Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

Vai trò và lịch sử phát triển của Khoa học địa lí ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (340.48 KB, 13 trang )

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÍ
Người soạn: Trần Thị Hồng Sa
1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÍ
1.1. Khái niệm
Tên gọi Địa lí xuất phát từ tiếng Hy Lạp là Geography.
Người xưa có những nhận biết sơ khai về địa lí thông qua việc mô tả các hiện tượng
như sự thay đổi thời tiết, khí hậu, tìm phương hướng…  khi có chữ viết, các kiến thức
địa lí được ghi chép lại tạo nền móng cho sự phát triển của Khoa học địa lí ngày nay.

Theo Bách khoa toàn thư Xô Viết: “Địa lí học là một hệ thống các khoa học tự
nhiên và xã hội, nghiên cứu thể tổng hợp tự nhiên, thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và
các thành phần của chúng.”
Hệ thống khoa học: là sự kết hợp của nhiều bộ môn khoa học khác nhau với các chức
năng riêng nhưng đồng thời lại được thống nhất bởi 1 chức năng chung. Hay nói cách
khác, tất cả các khoa học thuộc 1 hệ thống đều có đối tượng nghiên cứu chung, mặc dù
mỗi khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng. Các khoa học bộ phận đều sử dụng 1
phương pháp luận chung, 1 hệ thống khái niệm chung và có thể cùng sử dụng 1 số
phương pháp chung.
Sơ đồ thể hiện cấu trúc hệ thống của ngành Khoa học địa lí
Xét về cấu trúc, địa lí tự nhiên thuộc KHTN, địa lí KT – XH thuộc KHXH nhưng
không thể để chúng phát triển thành những ngành khoa học riêng biệt mà phải tập hợp
chúng thành địa lí học. Bởi:
1
Hệ thống các ngành KH Địa lí
KH Địa lí Tự nhiên KH Địa lí KT - XH
Địa lí TN bộ phận Địa lí TN tổng hợp Địa lí KT – XH bộ phận Địa lí KT – XH tổng hợp
- Cổ địa lí
- KH Trái đất
- Địa mạo học
- Khí hậu học
- ĐL thủy văn


- ĐL sinh vật
- ĐL th.nhưỡng
- Cơ sở địa lí tự nhiên
- Địa lí tự nhiên thế
giới và Việt Nam
- Cảnh quan học
- Cơ sở địa lí
KT - XH
- Địa lí KT-XH
thế giới
- Địa lí KT-XH
Việt Nam
- ĐL Dân cư
- ĐL Nông nghiệp
- ĐL Công nghiệp
- ĐL Dịch vụ
Bản đồ học
- Địa lí KT - XH không thể tồn tại nếu tách rời địa lí tự nhiên vì XH muốn tồn tại và
phát triển thì con người phải tác động vào tự nhiên và sống trong tự nhiên. Do đó, cần
phải hiểu tự nhiên, đặc điểm và qui luật tự nhiên.
- Địa lí tự nhiên không thể tách địa lí KT – XH vì nếu tách nó sẽ mất đi mục đích
nghiên cứu của mình là phục vụ sản xuất.
- Tự nhiên đã bị các hoạt động của con người làm biến đổi nhiều đến nỗi khó mà
nhận thức nó cho đúng đắn nếu không có hiểu biết về địa lí KT – XH.
Địa lí tự nhiên và địa lí KT – XH phải hợp nhất thành địa lí thống nhất. Bởi chúng
cùng nghiên cứu về lãnh thổ, về lớp vỏ địa lí, môi trường địa lí, quan hệ giữa con người
và tự nhiên. Vì vậy có thể xác lập các quy luật địa lí chung và các phương pháp nghiên
cứu chung.
 Với các quan niệm đó, ngày nay địa lí học được hiểu là gồm hệ thống các KHTN
và XH, nghiên cứu tổng hợp thể không gian hoàn chỉnh tự nhiên – kinh tế – xã hội –

