Tải bản đầy đủ (.pdf) (66 trang)

hiện trạng khai thác nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ phường thọ quang, quận sơn trà, thành phố đà nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.58 MB, 66 trang )

i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã
nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình của Phó Giáo sƣ - Tiến sỹ Lại Văn Hùng, sự giúp đỡ
của Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, các giảng viên Bộ môn Quản lý
môi trƣờng và Bệnh thủy sản, khoa Nuôi trồng Thủy sản, và các cơ quan chức năng
phƣờng Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Phó Giáo sƣ - Tiến sỹ Lại Văn Hùng đã hƣớng
dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình quá trình làm đề tài.
Xin gửi lời cám ơn đến Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản đã tạo
các điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thực tập tốt nghiệp. Tôi cũng xin chân
thành cảm ơn các giảng viên bộ môn Bộ môn Quản lý môi trƣờng và Bệnh thủy sản
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình làm đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn đến Ủy Ban Nhân Dân quận Sơn Trà, Ủy Ban Nhân Dân
phƣờng Thọ Quang, cảm ơn anh Trung - cán bộ thủy sản phƣờng Thọ Quang và
chú Lâm, thành viên tổ khai thác và bảo vệ đã giúp đỡ tôi trong quá trình gặp gỡ,
tiếp xúc nhƣ dân để điều tra số liệu.
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp
đỡ tôi trong quá trình thực tập.
Nha trang, ngày 20 tháng 6 năm 2012.
Tăng Thị Thảo


ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU viii


CHƢƠNG I. TỔNG QUAN 1
1.1. Khái quát hiện trạng nguồn lợi và KTTS vùng ven bờ trên thế giới 1
1.1.1. Hiện trạng nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ trên thế giới 1
1.1.2. Hiện trạng khai thác thủy sản vùng ven bờ thế giới 1
1.2. Khái quát hiện trạng nguồn lợi và khai thác thủy sản ở vùng ven bờ Việt
Nam 3
1.2.1. Nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Việt Nam 3
1.2.2. Hiện trạng khai thác thủy sản vùng ven bờ Việt Nam 5
1.3. Khái quát hiện trạng nguồn lợi, khai thác và sử dụng thủy sản ở vùng
ven bờ Đà nẵng 7
1.3.1. Hiện trạng nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Đà Nẵng 7
1.3.2. Hiện trạng khai thác thủy sản vùng ven bờ Đà Nẵng 8
CHƢƠNG II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11
2.1.1. Thời gian nghiên cứu 11
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 11
2.1.3. Đối tƣợng nghiên cứu 11
2.2. Nội dung nghiên cứu (đƣợc trình bày trong hình). 11
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu. 11
2.3.1. Cách xác định số lƣợng phiếu điều tra: 11
2.3.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu. 11
iii
2.3.2.1. Số liệu sơ cấp: 11
2.3.2.2. Số liệu thứ cấp: 12
2.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu. 12
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội phƣờng Thọ Quang 14
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên phƣờng Thọ Quang 14
3.1.2. Đặc điểm kinh tế và xã hội 16
3.2. Hiện trạng khai thác thủy sản vùng ven bờ phƣờng Thọ Quang 17

3.2.1 Hiện trạng tàu thuyền khai thác ở phƣờng Thọ Quang 17
3.2.2. Cơ cấu nghề và lao động trong KTTS vùng ven bờ phƣờng Thọ
Quang 20
3.2.2.1. Cơ cấu nghề KTTS vùng ven bờ phƣờng Thọ Quang 20
3.2.2.2. Lao động tham gia KTTS vùng ven bờ phƣờng Thọ Quang 21
3.2.3. Mùa vụ khai thác 23
3.2.4. Đối tƣợng khai thác. 24
3.2.5. Kích thƣớc mắt lƣới của các ngƣ cụ khai thác 27
3.2.6. Sản lƣợng khai thác 28
3.2.7. Thu nhập từ khai thác hải sản 30
3.2.8. Hình thức các tổ khai thác ở phƣờng Thọ Quang 30
3.2.9. Hình thức tiêu thụ sản phẩm của ngƣ dân phƣờng Thọ Quang 32
3.2.10 Phân tích ma trận SWOT đối với khai thác thủy sản phƣờng Thọ
Quang 33
3.3. Nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi 34
3.3.1. Dân số tăng 34
3.3.2. Khai thác quá mức, không hợp lý 35
3.3.3. Môi trƣờng ô nhiễm 36
3.3.4. Các chính sách quản lý, tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản
chƣa đạt hiệu quả 36
iv
3.3.5. Ý thức và hiểu biết về khai thác bảo vệ nguồn lợi thủy sản của ngƣ
dân còn thấp 37
3.3.6. Ngƣ trƣờng bị thu hẹp 37
3.4. Các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của chính quyền địa
phƣơng và các hạn chế trong chính sách bảo vệ nguồn lợi thủy sản của
phƣờng 38
3.4.1. Các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của chính
quyền địa phƣơng 38
3.4.2. Hạn chế trong chính sách bảo vệ nguồn lợi thủy sản 39

