủ yếu nếu không muốn nói là số một.
- Nhanh chóng phổ cập nghề cho người lao động. Mỗi năm nước ta
có trên một triệu thanh niên đến tuổi lao động. Hệ thống trường chuyên
nghiệp hiện mỗi năm chỉ đào tạo được 20 vạn người , chủ yếu là lao động
chính qui, dài hạn theo yêu cầu của nhà nước. Như vậy phần lớn thanh niên
đến tuổi lao động không được đào tạo nghề, do đó vấn đề tiếp thu đào tạo
và bồi dưỡng họ phải được đặt ra. Hướng ưu tiên , đầu tư của thế giới hiện
nay là lao động có kĩ thuật chứ không phải là sử dụng lao động không có kĩ
thuật. Giá cả sức lao động sẽ như những năm trước đây, những sản phẩm
hàn hoá có thị trường lớn là sản phẩm có hàm lựơng chất xám và khoa học
kỹ thuật cao.

×