nhân văn (TN – KT – XH – NV).
1.2. Vai trò
Địa lí học hiện đại có vai trò ngày càng quan trọng trong hoạt động giảng dạy, giáo
dục ở nhà trường, trong XH, trong giới KH và thực tiễn đời sống của con người.
1 - Địa lí học đụng chạm đến nhiều vấn đề rộng, phức tạp cả về tự nhiên lẫn KT – XH
nên cung cấp cho người học nhiều khái niệm cần thiết trong cuộc sống.
2 - Người học hiểu biết được đời sống của các dân tộc trên thế giới, mối quan hệ giữa
người với người, giữa sức sản xuất với quan hệ sản xuất và sự tiến bộ xã hội. Từ đó, họ
nắm được đặc điểm của các phương thức sản xuất và phương thức sản xuất nào là tối ưu.
3 - Địa lí trong nhà trường có khả năng giáo dục cho người học lòng yêu nước, tinh
thần quốc tế vô sản, bảo vệ và cải tạo tự nhiên, xã hội. Đồng thời, địa lí rèn luyện cho
người học những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày, cho sản xuất, chiến đấu
như kĩ năng quan sát, kĩ năng đọc và vẽ bản đồ, xác định phương hướng…
4 - Tạo hiệu quả cao trong quản lí và sử dụng tài nguyên để đảm bảo duy trì sự phát
triển KT – XH. Không gian địa lí thống nhất là sản phẩm của con người, của xã hội, là
công cụ và môi trường để xã hội tự tái sản xuất. Như vậy, địa lí có vai trò tích cực trong
việc tổ chức không gian nhân sinh; trong việc bảo vệ, cải tạo và chống ô nhiễm môi
trường.
Với những dự án tổ chức và quản lí lãnh thổ phức tạp mà làm theo phương pháp
thông thường là không thể được hoặc khó và lâu thì xây dựng hệ thông tin địa lí
(HTTĐL) là giải pháp tối ưu. Cụ thể: theo dõi diện tích rừng, nạn cháy rừng, biến đổi khí
hậu, sa mạc hóa, quản lí và sử dụng đất đai, quản lí hệ thống đường giao thông, quản lí
2
tài nguyên tự nhiên, chương trình KT – XH (phòng chống bệnh tật, quản lí các hoạt động
đô thị, quản lí dân số, xóa đói giảm nghèo)…
5 - Địa lí là khoa học tiếp cận hệ thống không gian, có thể giúp các nhà lãnh đạo hay
nhà quản lí điều hành tốt 1 lãnh thổ hay lãnh hải nào đó theo hướng phát triển bền vững.
Trong hệ thống tự nhiên thì cơ chế giữ cân bằng là cơ chế tự điều chỉnh. Còn trong hệ
thống thống nhất TN – KT – XH – NV thì phải có yếu tố chỉ huy để điều khiển. Khi đó
tiếp cận hệ thống là quá trình tìm ra các cơ sở, các giải pháp, các phương án (kịch bản)

giúp cho nhà lãnh đạo hay quản lí ra quyết định sáng suốt. Lúc này khoa học địa lí trở
thành 1 khoa học hành động và năng động trong xã hội công nghiệp hóa, đô thị hóa, tin
học hóa sôi động.
VD: Những chính sách định canh định cư, trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống đồi
núi trọc, giao đất giao rừng, trồng RNM ven biển… của Nhà nước ta.
6 - Sự phân vùng tự nhiên, phân vùng KT – XH là cơ sở khoa học tổng hợp để đẩy
mạnh công cuộc đổi mới, quản lí hiệu quả KT – XH.
2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Những hiểu biết về địa lí có từ hàng ngàn năm TCN. Khoảng 2400 năm TCN, người
Phênixi sống ở ven Địa Trung Hải (Xiri – Libăng nay) đã đi thám hiểm và buôn bán khắp
Địa Trung Hải, biển Đỏ, sang Đại Tây Dương.
Bản đồ cổ nhất thế giới bằng đất nung có tuổi 2500 năm TCN thể hiện vùng đất
Lưỡng Hà với châu thổ của 2 sông Tigrơ và Ơphrat đổ ra biển và ở 2 bên có 2 dãy núi
bao quanh.
Ở Ai cập, các Vua đã tiến hành đo đạc đất đai châu thổ sông Nin để có cơ sở đánh
thuế.
2.1. Thời kì cổ đại (Thế kỉ V TCN  IV SCN)
Bắt đầu xuất hiện những ý niệm địa lí thông qua những cuộc đi biển, những hành
trình dài trên đất liền  con người đã ghi chép, mô tả các sự kiện. Những ý niệm ấy được
chia thành 2 hướng chính: Địa lí đại cương và Địa lí khu vực.
- Thế kỉ V TCN: Hêrôđốt lần đầu tiên đưa ra những thông tin có tổ chức về nhiều mặt
khi ông mô tả các vùng đất và biển mà ông đã đi qua ở Biển Đen, Địa Trung Hải, Ai cập,
Tiểu Á, vùng Lưỡng Hà. Trường phái Pitago với những khái niệm về 1 Trái đất hình tròn.
Trường phái Pacmênit với tính địa đới.
- Thế kỉ III TCN: Êratôxten đã chú ý đo đạc Trái đất; xác định phương hướng và vị trí
địa lí; đặt tên và định nghĩa cho khoa học địa lí; mô tả các quyển của Trái đất (thạch
quyển, khí quyển)  Địa lí học mang tính định lượng, sử dụng toán học và thiên văn học.
3
Ông đã xác định chiều dài kinh tuyến khoảng 39.500 km (chính xác là 40.075,7 km); xây
dựng bản đồ thế giới có người ở với chiều dài từ Đại Tây Dương đến sông Hằng kèm