3.4.3. Một số biện pháp góp phần khai thác hiệu quả và sử dụng hợp lý
nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ 40
3.4.3.1. Quản lý 40
3.4.3.2. Kỹ thuật 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 46
Kết luận 46
Đề xuất ý kiến. 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

v
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
KTTS : khai thác thủy sản
UBND : Ủy Ban Nhân Dân
GIS : (Geographical Information System) - Hệ thống công nghệ thông
tin địa lý
GPS : (Global Positioning System) - hệ thống định vị toàn cầu


vi
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Nguồn lợi hải sản Việt Nam 4
Bảng 1.2: Cơ cấu nghề khai thác hải sản của thành phố Đà Nẵng năm 2011 9
Bảng 3.1: Lao động tham gia khai thác hải sản theo nghề 22
Bảng 3.2: Mùa vụ khai thác theo nghề khai thác 23
Bảng 3.3: Các đối tƣợng khai thác theo nghề phƣờng Thọ Quang 24
Bảng 3.4: Kích thƣớc mắt lƣới theo nghề 27
Bảng 3.5: Các tổ khai thác ở phƣờng Thọ Quang. 30




vii
DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Nội dung nghiên cứu. 13
Hình 3.1: Vị trí phƣờng Thọ Quang. 14
Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu nghề ở phƣờng Thọ Quang 16
Hình 3.3: Cơ cấu tàu thuyền ở phƣờng Thọ Quang năm 2011. 17
Hình 3.4: Biểu đồ sự biến động giữa số lƣợng tàu thuyền và công suất bình
quân năm 2007 -2011. 19
Hình 3.5: Cơ cấu nghề khai thác ở phƣờng Thọ Quang năm 2011. 20
Hình 3.6: Trình độ dân trí lao động KTTS phƣờng Thọ Quang. 23
Hình 3.7: Biểu đồ mối tƣơng quan giữa số lƣợng tàu thuyền và sản lƣợng tham
gia khai thác hải sản. 28
Hình 3.8: Năng suất khai thác của tàu khai thác phƣờng Thọ Quang năm 2007
- 2011. 29










viii
MỞ ĐẦU
Việt Nam có đƣờng bờ biển dài hơn 3.200km và vùng đặc quyền kinh tế

rộng khoảng 1 triệu km
2
, với khu hệ sinh vật đa dạng. Từ lâu biển đã tạo tiềm năng
phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng nhƣ đánh bắt, nuôi trồng, chế biến
thủy hải sản, cảng biển, vận tải biển, sửa chữa đóng tàu, khai thác tài nguyên
khoáng sản, du lịch góp phần vào ổn định xã hội, an ninh quốc phòng, xoá đói
giảm nghèo và tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, hàng năm giải quyết việc làm cho
hàng triệu lao động. Trong đó khai thác thủy sản luôn đóng một vai trò hết sức quan
trọng. Song trong những năm gần đây do hoạt động khai thác quá mức và chƣa hợp
lý nên nguồn lợi thủy sản đang ngày càng cạn kiệt. Từ đó đòi hỏi phải có các quá
trình điều tra về hiện trạng khai thác thủy sản để có các biện pháp quản lý và bảo vệ
nguồn lợi thủy sản.
Đà Nẵng là một thành phố có hơn 92 km đƣờng bờ biển với 6/8 quận tiếp
giáp với biển. Biển đã tạo ra vị thế phát triển cho thành phố Đà Nẵng thông qua các
lĩnh vực khai thác thủy sản, du lịch, công nghiệp cơ khí và chế biến, vận tải biển và
đặc biệt là nhiệm vụ quốc phòng an ninh vùng biển. Đà Nẵng có nguồn tài nguyên
biển nằm trong ngƣ trƣờng trọng điểm của miền Trung, với trữ lƣợng nguồn lợi
thủy sản khoảng 1.140.000 tấn/năm. Thọ Quang là một phƣờng nằm phía Đông
thành phố Đà Nẵng, thuộc Quận Sơn Trà với nghề KTTS phát triển từ khá lâu và
mang lại nguồn thu nhập cũng nhƣ việc làm cho nhiều hộ dân ở đây. Tuy nhiên,
hiện nay nhiều ngƣ dân đang gặp nhiều khó khăn do nguồn lợi thủy sản ngày càng
cạn kiệt. Thành phố đang cố gắng tìm hƣớng đi đúng cho sự phát triển hợp lý nghề
cá. Song do các nghiên cứu về điều tra về hiện trạng KTTS còn ít nên chƣa cung
cấp đầy đủ các thông tin phục vụ cho việc quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của
thành phố.
Vì vậy đƣợc sự đồng ý của Ban Giám hiệu Nhà trƣờng, Phòng Đào tạo
trƣờng Đại học Nha Trang và Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng thủy sản tôi thực
ix
hiện đề tài này “Hiện trạng khai thác nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Phƣờng Thọ
Quang, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng” với hi vọng có thể cung cấp cái nhìn

tổng quát hơn giúp cho việc quản lý và phát triển bền vững nghề KTTS của phƣờng
Thọ Quang nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung.
Mục tiêu đề tài:
Đƣa ra các giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển nghề KTTS một
cách bền vững cho địa phƣơng.
Nội dung nghiên cứu:
Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội phƣờng Thọ Quang.
Tìm hiểu hiện trạng KTTS ở vùng ven bờ phƣờng Thọ Quang.
Tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hƣởng đến nguồn lợi thủy sản.
Tìm hiểu các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đề xuất các
biện pháp khác.


1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. Khái quát hiện trạng nguồn lợi và KTTS vùng ven bờ trên thế giới
1.1.1. Hiện trạng nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ trên thế giới
Đại dƣơng bao phủ tới 70% diện tích bề mặt Trái đất và cung cấp 1/2 lƣợng
oxy cho chúng ta hít thở nhờ vào các sinh vật phù du nhỏ bé có khả năng tạo ra oxy
trong nƣớc biển. Với độ sâu trung bình 3.710m và tổng khối nƣớc 1,37 tỷ km
3
. Kể
từ khi cuộc sống tồn tại trong khối lƣợng to lớn này, các đại dƣơng tạo thành kho
lƣu trữ lớn nhất của các sinh vật trên hành tinh. Ƣớc tính có khoảng 200 tỷ tấn sinh
vật sống trong biển và đại dƣơng, bao gồm cả 3 nhóm: sinh vật đáy, bơi lội và trôi
nổi. Đây là nguồn tài nguyên tái tạo rất lớn, nguồn dự trữ thực phẩm quan trọng cho
loài ngƣời. Theo dự tính, sinh vật biển mỗi năm có thể sản xuất ra 134 tỉ tấn hữu cơ.
Chỉ tính riêng động vật biển đã có 32,5 tỉ tấn, trong khi toàn bộ động vật trên lục địa
chƣa đến 10 tỉ tấn. Trong điều kiện nguồn lợi không bị hủy hoại thì mỗi năm biển
có thể cung cấp 3 tỷ tấn hải sản. Theo FAO cá cung cấp 15,7% lƣợng chất protein

