Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

phát triển của trẻ em - Chứng hiếu động quá mức ở trẻ ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (195.49 KB, 6 trang )

Chứng hiếu động quá mức ở trẻ
Những đứa trẻ này thường không tập trung, không chịu ngồi yên một chỗ mà luôn
chạy nhảy, làm bừa bộn mọi thứ khiến người chăm sóc và bản thân trẻ cũng mệt
nhoài. Theo các chuyên gia tâm lý nhi, trẻ quá hiếu động khó phát triển nhân cách
bình thường và rất dễ trở nên hung bạo, nghiện ngập.
Bác sĩ Thái Thanh Thủy, Trưởng khoa Tâm lý Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP HCM,
cho biết, rất nhiều trẻ hiếu động quá mức chỉ được cha mẹ phát hiện và đưa đi
khám khi bệnh đã nặng. Nguyên nhân của sự phát hiện chậm trễ này là cha mẹ ít
quan tâm đến con, giao con cho ông bà hoặc người giúp việc chăm sóc; hoặc họ
chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về chứng này. Phần lớn phụ huynh không
nghĩ đây là một bệnh về tâm lý nên không đưa trẻ đi khám sớm.
Ở tuổi chưa biết đi, trẻ hiếu động thường khóc suốt ngày và ngọ nguậy liên tục. Sự
hiếu động bộc lộ rõ hơn khi chúng bắt đầu biết đi (từ 1 tuổi trở lên). Lúc đó, trẻ có
một số đặc điểm mà nếu chú ý, cha mẹ sẽ dễ dàng nhận ra:
 Mất khả năng tập trung: Trẻ định làm một việc rồi lại quên mất, luồng suy
nghĩ của trẻ lướt qua sự kiện này đến sự kiện khác nhưng không cố định. Ví
dụ: Trẻ định đi xuống sân chơi bỗng nhiên lại quẹo vào phòng khách hoặc
đã xuống sân mà không nhớ ra ý định ban đầu của mình. Cũng có khi trẻ
quá tập trung vào một việc ưa thích nhưng sự tập trung này lại thiếu mạch
lạc, thiếu nhất quán; chỉ tập trung được một lúc rồi quên ngay.
 Thiếu khả năng suy nghĩ trước khi hành động hoặc thiếu suy nghĩ đến hậu
quả của hành động: Chẳng hạn, trái banh lăn ra ngoài đường, trẻ lập tức
phóng theo mà không cần quan sát xem có xe cộ chạy hay vật cản gì không.
Ở nhà cũng như trong trường học, trẻ thường phá ngang, phá bĩnh. Vì lẽ đó,
trẻ hiếu động dễ gặp tai nạn. Sự hiếu động này xảy ra liên tục và thái quá so
với lứa tuổi. Thường trẻ 2-4 tuổi cũng rất nhanh nhạy nhưng đó là sự phát
triển bình thường, còn ở trẻ hiếu động có tính chất bệnh lý, các hành động
thường không có mục đích, trẻ bồn chồn và không lúc nào yên.
Bác sĩ Lâm Xuân Điền, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP HCM, cho biết, do
không chú ý học nên kết quả học tập của những trẻ quá hiếu động ngày càng sa sút,
ảnh hưởng đến thành tích chung của lớp. Thầy cô luôn xem trẻ là học sinh cá biệt