theo hệ thống kinh – vĩ độ, chiều rộng không đi xa quá về phía bắc và nam Địa Trung
Hải, trên đó thể hiện châu Á, Âu, Phi.
- Thế kỉ II TCN đến đầu CN:
Crates xây dựng quả địa cầu và đã tưởng tượng ra 3 lục địa là Bắc Mĩ, Nam Cực, Úc.
Strabon chuyển sang nghiên cứu địa lí nhân văn, chú ý đến dân tộc và chiều lịch sử.
- Thế kỉ II SCN: Khoa học địa lí có bước thụt lùi với “Thuyết địa tâm hệ” của
Ptôlêmê. Song ông có những đóng góp lớn về bản đồ và trắc địa.
Công trình quan trọng nhất của ông là cuốn “Địa lí học” gồm 8 tập (Tập 1 – các
nguyên tắc, trong đó có cách xây dựng quả địa cầu và cách chiếu khi vẽ bản đồ; Tâp 2,
3,4,5,6,7 – danh mục gồm hơn 8000 địa danh kèm theo tọa độ kinh – vĩ để xác định vị trí;
Tập 8 – về địa lí, toán học, thiên văn học, phép chiếu hình nón; 1 bản đồ toàn thế giới, 26
bản đồ chi tiết các khu vực).
Theo bản đồ của ông, thế giới dài đến 180
0
(đảo Canari đến Trung Quốc) và rộng
70
0
B – 15
0
N, gồm châu Âu, Á, Phi, Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, biển Caxpi, biển Đỏ,
Ấn Độ Dương.
2.2. Thời kì trung cổ (thế kỉ V SCN – đầu thế kỉ XV)
Đây là thời kì suy đồi của địa lí học vì nhiều thành tựu của khoa học địa lí đã đạt được
từ trước bị phủ định. Người ta bắt buộc phải chấp nhận lời phán có sẵn của nhà thờ như
quả đất là mặt phẳng hay dạng đĩa; Các bản đồ không thể hiện thực tại mà vẽ theo trí
tưởng tượng và theo giáo lí Thiên chúa giáo (bản đồ được đặt theo hướng Đông – Tây, có
thêm 1 vùng thiên đường của chúa ở chính giữa trên cùng).
Song vẫn có những thành tựu: Người Ả rập khẳng định lại chiều dài kinh tuyến, bắt
đầu nói Mặt trời là
trung tâm vũ trụ;

Người Noocmăng
có những hành trình
trên biển ở Đại Tây
Dương, chiếm Băng
đảo và đảo Grơnlen,
sang bán đảo
Labrađo và đi dọc
biển châu Mĩ; gia
đình Marco polo
4
(Maccô Pôlô) ở Trung Âu đến Trung Hoa, Mông Cổ bằng đường bộ và đi vòng quanh
Nam Á vào tiểu Á bằng đường biển.
Đối tượng nghiên cứu: không rõ ràng, có trường phái là phát triển con đường khám
phá những vùng đất mới, còn lại thì tìm hiểu về Trái đất nhưng mang màu sắc tôn giáo,
không phản ánh thực tế.
2.3. Thời kì phục hưng (cuối thế kỉ XV – thế kỉ XVI)
Các quan hệ buôn bán mang
tính chất hàng hóa được mở rộng 
nhu cầu tìm kiếm thị trường. Đồng
thời, các câu chuyện và sản vật được
các nhà du hành và thương nhân mang
về từ phương Đông đã kích thích các
nước phương Tây. Trong khi đó, ở Tiểu
Á xuất hiện đế quốc Thổ mà các cuộc
đánh chiếm rộng lớn đã ngăn chặn con
đường thủy bộ sang phương Đông 
Các nước châu Âu tìm con đường mới sang phương Đông bằng cách đi về phía Tây. Đây
là thời kì của các cuộc phát kiến địa lí vĩ đại.
- Christophe Colomb (Cơrixtôp Côlông, 1451 – 1506, người Ý): đã tiến hành 4
hành trình từ Châu Âu (Tây Ban

Nha) sang Châu Mĩ đến quần đảo
Bahama, Hati, Giamaica… (1492 –
1502)  biết được những sinh vật
của “Tân thế giới”, dân cư, dòng
biển, tín phong…
- Vasco de Gama (Vatxcô đờ
Gama, 1469 – 1524, người Bồ Đào
Nha): đã tìm đường sang Ấn Độ
bằng cách đi vòng qua Châu Phi,
tìm được thị trường rộng lớn ở Nam
Á, Đông Nam Á.
- Magellan (Magienlăng,
1470 – 1521, người Bồ Đào Nha):
là người đầu tiên đi vòng quanh thế giới bằng đường biển. Từ Tây Ban Nha  vòng qua
Nam Mĩ ở eo Magellan  Thái Bình Dương  quần đảo Marian (Philippin) và ông mất
ở đây  Đoàn người còn lại tiếp tục vòng quanh châu Phi về lại Tây Ban Nha (1519 –
5
1522). Lúc này, con người
đã khẳng định sự tồn tại
của đại dương nối liền với
nhau và phân cách bởi lục
địa, phát hiện ra các vành
đai gió trên địa cầu.
Chứng minh được
những thành tựu của địa lí
cổ đại: Trái đất hình cầu,
tính địa đới của khí hậu do
góc tới khác nhau của Mặt
trời và sơ bộ hình thành các quy luật địa lí, quan hệ giữa khí hậu – sinh vật – con người,
phát hiện thêm đặc điểm của các đới gió, hiểu thêm nhiều dân tộc địa phương…