động vật và 6,1% tổng lƣợng protein tiêu thụ cho dân số trên toàn thế giới [19].
1.1.2. Hiện trạng khai thác thủy sản vùng ven bờ thế giới
Trong những năm 1970, một nghiên cứu của FAO biên soạn bởi Gulland ƣớc
tính tiềm năng cá khai thác đƣợc của đại dƣơng là gần 100 triệu tấn. Tuy nhiên thực
tế khả năng khai thác sẽ không đạt mức tối ƣu mà chỉ đạt xấp xỉ 80 triệu [15].
Trung Quốc là nƣớc dẫn đầu về sản lƣợng thủy sản, tiếp theo là các nƣớc
Peru, Indonesia, United

States

of

America, Japan, India, Chile, Russian

Federation,
Philippines, Myanmar [16].
Sản lƣợng khai thác hải sản thế giới đạt đến một đỉnh cao là 86,3 triệu tấn
vào năm 1996 và sau đó giảm xuống còn 79,9 triệu tấn trong năm 2009. Trong năm
2008, Tây Bắc Thái Bình Dƣơng có sản lƣợng cao nhất 20,1 triệu tấn (25% sản
lƣợng đánh bắt hải sản toàn cầu), tiếp theo là Đông Nam Thái Bình Dƣơng, với sản
lƣợng khai thác là 11,8 triệu tấn (15%), Tây Thái Bình Dƣơng 11,1 triệu tấn (14%)
và Đông Bắc Đại Tây Dƣơng 8,5 triệu tấn (11%). Tuy nhiên sản lƣợng khai thác hải
2
sản đang ngày càng suy giảm, từ 83,8 triệu tấn (2004) xuống còn 79,9 triệu tấn
(2009) [16].
Theo ƣớc tính của FAO (2008), hơn nửa (53%) nguồn lợi bị khai thác hoàn
toàn và không có khả năng tái tạo. Trong 47% còn lại, ƣớc tính có tới 28% là đã bị
khai thác quá mức, 3% đã bị cạn kiệt, chỉ còn khoảng 3% nguồn lợi chƣa đƣợc khai
thác, 12% bị khai thác vừa phải và khả năng phục hồi chỉ là 1%. Trong những năm
gần đây, sản lƣợng khai thác ngày càng suy giảm cùng với sự gia tăng tỉ lệ nguồn

lợi khai thác quá mức và sự suy giảm nguồn lợi chƣa đƣợc khai thác hoặc khai thác
vừa phải [16].
Biển Bắc là một trong những vùng biển đánh bắt cá sâu rộng nhất thế giới.
Bên cạnh một số loài vẫn trong tình trạng tốt thì rất nhiều loài cá khác đang bị đánh
bắt quá mức một cách nghiêm trọng (chẳng hạn nhƣ cá tuyết và cá bẹt). Một số
phƣơng thức đánh bắt cá gây hại cho môi trƣờng (nhƣ thả lƣới đáy trên biển) và có
những xung đột với các ngành khác chẳng hạn nhƣ các trạng trại gió và các hoạt
động khác làm giảm diện tích có thể đánh bắt [3].
So với thống kê của FAO cách đây một thập kỷ thì số tàu đã tăng lên đáng
kể. Hiện nay trên thế giới có khoảng 4,3 triệu tàu, thuyền đang tham gia khai thác.
Trong đó chỉ khoảng 59% các tàu đƣợc trang bị động cơ. Số còn lại 41% thƣờng là
tàu có công suất nhỏ và chƣa đƣợc đầu tƣ các trang thiết bị. Số tàu này tập trung
chủ yếu ở Châu Á (77%) và Châu Phi (20%) [16].
Các nghiên cứu về nguồn lợi thủy sản trên thế giới:
Một nghiên cứu của James N. Sanchirico và James E. Wilen về: “Nguồn lợi
hải sản toàn cầu: Tình trạng và triển vọng” đăng trên tạp chí thủy sản Global
Environmental Issues năm 2002. Nghiên cứu này cho biết tình trạng hiện tại và triển
vọng của nghề cá thế giới từ quan điểm của các ngành kinh tế.
Năm 2005, nghiên cứu đăng trên tạp chí Ecology của tiến sỹ Jim Spotila cho
biết một số quần thể các lớn nhƣ cá mập, cá ngừ… đã giảm đến 87% so với những
năm 1950.
3
Năm 2010, nghiên cứu đƣợc tiến hành do Phó giáo sƣ Rashid Sumaila với sự
hỗ trợ của Nhóm Môi trƣờng Pew, trƣờng đại học British Columbia: Nghề cá Thế
giới đóng góp từ 225 đến 240 tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh tế toàn cầu. Các nhà
nghiên cứu cũng kết luận rằng nghề cá vững chắc hơn sẽ ngăn ngừa đƣợc tình trạng
suy dinh dƣỡng của gần 20 triệu ngƣời dân ở các nƣớc nghèo. Ƣớc tính toàn diện
đƣợc tổng kết lần đầu tiên về sự đóng góp của nghề cá cho nền kinh tế thế giới đã
đƣợc công bố trực tuyến trong bốn báo cáo nhƣ một phần trong số đặc biệt của tạp
chí “Journal of Bioeconomics”. Tiến sĩ Sumaila và nhóm nghiên cứu cũng đã phát