nhưng thật ra đó không phải là lỗi của trẻ. Do bị bạn bè xa lánh, trẻ càng hăng hơn,
phá rối nhiều hơn và có thể rơi vào tình trạng nghiện ngập rất sớm do bị cô lập.
Còn theo bác sĩ Thuỷ, trẻ quá hiếu động nếu được phát hiện sớm và can thiệp đúng
mức sẽ phát triển tốt. Nếu không, càng lớn trẻ càng trở nên hung hăng. Với tính
khí như vậy, trẻ sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình và khó phát triển nhân cách
bình thường trong đời sống xã hội.
Bác sĩ Điền cũng cho hay, có nhiều nguyên nhân gây hiếu động quá mức ở
trẻ: Tình trạng gia đình thường xuyên có xung đột sẽ tạo cho trẻ những ức chế về
tâm lý. Ở những gia đình này, trẻ ít được quan tâm về mặt tinh thần nên chúng
luôn muốn được “bung ra”.
Chứng hiếu động quá mức có thể được điều trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý.
Tuy nhiên, việc dùng thuốc cho trẻ có thể gây nguy hiểm vì những loại thuốc này
thường chứa chất ma túy, dễ gây nghiện. Còn với liệu pháp tâm lý, kết quả sẽ tốt
hơn. Có thể tổ chức các nhóm trẻ hiếu động quá mức để các em hiểu nhau, dễ
thích nghi ứng xử hơn và làm cho phản ứng của những người xung quanh giảm đi.
8 điều cần biết để chăm sóc trẻ hiếu động:
 Tính nết của trẻ hiếu động sẽ được cải thiện nhiều nếu có sự quan tâm, kiên
nhẫn của cha mẹ.
 Không nên đặt biệt hiệu cho con là “đứa con trời đánh”, “nghịch như quỷ
sứ” Cách đặt biệt hiệu này làm trẻ càng xa cách với bạn bè và trở nên tự ti,
hung hăng thêm.
 Việc la mắng, đánh đập càng làm phát triển sự hung hăng của trẻ hiếu
động; thay vào đó, nên cư xử dịu dàng với trẻ.
 Không nên so sánh con với những trẻ khác cùng tuổi với ý chê trách, thất
vọng. Do đã rơi vào tình trạng đặc biệt nên những gì mà trẻ trông chờ là sự
thương yêu của cha mẹ. Đối với những trẻ này, tình yêu của cha mẹ chính
là sự sống còn.
 Nên nhìn vào mắt con khi nói chuyện. Bắt trẻ nhìn vào mắt bạn khi nó yêu
cầu một điều gì. Thực hiện hành động rõ ràng ngay trước mắt trẻ.
 Giúp trẻ tập hình dung được hậu quả trước khi hành động.

 Dùng những lời động viên, khen ngợi để trẻ tự làm một cách hứng thú
những công việc nhỏ có ích.
 Luôn giám sát trẻ.
Con bạn có bị rối loạn về phát triển ngôn ngữ?
Nhiều bậc cha mẹ không hề biết đứa con nhỏ của mình gặp khó khăn về ngôn
ngữ, khi nhận ra thời điểm dễ chữa trị đã trôi qua. Chỉ dẫn của các chuyên
gia tâm lý Bệnh viện Nhi Đồng 1 sẽ giúp bạn phát hiện những dấu hiệu báo
động ở trẻ.
Từ lúc sinh đến 6 tháng tuổi, một đứa trẻ bình thường sẽ biết bập bẹ phát âm.
Người thân cần nói một cách êm ái và nồng nàn với bé. Luôn luôn cười và trò
chuyện với bé, giải thích những tiếng động mà trẻ nghe thấy, gọi tên các đồ vật
trong nhà.
Báo động: Bé bé không phản ứng với tiếng động. Cần xem bé có nghe rõ không;
hoặc nhìn ánh mắt bé để xem có phải bé không tìm cách giao tiếp với bạn.
18 tháng, bé hiểu những câu ngắn, đơn giản; ngoài từ "ba, mẹ", vốn từ vựng của
bé khá dồi dào. Bạn cần nói chuyện với bé bình thường bằng những từ đơn giản
nhưng không được đơn giản quá. Cho bé xem những cuốn sách bằng bìa cứng, tạp
chí có hình khối, màu sắc sinh động. Kể chuyện cho bé nghe.
Báo động: Sự phát triển ngôn ngữ của bé có dấu hiệu ngưng đột ngột hoặc bị thoái
lui thay vì tiến bộ hơn.
Lên 2 tuổi, bé hiểu được những mệnh lệnh phức tạp, biết nói tên mình, biết phối
hợp 2-3 từ thành câu ngắn. Nên làm giàu từ vựng của bé qua các tình huống giao
tiếp, giải thích những từ bé chưa hiểu. Nếu bé phát âm không đúng, bạn hãy phát
âm đúng nhưng không bắt con lặp lại.
Báo động: Ngoài tiếng “ba, mẹ”, bé chỉ hiểu được vài từ khác. Bé chưa biết phối
hợp 2 từ để cấu thành những câu nhỏ.
Khi 4 tuổi, trẻ nói không lỗi văn phạm và cú pháp trầm trọng. Bạn hãy kể và cùng
trẻ đọc truyện nhằm phát triển ước muốn đọc sách và giúp trẻ dễ dàng học ngôn
ngữ viết sau này.
Báo động: Trẻ khó bắt đầu đặt câu, lặp lại âm hoặc từ. Những câu của trẻ ngắn và

có cấu trúc sai. Không phải lúc nào cũng hiểu được điều trẻ nói. Trẻ khó khăn khi
kể lại những sự việc đơn giản mới xảy ra.

×