Bản đồ toàn cầu chính xác hơn. Lần đầu đưa America vào bản đồ với vai trò của
Meccato. Năm 1570, tập Atlat đầu tiên được xuất bản, gồm 53 bản đồ in từ các bản khác
bằng đồng, tô màu bằng tay.
2.4. Thời kì tiền TBCN (thế kỉ XVII – thế kỉ XVIII)
Khoa học địa lí tiếp tục phát triển theo hướng phát hiện và khảo sát những vùng đất
chưa được biết đến. Những cuộc thám hiểm tập trung vào việc nghiên cứu các đại dương
(nổi bật vai trò của J. Cook), nghiên cứu nội địa của các châu lục, nghiên cứu các xứ ở
cực (Mĩ, Nga, Anh, Pháp…). Cụ thể:
James Cook đã mở ra thời kì du hành khoa học, có mục đích và phương pháp rõ ràng.
Ông đã thám hiểm châu Đại Dương.
Varenius với công trình “Địa lí đại cương” công bố năm 1650; xác định rõ đối tượng
của địa lí là lớp vỏ địa lí, gồm lục địa, đại dương, khí quyển, nghiên cứu trong khung
cảnh toàn bộ Trái đất và theo từng khu vực; đề xuất phân chia ra địa lí tự nhiên và địa lí
KT – XH.
Kepler đưa ra lí thuyết về các quy luật chi phối sự vận động của các hành tinh xung
quanh Mặt trời.
I.Newton khám phá ra quy luật hấp dẫn trong vũ trụ.
Kant đưa ra hệ thống cấu tạo vũ trụ, hệ Mặt Trời.
Lômônôxốp đã nghiên cứu dự án khai thác Bắc cực, dự án nghiên cứu toàn diện các
lực lượng sản xuất tự nhiên của nước Nga và vẽ bản đồ Nga.
Humbolt đã thám hiểm Nam Mĩ, Trung Mĩ; xác định độ cao trung bình các lục địa,
quy luật giảm nhiệt độ theo độ cao, thu thập 6.000 loài cây.
6
Ở Việt Nam: Lê Quý Đôn (Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục),
Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại ngữ, trong đó có cuốn Dư địa chí).
Nhưng ấn tượng nhất là các phát minh công nghệ, sự giải thích và lập luận khoa học,
các công trình tổng kết. Phát minh ra các dụng cụ nghiên cứu, đo lường: phong vũ biểu,
hàn thử biểu, kính viễn vọng, bàn đạc, máy kinh vĩ, phương pháp tam giác đạc  quan
sát không gian và vẽ bản đồ chính xác hơn.
- Trong ngành bản đồ: Ngành bản đồ Pháp lên ngôi với việc xây dựng bản đồ nước

Pháp của Cassini (1744). Nước Anh thành lập “Cục bản đồ quốc gia” năm 1791.
2.5. Thời kì TBCN (thế kỉ XIX)
- Đặc điểm: Khoa học địa lí có tính chuyên nghiệp, có đào tạo, có tổ chức nghiên cứu
rõ ràng và mang tính quốc tế. Sự phân ngành ngày càng mạnh với 2 bộ môn là khoa học
địa lí tự nhiên và khoa học địa lí kinh tế.
Có 3 khuynh hướng nghiên cứu chính:
Nghiên cứu vùng: Các vùng được phân ra dựa vào địa chất, địa hình, khí hậu, thủy
văn, sinh vật, thổ nhưỡng  quy luật phân hóa không gian của lớp vỏ địa lí, có xét đến
đặc điểm riêng của mỗi vùng tạo ra bởi sự kết hợp giữa các hợp phần tự nhiên.
Nghiên cứu quan hệ con người – môi trường địa lí: Môi trường là điều kiện cơ bản,
tiền đề để phát triển KT – XH. Con người là chủ thể, quyết định cách sử dụng môi trường
sao cho có lợi nhất với mình. Cần giải quyết hài hòa, hợp lí mối quan hệ này theo đúng
quy luật quan hệ giữa con người và môi trường.
Nghiên cứu cảnh quan: Địa lí phải xuất phát từ việc nghiên cứu 1 cái gì cụ thể, trông
thấy và cảm nhận được – cảnh quan. Nó được nhào nặn, xây dựng từ sự phối hợp giữa
các lực lượng tự nhiên và các tác động của con người. Cảnh quan trở thành đối tượng
nghiên cứu của địa lí.
 cả 3 khuynh hướng đều bổ sung cho nhau, mỗi khuynh hướng đi sâu vào 1 khía
cạnh của thực tại phân hóa không gian của tự nhiên và xã hội.
- Nhiều khoa học chuyên ngành mới tách ra từ địa lí: Địa chất, Khí hậu học, Thổ
nhưỡng học, Thực vật học, Động vật học, Thiên văn học, Trắc địa học – bản đồ, Hải
dương học  Thế mạnh thuộc địa lí tự nhiên nên nó được xếp vào khoa học tự nhiên.
Tuy nhiên, sự phân ngành bộc lộ nhược điểm  xuất hiện xu thế nghiên cứu địa lí tự
nhiên tổng hợp.
- Địa lí kinh tế ra đời cuối thế kỉ XIX – được kích thích bởi sự phân công lao động
theo lãnh thổ trong sản xuất hàng hóa TBCN, sự phát triển của Thống kê học và học
thuyết về sự định vị các ngành sản xuất.
7
- Bản đồ học có những bước tiến: Bản đồ thế giới không còn chỗ trắng; nền kinh tế cơ
giới hóa, mạng lưới đường sắt, đáy đại dương cũng được thể hiện; phương pháp bình độ