hiện ra: Khai thác quá mức làm giảm thu nhập. Hàng năm, tổn thất về sản lƣợng
thủy sản trên toàn thế giới từ việc khai thác quá mức ƣớc tính lên đến 7 - 36% lƣợng
cá thực tế đƣa về bờ mỗi năm, gây thiệt hại từ 6,4 - 36 tỷ USD/năm [19].
1.2. Khái quát hiện trạng nguồn lợi và khai thác thủy sản ở vùng ven bờ Việt Nam
1.2.1. Nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Việt Nam
Việt Nam có đƣờng bờ biển dài 3.260km, với vùng đặc quyền kinh tế rộng 1
triệu km
2
. Biển Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và là nơi di cƣ
của nhiều luồng động thực vật nên có đa dạng sinh học khá cao và đƣợc đánh giá là
một trong 16 trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới, với khoảng 11.000 loài
đã đƣợc phát hiện [14]. Trong đó có 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá biển
(hơn 100 loài kinh tế), 653 loài rong biển (rong kinh tế chiếm 14%), 657 loài động
vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, hệ giáp xác biển có
1.647 loài (trong đó có 225 loài tôm biển), 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc, 14 loài cỏ
biển, 298 loài san hô, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển, 5 loài rùa biển, 43 loài chim
nƣớc. Đây là một điều kiện thuận lợi để nƣớc ta phát triển đa dạng các ngành kinh
tế biển và ven biển [4].
Vùng đặc quyền kinh tế của nƣớc ta với trữ lƣợng hải sản dao động trong
khoảng 3,4 - 4,2 triệu tấn/năm với khả năng khai thác bền vững 1,4 - 1,8 triệu
tấn/năm, không kể trữ lƣợng cá đại dƣơng di cƣ và sinh vật đáy vùng triều. Trong
đó cá nổi có trữ lƣợng là 1,74 triệu tấn, cá đáy 2,14 triệu tấn, cá nổi đại dƣơng 0,3
triệu tấn, khả năng khai thác tƣơng ứng là 0,69 triệu tấn, 0,86 triệu tấn, 0,12 triệu
4
tấn. Chúng tập trung trong 15 bãi cá lớn, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ
và 3 bãi cá ở ngoài khơi. Trữ lƣợng cá có xu hƣớng tăng dần theo chiều giảm dần
của vĩ độ. Trong tổng trữ lƣợng cá ở vùng Vịnh Bắc Bộ đạt 681.666 tấn, vùng biển
miền Trung 606.399 tấn, Đông Nam Bộ 2.075.889 tấn, nhƣng ở vùng Tây Nam Bộ
506.679 tấn, cá nổi đại dƣơng 300.000 tấn [4].
Xét theo nhóm có sự khác nhau theo vùng địa lý. Nhóm cá nổi nhỏ tập trung

nhiều ở khu vực biển miền Trung (82,5%) và Vịnh Bắc Bộ (57,3%), nhƣng càng
xuống vĩ độ thấp thì tỉ lệ nhóm cá nổi có xu hƣớng giảm.
Bảng 1.1: Nguồn lợi hải sản Việt Nam [4].
Vùng biển
Loài cá
Trữ lƣợng
Khả năng khai thác
Tỉ lệ
(%)
Tấn
Tỉ lệ (%)
Tấn
Tỉ lệ (%)
Vịnh Bắc Bộ
Cá nổi nhỏ
390.000
57,3
156.000
57,3

Cá đáy
291.166
42,7
116.467
42,7
Tổng
681.166
100
272.467
100

Miền Trung
Cá nổi nhỏ
500.000
82,5
200.000
82,5
14,5
Cá đáy
106.399
17,5
42.560
17,5
Tổng
606.399
100
242.560
100
Đông Nam Bộ

Cá nổi nhỏ
524.000
25,2
209.600
25,2
49,7
Cá đáy
1.551.889
74,8
620.856
74,8


Tổng
2.075.889
100
830.456
100

Tây Nam Bộ
Cá nổi nhỏ
316.000
62,0
126.000
62,0
12,1
Cá đáy
190.670
38,0
76.272
38,0
Tổng
506.670
100
202.272
100
Gò nổi
Cá nổi nhỏ
10.000
100
2.500
100

0,2
Toàn vùng biển
Cá nổi đại
dƣơng
300.000

120.000

7,2
Tổng

4.180.133

1.669.985



5
1.2.2. Hiện trạng khai thác thủy sản vùng ven bờ Việt Nam
Trong vòng 11 năm (2000-2011) số lƣợng tàu thuyền khai thác hải sản và
công suất tàu thuyền ngày càng tăng. Tổng số tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở nƣớc ta
năm 2000 là 9.766 chiếc, đến năm 2011 có 28.424chiếc, tăng lên gấp 2,9 lần. Tổng
công suất tàu đánh bắt hải sản xa bờ tăng gấp 3,8 lần, từ 1.385,1CV năm 2000 đến
5.264,3CV năm 2011. Tuy số lƣợng và công suất tàu thuyền tàu khai thác từ năm
2000 đến năm 2011 tăng 3 - 4 lần nhƣng sản lƣợng khai thác thì chỉ tăng 1,6 lần.
Năm 2000 sản lƣợng khai thác hải sản đạt 1.419,6 nghìn tấn, đến năm 2011 đạt
2.300 nghìn tấn [7][8]. Qua đây có thể thấy nguồn lợi hải sản đang suy giảm nhanh
chóng, đặc biệt là vùng ven bờ. Việc đánh bắt các đối tƣợng gần bờ, có giá trị thấp
ngày càng nhiều, khả năng tận dụng sản phẩm khai thác trong các mẻ lƣới ngày
càng tăng. Trƣớc đây việc khai thác có tính chọn lọc đối tƣợng cao, thì ngày nay

việc chọn lọc ngày càng giảm. Bên cạnh đó mặc dù tỷ lệ số lƣợng tàu khai thác xa
bờ tăng nhƣng khả năng đánh bắt với sản lƣợng lớn là không cao.
Sản lƣợng KTTS năm 2010 đạt 2.414,4 nghìn tấn, trong đó khai thác hải sản
chiếm đến 91,95% và khai thác nội địa chiếm 8,05% [8]. Theo Báo cáo tình hình
kinh tế xã hội tháng 1/2011 của Tổng cục Thống kê thì sản lƣợng thủy sản tháng
01/2011 đạt 356,4 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trƣớc, trong đó cá đạt
270,4 nghìn tấn, tăng 1,1%, tôm đạt 30,9 nghìn tấn, tăng 4,7%. Sản lƣợng thủy sản
nuôi trồng tháng 01/2011 đạt 161,5 nghìn tấn, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2010,
trong đó cá đạt 121 nghìn tấn, tăng 8%, tôm đạt 21,5 nghìn tấn, tăng 7,5%. Sản
lƣợng thủy sản khai thác đạt thấp hơn cùng kỳ năm 2010. Sản lƣợng thuỷ sản khai
thác tháng 01/2011 đạt 194,9 nghìn tấn, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trƣớc, trong
đó cá đạt 149,4 nghìn tấn, giảm 3,9%;,tôm đạt 8,8 nghìn tấn, giảm 1,1%.
Các nghiên cứu về nguồn lợi và khai thác hải sản ở Việt Nam.
Nghiên cứu nguồn lợi biển nƣớc ta đã đƣợc tiến hành rất sớm cùng với sự ra
đời của Viện Hải dƣơng học Nha Trang (1923) [13].
Pháp tiến hành khảo sát nguồn lợi cá bằng lƣới kéo đáy trên tàu De Lanessan
trong những năm 1925 - 1935 tại vùng biển Việt Nam, bao gồm cả khu vực quần
6
đảo Trƣờng Sa, các kết quả nghiên cứu đƣợc công bố trong các công trình của
KrempfA. (1926 - 1927) và Chevey P. (1935).
Từ năm 1962, Viện nghiên cứu Hải sản (trƣớc đây gọi là Trạm nghiên cứu cá
biển) đã có các hoạt động điều tra tổng hợp cá đáy vùng bờ tây Vịnh Bắc Bộ [13].
Từ năm 1997 đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lợi
sinh vật cũng nhƣ về nghề cá đƣợc thực hiện ở nƣớc ta. Một trong số đó là đề tài
“Đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác hải sản xa bờ ở những vùng trọng điểm”,
đƣợc thực hiện bởi Viện nghiên cứu Hải sản (năm 1999). Đề tài cho biết hiện trạng
tàu thuyền khai thác hải sản ở Việt Nam và ảnh hƣởng của bão, áp thấp nhiệt đới
đối với tàu thuyền tham gia khai thác hải sản của cộng đồng ngƣ dân ven biển.
Trong những năm cuối thế kỷ 20, đƣợc sự giúp đỡ của chính phủ Đan Mạch,
Bộ Thủy sản đã giao cho Viện Nghiên cứu hải sản thực hiện Dự án “Đánh giá

nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam” đồng thời xây dựng một mạng lƣới thống kê thủy
sản ở các địa phƣơng để có các số liệu về hiện trạng nguồn lợi sinh vật biển Việt
Nam làm chỗ dựa cho các nhà quản lý đề ra các chính sách phù hợp để nghề cá Việt
Nam phát triển bền vững [1].
Ngoài ra Viện nghiên cứu Hải sản còn có một số công trình nghiên cứu khác
về nguồn lợi hải sản và nghề cá ở Việt Nam nhƣ : Dự án “Nghiên cứu trữ lƣợng và
khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi (chủ yếu là cá ngừ vằn, cá ngừ vây vàng và cá
ngừ mắt to) và hiện trạng cơ cấu nghề nghiệp khu vực biển xa bờ miền Trung và
Đông Nam Bộ” (Đào Mạnh Sơn, 2003). Dự án “Nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam:
một số cơ sở phân loại thực tiễn” (Nguyễn Long, 2007).
Năm 2007, Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh
cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản” (Phạm Văn Long, Viện Nghiên
cứu Hải sản) đƣợc thực hiện nhằm đƣa ra cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều
chỉnh cơ cấu đội tàu, nghề nghiệp khai thác cho từng vùng biển, tuyến biển. Đề tài
đã tiến hành điều tra, thu thập số liệu hiện trạng khai thác và tình hình kinh tế - xã
hội theo 2 cấp: điều tra thứ cấp đƣợc tiến hành ở 28 tỉnh/thành phố ven biển, điều
tra sơ cấp đƣợc tiến hành ở 12 tỉnh/thành phố trọng điểm nghề cá. Đề tài đã cho biết
7
một số kết quả bƣớc đầu tính toán xác định năng suất khai thác, tổng sản lƣợng khai
thác của các đội tàu công suất <90CV đang hoạt động đánh bắt ở vùng biển Tây
Nam Bộ.
Riêng vùng biển Đà Nẵng cũng có một số nghiên cứu đánh giá về nguồn lợi
thủy sản nhƣ: Đề tài “Điều tra khu hệ động - thực vật và nhân tố ảnh hƣởng, đề xuất
phƣơng án bảo tồn sử dụng hợp lý khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà” (Đinh
Thị Phƣơng Anh, Nguyễn Tấn Lê, Đặng Quốc Hòe, Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Phú
Thơ, 1997). Đề tài: “Thành phần loài cá ở vùng biển Nam bán đảo Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng” (Đinh Thị Phƣơng Anh, 2009). Từ tháng 9/2004 - 7/2006 Viện Hải
dƣơng học Nha Trang thực hiện đề tài: “Điều tra nghiên cứu rạn san hô và các hệ
sinh thái liên quan vùng biển từ Hòn Chảo đến Nam đèo Hải Vân và bán đảo Sơn
Trà” nhằm điều tra nghiên cứu rạn san hô và các hệ sinh thái liên quan vùng biển từ