thay thế cho nét gạch khi thể hiện độ cao; dùng kí hiệu màu và nền màu để thể hiện các
đối tượng địa lí thay cho bản đồ đen trắng; xuất hiện các atlat chuyên đề. Bản đồ không
chỉ mô tả mà có nội dung khoa học, thể hiện các hiện tượng, các kết quả phân loại và
phân vùng.
- Đại diện: Humbolt đưa ra quy luật địa đới và quy luật đai cao. Rite đã thu thập các
hiện tượng tự nhiên và KT – XH, hệ thống hóa chúng trong các chuyên khảo về địa lí địa
phương ở châu Á, Phi; đặt nền móng cho “Địa lí quyết định luận”.
Đối tượng nghiên cứu: với 2 bộ môn là khoa học địa lí tự nhiên và khoa học địa lí
kinh tế. Hướng nghiên cứu vùng, quan hệ con người – môi trường địa lí, cảnh quan. Thế
mạnh thuộc địa lí tự nhiên nên nó được xếp vào khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, sự phân
ngành bộc lộ nhược điểm  xuất hiện xu thế nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp.
2.6. Thời kì hiện đại
* Giai đoạn 1900 – 1950
Khoa học địa lí gần như chững lại, lúng túng trước sự thiếu thống nhất trong cơ sở lí
luận. Các nhà địa lí vẫn chỉ áp dụng các quan điểm, các thành tựu của 30 năm cuối thế kỉ
trước thể hiện trong 3 khuynh hướng chính. Giải pháp tình thế được đưa ra là xây dựng
các trường phái quốc gia, căn cứ vào đặc điểm tự nhiên và nhu cầu riêng trong sự phát
triển KT – XH tại mỗi nước mà tìm hướng đi cho thích hợp.
- Trường phái địa lí Pháp: thống nhất về quan điểm vùng trong mối quan hệ con
người – môi trường và về phương pháp nghiên cứu từ trên xuống – dưới lên, theo cấu
trúc ngang giữa các vùng lớn nhỏ.
- Trường phái địa lí Đức: khuynh hướng cảnh quan, đặc biệt nghiên cứu cảnh quan
văn hóa, coi việc nghiên cứu cảnh quan như là nơi tiếp giáp giữa thạch quyển, sinh quyển
(chú ý lớp phủ thực vật), khí quyển. Nghĩa là quan tâm đến mối quan hệ giữa con người
và môi trường (chú ý đến tác động của chủng tộc) nhưng vẫn thiên về địa lí tự nhiên.
Ngoài ra có các khuynh hướng mới như:
Địa lí – chính trị (nghiên cứu, cắt nghĩa các điều kiện chính trị trên quan điểm và
phương pháp địa lí),
Địa chính trị (xác định các chiến lược chính trị căn cứ vào điều kiện địa lí),
8