Hòn Chảo đến Nam đèo Hải Vân và bán đảo Sơn Trà, nghiên cứu vai trò sinh thái
của rạn san hô đối với nghề cá ven bờ làm cơ sở đề xuất các giải pháp sử dụng hợp
lý tài nguyên.
1.3. Khái quát hiện trạng nguồn lợi, khai thác và sử dụng thủy sản ở vùng ven
bờ Đà nẵng
1.3.1. Hiện trạng nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Đà Nẵng
Vùng biển Đà Nẵng có ngƣ trƣờng rộng trên 15.000 km² với nguồn tài
nguyên biển nằm trong ngƣ trƣờng trọng điểm của miền Trung. Trữ lƣợng nguồn
lợi thủy sản khoảng 1.140.000 tấn, chiếm 43% tổng trữ lƣợng của cả nƣớc, gồm trên
670 giống, loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 110 loài [9]. Khả năng
khai thác hàng năm khoảng 60 - 70 nghìn tấn. Phân bố ở vùng nƣớc sâu dƣới 50m
khoảng 31%, vùng nƣớc sâu từ 50 - 200m khoảng 48%, vùng nƣớc sâu trên 200m
khoảng 21%. Càng ra vùng nƣớc sâu, tỉ lệ cá nổi càng tăng, cá đáy giảm. Nguồn lợi
chính là tôm, ghẹ và cá biển. Nguồn lợi khai thác trực tiếp trên các rạn san hô gồm
cá mú, cá hồng, cá kẽm, cá dìa, cá mó, hải sâm, tôm hùm, bào ngƣ…tập trung chủ
yếu ở phía Bắc và Nam bán đảo Sơn Trà [10]. Khu vực biển Nam Hải Vân - Bán
đảo Sơn Trà có các hệ sinh thái với tính đa dạng sinh học cao nhƣ rạn san hô, thảm
8
cỏ biển, rong biển và các chủng loại sinh vật quý, là tài sản phục vụ cho quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Vùng biển từ Hòn Chảo đến Nam Hải Vân và quanh bán
đảo Sơn Trà có 191 loài san hô cứng, 3 giống san hô mềm, 3 loài cỏ biển, 72 loài
rong biển, 53 loài động vật thân mềm, 23 loài da gai kích thƣớc lớn, 221 loài thực
vật phù du [5].
Thu thập và ghi nhận thành phần loài cá từ tháng 02/2009 đến tháng 09/2009
tại vùng biển Nam Bán đảo Sơn Trà, xác định có 164 loài cá thuộc 111 giống, 65 họ
và 14 bộ. Bộ cá Vƣợc (Perciformes) chiếm ƣu thế với 110 loài, chiếm 67,07%, bộ
cá Trích (Clupeiformes) có 14 loài, chiếm 8,54%, bộ cá Chình (Anguilliformes) và
bộ cá Đối (Mugiliformes) mỗi bộ có loài, chiếm 3,66%, bộ cá Nhái (Beloniformes)
và bộ cá Mù làn (Scorphaeniformes) mỗi bộ có 5 loài, chiếm 3,05%, bộ cá Bơn
(Pleuronectiformes) có 4 loài chiếm 1,83%, bộ cá Đèn (Myctophiformes), bộ cá

Nheo (Siluriformes) và bộ cá Suốt (Antheriniformes) mỗi bộ có 2 loài, chiếm
1,22%, các bộ khác chỉ có 1 loài, chiếm 0,61%. Khu hệ có 20 loài cá có giá trị kinh
tế, 4 loài quý hiếm [2].
1.3.2. Hiện trạng khai thác thủy sản vùng ven bờ Đà Nẵng
Hiện nay sản lƣợng khai thác hải sản trung bình hàng năm của Đà Nẵng là 25
nghìn tấn, chủ yếu là cá nổi ven bờ. Trữ lƣợng cá ven bờ ở độ sâu dƣới 50m và đặc
biệt là dƣới 30m trở vào đã bị khai thác quá mức cho phép. Do điều kiện kỹ thuật
còn hạn chế, phƣơng tiện đánh bắt chủ yếu là tàu thuyền công suất nhỏ nên làm suy
giảm nhanh nguồn lợi ven bờ [10].
Khai thác thủy sản của thành phố tập trung chủ yếu tại các quận Sơn Trà,
Thanh Khê, Liên Chiểu, Hải Châu. Năm 1997, toàn thành phố có 1.986 chiếc tàu,
tổng công suất 54.960CV thì đến năm 2010 tổng số tàu thuyền cá hiện có 1.763
chiếc, tổng công suất 73.312CV, trong đó tàu công suất 90CV trở lên có 182 chiếc.
Công suất tàu thuyền bình quân của thành phố năm 2010 là 41,6CV/chiếc (so với
năm 1997 tăng 16,7CV/chiếc). Thành phố đã quy hoạch và phát triển Trung tâm
nghề cá tại khu vực phƣờng Thọ Quang, quận Sơn Trà. So với các địa phƣơng trong
khu vực và cả nƣớc thì cơ sở hạ tầng nghề cá đã đƣợc đầu tƣ khá đồng bộ nhƣ: Khu
9
âu thuyền trú bão, cảng cá, khu dịch vụ hậu cần, chợ đầu mối thủy sản,…tạo điều
kiện thu hút các thành phần kinh tế đầu tƣ vào phát triển kinh tế thủy sản. Giá trị
sản xuất thủy sản chiếm trên 60% trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
của thành phố, sản lƣợng khai thác tăng bình quân giai đoạn 2006 -2010 là
2,2%/năm [12].
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với những khó khăn
chung của ngành thủy sản thì các lĩnh vực kinh tế thủy sản của thành phố Đà Nẵng
gặp nhiều khó khăn. KTTS vẫn còn ở quy mô nhỏ, chƣa gắn khai thác với sơ chế,
bảo quản. Thực trạng nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt, áp lực của thiên tai, giá
cả đầu vào tăng cao và an toàn trên biển đang là một thách thức, áp lực trong phát
triển ngành thủy sản. Theo thống kê của Chi cục Thủy sản thì tổng sản lƣợng khai
thác toàn thành phố năm 2011 đã giảm 3.243 tấn so với năm 2010 [11].

Bảng 1.2: Cơ cấu nghề khai thác hải sản của thành phố Đà Nẵng năm 2011 [11].
Nghề hoạt động
Sản lƣợng năm 2010 (tấn)
Sản lƣợng năm 2011 (tấn)
Lƣới cản

≥ 20CV
7.178
4.859
Giã đôi ≥ 20CV
8.641
7.617
Giã đơn ≥ 20CV
2.459
2.589
Rê cƣớc ≥ 20CV
3.944
4.887
Câu cá
1.814
2.719
Lƣới vây
576
5.869
Tàu <20CV
9.392
8.149
Nghề khác
7.908
1.979

Tổng
41.912
38.669

Đà Nẵng đang phải đối mặt với hai vấn đề lớn trong khai thác là đánh bắt
quá mức trong vùng ven bờ và sử dụng những phƣơng tiện đánh bắt có tính huỷ
diệt. KTHS hiện tập trung chủ yếu vào cá, tôm ở vùng biển ven bờ (độ sâu 0 - 30m)
và động vật thân mềm ở các bãi cát và bãi triều (khu Sơn Trà). Sản lƣợng khai thác
trung bình hàng năm của Đà Nẵng vào khoảng 36801 tấn/năm (2009), trong đó
10
68,2% sản lƣợng này đã khai thác ở vùng nƣớc nông ven biển. Điều tra đã xác nhận,
trong khi tổng sản lƣợng đánh bắt tăng rõ rệt và kích cỡ cá càng ngày càng nhỏ.
Nhiều loài cá và sinh vật biển có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó có nhiều loài có giá
trị kinh tế cao. Việc khai thác cá truyền thống trong các vùng nƣớc ven bờ ở độ sâu
dƣới 30 mét, là nguyên nhân chính gây cạn kiệt nguồn lợi hải sản [6].












11
CHƢƠNG II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 20/02/2012 đến ngày 02/06/2012.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Phƣờng Thọ Quang, Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
2.1.3. Đối tƣợng nghiên cứu
Hiện trạng khai thác thủy sản vùng biển ven bờ.
2.2. Nội dung nghiên cứu (đƣợc trình bày trong hình).
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu.
2.3.1. Cách xác định số lƣợng phiếu điều tra:
Số lƣợng phiếu điều tra đƣợc xác định theo công thức của Linus Yamane
(1967 - 1986) [18]:
n = N/(1+N * e
2
)
Trong đó:
n: Số lƣợng phiếu cần xác định cho nghiên cứu điều tra.
N: Tổng số hộ.
e: Sai số (lấy e = 10%).
Áp dụng công thức trên, tính số phiếu cần thu:
n = 1760/(1 + 1760 * 0,1
2
)
n = 94,62
Số phiếu thu là 100. Trong đó có 95 phiếu cho ngƣ dân và 5 phiếu cho cán
bộ phƣờng Thọ Quang.
2.3.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu.
2.3.2.1. Số liệu sơ cấp:
Các số liệu đƣợc thu thập thông qua phƣơng pháp đánh giá nhanh nông thôn
RRA và qua bảng phỏng vấn đƣợc soạn sẵn (phụ lục 1,2) để phỏng vấn trực tiếp
một cách ngẫu nhiên 95 hộ khai thác ven bờ và các cán bộ phƣờng Thọ Quang. Các

12
thông tin thu thập bao gồm các nội dung về khai thác thủy sản vùng ven bờ của ngƣ
dân nhƣ:
- Hiện trạng tàu thuyền khai thác
- Sản lƣợng khai thác
- Mùa vụ khai thác
- Đối tƣợng khai thác
- Kích thƣớc mắt lƣới ngƣ cụ khai thác
- Lao động tham gia khai thác
- Thu nhập từ hoạt động khai thác
2.3.2.2. Số liệu thứ cấp:
Số liệu thứ cấp đƣợc thu tại UBND phƣờng Thọ Quang, phòng Tài Nguyên
và Môi Trƣờng quận Sơn Trà. Các số liệu này bao gồm các báo cáo đã đƣợc thống
kê, công bố qua từng năm có liên quan đến khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
ven bờ:
- Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội phƣờng Thọ Quang.
- Thông tin liên quan đến khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản qua các
năm từ 2007 đến 2011.
- Thông tin về các chính sách quản lý nghề khai thủy sản ven bờ của phƣờng.
- Tìm hiểu qua các website, sách báo…
2.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu.
Các số liệu thu thập đƣợc xử lý qua phần mềm Microsoft Excel. Dựa vào các
nội dung đã đề cập ở phiếu điều tra, các thông tin đƣợc xử lý theo từng phần riêng
để thuận tiện cho việc theo dõi.


13
























Hình 2.1: Nội dung nghiên cứu.
Điều kiện tự
nhiên, kinh
tế xã hội ở
phƣờng Thọ
Quang
Hiện trạng
khai thác
thủy sản
vùng ven bờ

phƣờng Thọ
Quang
Các nguyên
nhân ảnh
hƣởng đến
biến động
nguồn lợi
thủy sản.