Địa lí văn hóa (sử dụng ngôn ngữ bản đồ để phân vùng văn hóa, rồi mô tả và giải
thích đặc trưng của các vùng văn hóa trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và cư
dân sinh sống ở đó),
Địa lí kinh tế (nghiên cứu sự phân bố trong không gian của các hiện tượng kinh tế và
các vùng địa lí kinh tế lớn nhỏ, xây dựng lí thuyết định vị cho từng ngành kinh tế, xác
định các mô hình không gian của kinh tế và chiến lược phát triển vùng kinh tế)…
- Trường phái địa lí Nga: Theo khuynh hướng cảnh quan với các đại diện Docussaep,
Vưxôxki, Becgơ, Pôlưnốp… Họ đã phát hiện ra thổ nhưỡng là 1 thành phần địa lí mới
với quan điểm tổng hợp; gọi đới tự nhiên là đới cảnh quan; phát hiện ra cấu trúc ngang
của cảnh quan địa lí với 2 đơn vị cấu tạo cơ bản cấp dưới là dạng và diện địa lí; đối tượng
và nhiệm vụ của địa lí là nghiên cứu lớp vỏ ngoài của Trái đất – lớp vỏ địa lí với ranh
giới và những quy luật chung.
Về mặt kinh tế, nổi bật là N.N.Baranxki với việc phân vùng và kế hoạch hóa nền kinh
tế Liên Xô; chú ý địa lí khu vực (địa lí kinh tế quốc gia) và đưa ra 1 kết cấu để đặc trưng
về địa lí kinh tế 1 nước; phân công lao động theo lãnh thổ và tổ chức xã hội theo lãnh thổ.
* Giai đoạn 1950 – 2000
+ Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và khoa học - công nghệ
1 - Chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang giữa phe XHCN và TBCN  chấm dứt khi
Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
2 - Đấu trang vũ trang, bán vũ trang của các nước thuộc địa đã khiến CN đế quốc bị
sụp đổ và sự ra đời hàng trăm quốc gia độc lập mới. Ngoài ra đã hình thành tình trạng
chia cắt 1 số nước làm đôi. Lúc này địa lí chính trị và địa chính trị được quan tâm.
3 - Các ngành KH XH phát triển (nhân chủng học, xã hội học)  KH địa lí vận dụng
các thành tựu đó vào phân tích các thành phần cấu trúc xã hội. Vận dụng thành tựu của
sinh thái học để phân tích thành phần cấu trúc tự nhiên trong tổng hợp thể không gian
hoàn chỉnh TN – KT – XH – NV. Đưa ra các học thuyết về địa - sinh thái, kinh tế – sinh
thái, sinh thái – nhân văn.
4 - Từ 1950, KT – XH phát triển. Các nước giàu phát triển bằng mọi giá đã hủy hoại
môi trường nhưng đã thay đổi cơ cấu lao động, cơ cấu dân cư, dịch vụ phát triển  từ
những năm 80 là khủng hoảng mà mầm móng là 2 cú sốc dầu mỏ năm 1973 và 1979.

Biểu hiện: Sản xuất chỗ thừa chỗ thiếu, ô nhiễm môi trường trầm trọng, chênh lệch giàu
nghèo ngày càng tăng…

giải quyết: xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, “hệ
thống thế giới” được hình thành và chi phối nhiều quốc gia. Mỗi quốc gia là 1 bộ phận
của hệ thống thế giới, chịu sự tác động của hệ thống.  Khoa học địa lí tham gia vào sự
9
tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, đấu tranh cho công bằng xã hội, tổ chức hợp lí
các lãnh thổ sản xuất, đô thị nhằm phát triển kinh tế bền vững và đồng đều giữa các vùng.
+ Sự hiện đại hóa Khoa học địa lí
1 - Sự xâm nhập và phối hợp liên ngành giữa KH TN và KH XH. Song xu hướng là
thiên về KH XH (bởi sự biến động của môi trường tự nhiên đã diễn ra chậm hơn so với sự
thay đổi trong XH + môi trường tự nhiên nguyên thủy không còn hoặc rất hiếm + địa lí sẽ
có vai trò tích cực trong các quyết định, hành động của các nhà lãnh đạo khiến nó trở
thành KH hành động, năng động)
2 - Đối tượng và nhiệm vụ rõ ràng. Phương pháp tiếp cận hệ thống: Khi tiếp cận hệ
thống 1 tổng hợp thế lãnh thổ thống nhất, hoàn chỉnh  phải coi nó là 1 hệ thống TN –
KT – XH – NV với đầy đủ các tính chất của 1 hệ thống động lực hở như tính thống nhất,
tính có cấu trúc, có tổ chức, tính tương tác giữa các thành phần và giữa các bộ phận,
thông qua dòng trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin trong phạm vi ranh giới của hệ
thống, tính tương tác giữa hệ thống với môi trường bên ngoài. Trong đó, nghiên cứu cấu
trúc ngang là quan trọng nhất vì đó là cấu trúc không gian đặc thù; cấu trúc thẳng đứng
phải nằm trong và thuộc về 1 đơn vị cấu trúc ngang lớn nhỏ nào đó.
Quan hệ giữa hệ thống với môi trường được thực hiện qua dòng từ môi trường vào hệ
thống và dòng đi từ hệ thống ra môi trường. Quá trình này diễn ra liên tục, tác động đến
cấu trúc và chức năng của hệ thống. Muốn tồn tại lâu dài, hệ thống phải có biện pháp
kiểm soát được quá trình vào ra để thích nghi với những biến đổi của quá trình.
3 - Đặt con người vào trung tâm của tổng hợp thể không gian địa lí thống nhất là đặt
con người vào vị trí làm chủ môi trường tự nhiên, sử dụng và khai thác nó tùy vào mục
đích và khả năng của mình nhưng đồng thời phải chăm sóc, bảo vệ nó, cho mình và các

thế hệ sau.
4 - Hệ thông tin địa lí (GIS - Geographic Information System) – công cụ đắc lực cho
việc phân tích hệ thống không gian, nhất là cho phép phân tích cấu trúc ngang với các
đặc tính không gian và quan hệ không gian.
Tóm lại: Địa lí học hiện đại phải giải quyết được 1 trong những vấn đề lớn nhất của
thời đại là vấn đề quan hệ giữa con người và môi trường sống. Địa lí trở thành 1 ngành
KH động với xu hướng dự báo, thực nghiệm và cải tạo.
3. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÍ
* Đối tượng nghiên cứu:
Địa lí thống nhất TN – KT – XH – NV hiện đại là kết quả tất yếu của sự phát triển của
KH địa lí vào cuối thế kỉ XX. Theo đó, đối tượng nghiên cứu của địa lí học là tổng hợp
thể không gian hoàn chỉnh TN – KT – XH – NV.
10

Các phân hệ của hệ thống không gian địa lí hoàn chỉnh
1 - Phân hệ tự nhiên: Đây là cơ sở vật chất và năng lượng cho mọi hoạt động KT –
XH. Bên cạnh nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, cần đi sâu tìm hiểu các dòng vật
chất và năng lượng – bản chất của mối quan hệ tương tác trong môi trường tự nhiên.
Con người là 1 bậc trong tháp địa – sinh thái. Khi tham gia vào dòng năng lượng và
chu trình ấy, con người đã làm nhiễu loạn chúng, gây ra những tác hại mà cuối cùng con
người phải trả giá. Do vậy, tìm hiểu hoạt động của hệ địa – sinh thái, tác động qua lại
giữa hệ địa – sinh thái với con người là nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ giữa XH
và môi trường sao cho hợp lí để phát triển bền vững.
2 - Phân hệ KT: KT là hoạt động sản xuất ra của cải, phân phối chúng đến thị trường
để đáp ứng sự tiêu dùng của XH. Nhiệm vụ là tìm hiểu thực trạng nền sản xuất; giải
thích và đánh giá thực trạng đó; đề ra các giải pháp khắc phục những nhược điểm và
đẩy mạnh các ưu điểm để đưa nền KT phát triển bền vững. Trong đó, chú ý đến sự cân
bằng không gian của các hoạt động KT mà đô thị là đối tượng quan tâm đặc biệt.
3 - Phân hệ XH: Khi khai thác TN để sản xuất và sinh hoạt, con người hoạt động
trong 1 cộng đồng, 1 XH có tổ chức. Nghiên cứu sự phân bố không gian của các hoạt

động XH và ảnh hưởng của chúng trong việc hình thành nên tính đặc thù của địa phương
thông qua các mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau và giữa chúng với MTTN.
Các hoạt động XH là các hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa và sự định cư cùng các
đặc điểm của cư dân.
- Địa lí chính trị tiếp cận các vấn đề chính trị theo chuỗi “ý tưởng - vùng”; tổ chức
chính quyền, phân chia hành chính, luật pháp, giữ gìn trật tự an ninh… ; phát huy nhân tố
chính trị (tăng cường sự lãnh đạo, tính thống nhất trong tư tưởng, hành động khi tổ chức
lãnh thổ, coi con người là sự chỉ huy trong hệ thống không gian địa lí thống nhất).
- Vấn đề XH cần quan tâm là quyền, các hình thức sở hữu và sử dụng đất đai; nội
dung cơ bản của việc quản lí hệ thống lãnh thổ; chênh lệch giàu nghèo; đấu tranh cho
công bằng XH.
- Về văn hóa cần quan tâm đến toàn bộ phong cách sống mà 1 cộng đồng người chấp
nhận, cùng thực hiện; giải thích phân bố không gian của hiện tượng văn hóa dựa vào
quan hệ giữa con người và tự nhiên (văn hóa sinh thái). Ngày nay, nghiên cứu địa lí văn
hóa chủ yếu là phát hiện ra dấu ấn của con người trên tự nhiên.
- Dân cư là lực lượng sản xuất và tiêu thụ chủ yếu. Nó là hệ quy chiếu của tất cả các
cuộc nghiên cứu địa lí vì số lượng, phân bố, chất lượng dân cư phản ánh rõ kết quả của
các mối quan hệ con người và tự nhiên. Nghiên cứu địa lí dân cư phải nắm được dân số;
11
mật độ dân số; đặc điểm dân cư (dân tộc, tôn giáo, tỉ lệ nam – nữ, tháp tuổi, tỉ lệ sinh –
tử, tỉ lệ thất nghiệp…); phân bố các điểm quần cư.
4 - Phân hệ nhân văn: Ngày nay, bên cạnh việc xét con người trong cộng đồng, XH
thì cần xét góc độ cá nhân, tâm lí, sở thích, nhu cầu, phản ứng của con người đối với
MTTN và MTXH. Quyền con người được đề cao nên họ quyết định xây dựng không gian
sản xuất, sinh hoạt và hưởng thành quả từ chúng. Vì vậy, hiệu quả của việc tổ chức không
gian địa lí phụ thuộc vào sự sáng suốt ra quyết định và sự đồng tình của người thực hiện.
Do đó, khi nghiên cứu hệ thống không gian địa lí để tổ chức nó, không chỉ nghiên cứu
không gian TN – KT – XH – NV theo các hiện tượng và sự vật mà gồm cả việc tìm hiểu
cá tính (thông qua tiểu sử, hoạt động, phỏng vấn) của con người tham gia và quá trình tổ
chức không gian.