Kết luận và đề xuất ý kiến
Điều tra hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản
vùng ven bờ Phƣờng Thọ Quang, Q. Sơn Trà, T.p Đà Nẵng.
Số liệu sơ cấp
Số liệu thứ cấp
Các biện
pháp quản lý
và bảo vệ
nguồn lợi
thủy sản.
Tổng hợp, xử lý số liệu
14
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội phƣờng Thọ Quang
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên phƣờng Thọ Quang
Thọ Quang là phƣờng ven biển thuộc quận Sơn Trà, phía Bắc giáp với núi
Sơn Trà, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp cửa sông Hàn, phía Nam giáp với
phƣờng Mân Thái, với diện tích đất tự nhiên là 46,6511km
2
.


Hình 3.1: Vị trí phƣờng Thọ Quang.
Nằm trong vùng biển Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 70km, vịnh nƣớc sâu
với các cửa ra biển nhƣ Liên Chiểu, Tiên Sa, vùng lãnh hải thềm lục địa có độ sâu
hơn 200m, tạo thành vành đai nƣớc nông rộng lớn thích hợp cho sự phát triển kinh
tế biển và giao lƣu với nƣớc ngoài của phƣờng. Vùng biển Đà Nẵng có trữ lƣợng
hải sản lớn, khả năng khai thác hàng năm khoảng 60 - 70 nghìn tấn. Sản lƣợng khai
thác trung bình hàng năm đạt khoảng 25 nghìn tấn, chủ yếu là cá nổi ven bờ. Đây là
điều kiện thuận lợi cho phƣờng phát triển nghề KTTS.
15
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25
o
C

, cao nhất vào các
tháng 6, 7, 8 (trung bình từ 28 – 30
o
C), thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2 (trung
bình từ 18 – 23
o
C). Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ, nhiều nhất là
vào tháng 5, 6 (trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng), ít nhất là vào tháng 11, 12
(trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng).
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%, cao nhất vào các tháng 10,11 (trung
bình từ 85,67 - 87,67%), thấp nhất vào các tháng 6, 7 (trung bình từ 76,67 - 77,33%).
Chế độ mƣa: Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt. Mùa mƣa kéo dài từ tháng 8 đến
tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa
đông nhƣng không đậm và không kéo dài. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm là
2.504,57 mm/năm, lƣợng mƣa cao nhất vào các tháng 10, 11(trung bình từ 550 -
1.000 mm/tháng), thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4 (trung bình từ 23 - 40
mm/tháng).

Chế độ hải văn vùng biển Đà Nẵng:
Chế độ thủy triều: Đây là vùng biển có chế độ bán nhật triều không đều.
Hầu hết các ngày trong tháng đều có 2 lần nƣớc lên và 2 lần nƣớc xuống, biên độ
thủy triều trên dƣới 1m.
Chế độ dòng chảy: Dòng chảy thƣờng có hƣớng chủ đạo là hƣớng Đông
Nam với tốc độ trung bình khoảng từ 20 - 25cm/s. Khu vực gần bờ có tốc độ dòng
chảy lớn hơn so với khu vực ngoài khơi.
Chế độ sóng: Về mùa đông sóng có hƣớng Đông với tần suất chiếm tới 70%.
Ngoài ra là hai hƣớng Đông Bắc và Tây Nam với tổng tần suất là 30%. Tại Sơn Trà
đã quan sát đƣợc độ cao sóng trung bình tháng 1 là 0,6m, sóng cao nhất là 6,0m. Về
mùa hè sóng thịnh hành có hƣớng Đông Nam với tần suất khoảng 55% sau đó là
sóng có hƣớng Nam và Đông với tần suất từ 10 - 20%, còn lại các hƣớng khác có
tần suất nhỏ hơn. Về mùa hè độ cao sóng thƣờng rất nhỏ, độ cao sóng dƣới 1m kể
cả trong bờ và ngoài khơi chiếm tần suất 80 - 85%.

16
3.1.2. Đặc điểm kinh tế và xã hội
Phƣờng Thọ Quang có 5.907 hộ dân với 24.714 nhân khẩu, trong đó có
13.649 nam, 14.192 nữ, số ngƣời trong độ tuổi lao động là 14.013 ngƣời. Phƣờng
có 1.760 hộ tham gia khai thác hải sản, chiếm gần 30% số lao động của phƣờng.
Khai thác hải sản có vai trò rất lớn trong giải quyết vấn đề cho lao động của
phƣờng, đặc biệt là đối với lao động ven biển. Dân số của phƣờng tƣơng đối trẻ là
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.
Về văn hóa - giáo dục: trên địa bàn có 3 trƣờng cấp 1, 1 trƣờng cấp 2 và 1
trƣờng mẫu giáo với tổng số học sinh là 4.293. Năm 2011 có 340 số cháu vào nhà
trẻ. Vấn đề giáo dục đƣợc phƣờng đặc biệt quan tâm. Các trƣờng học đều đƣợc
trang bị khá đầy đủ các cơ sở vật chất, phƣơng tiện phục vụ cho học tập của học sinh.
Về cơ sở y tế: Phƣờng có một trạm y tế với 9 cán bộ. Trong đó có 1 bác sỹ
và 2 nữ hộ sinh.
Về các cơ sở hạ tầng khác nhƣ điện, đƣờng ở đây khá đảm bảo. Theo thống

kê, đến nay đã có 97% đƣờng đã đƣợc bê tông hóa, 100% hộ gia đình sử dụng
điện, 92% hộ dùng nƣớc máy. Đời sống vật chất cũng nhƣ tinh thần của ngƣ dân
ngày càng đƣợc nâng cao.
Cơ cấu ngành nghề:

Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu nghề ở phƣờng Thọ Quang
34%
28%
29%
9%
Công nghiệp - xây dựng
Dịch vụ
NTTS và KTTS
Nông - Lâm nghiệp

×