Quan điểm của địa lí thống nhất
1 – Đặt con người vào vị trí trung tâm Trái đất và vũ trụ. Không gian địa lí là “của
con người, do con người, vì con người”  con người cần chủ động tạo ra “không gian
địa lí hoàn chỉnh” với môi
trường tự nhiên xanh, sạch,
đẹp; sản xuất nhiều của
cải; con người khỏe mạnh,
no ấm, hạnh phúc. Địa lí
thống nhất có nhiệm vụ tạo
ra không gian lãnh thổ như
vậy.
2 – Không gian địa lí
hoàn chỉnh được hình
thành trong mối quan hệ
tổng hòa giữa các hoạt
động cơ bản của con người là: chiếm hữu, cư trú, khai thác, giao lưu – trao đổi, quản lí.
3 – Con người đang sống trong 2 MT. MT tự nhiên không còn nguyên sinh nhưng vẫn
hoạt động theo quy luật tự nhiên

nghiên cứu ảnh hưởng của MTTN đến con người và
cảnh báo nguy cơ MT có thể bị tàn phá tới mức không phục hồi được

Yêu cầu ĐTM.
MT nhân tạo nếu không được chăm sóc sẽ không thể phục hồi + các công trình không
đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH

có thể là gánh nặng cho XH

nên việc ra quyết

định có thể tạo ra MT thuận lợi hay gây khó khăn cho sản xuất, sinh hoạt XH.
4 – Không gian địa lí hoàn chỉnh phải có 1 vị trí và 1 kích thước tối thiểu để nó có thể
hoạt động tự duy trì; phải có 1 hạt nhân (có vị trí và vị thế); có cấp bậc khác nhau tạo nên
hệ thống phân vị.
12
Chiếm
hữu
QUẢN
LÍ
Khai
thác
Giao lưu –
trao đổi
Cư trú
Xây dựng
nhà đất
Mạng lưới
đô thị
Vận chuyển
của cải
Sản xuất
của cải
Mạng lưới hành chính Mạng lưới sản xuất
Mạng lưới quần cư
Mạng lưới giao thông
Các hoạt động tạo thành không gian địa lí hoàn chỉnh
[R. Brunet – O. Dollfus. Mondes nouveaux]
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
1 - Định vị (xác định vị trí và vị thế của sự vật, hiện tượng);
2 - Đánh giá các tổng hợp thể không gian: các điểm, đường, vùng, trường, mạng lưới;

3 - Đưa ra các mô hình để tổ chức không gian lãnh thổ sao cho hoạt động KT – XH
diễn ra đạt hiệu quả tốt nhất.
Mô hình là sự khái quát hóa và đơn giản hóa thực tế để có thể phát hiện ra bản chất
của hiện tượng, sự vật hay vấn đề đang xét. Từ mục đích nghiên cứu, ta chỉ cần đưa ra
mô hình những hợp phần, bộ phận, quan hệ cấu trúc thật cần thiết cho phép hiểu được sự
vận hành của hệ thống cùng với dòng vào, dòng ra, dòng hồi tiếp, loại bỏ những gì rườm
rà, làm nhiễu công việc. Mô hình tổng quát của hệ thống không gian địa lí hoàn chỉnh cần
bao gồm các yếu tố như tài nguyên tự nhiên, lao động, công cụ sản xuất, vốn, thông tin
và chỉ huy.
- Có trung tâm điều khiển (thủ đô, tỉnh lị, huyện lị, trụ sở xã)
- Có tính đơn trị, các điểm phụ thuộc vào trung tâm cùng mức độ
- Có trật tự vì nằm trong 1 vùng hành chính cấp trên
- Có sự ăn khớp vì ranh giới không được chờm lên nhau
- Có tính trọn vẹn vì mỗi vùng được phủ kín bởi các vùng cấp dưới
- Có tính đồng giá trị vì các vùng cùng cấp đều ngang nhau
- Có mục đích vì việc phân chia hệ thống vùng hành chính đều nhằm thực hiện 1 mục
đích quản lí đất đai và con người nhất định.
13

×