Tải bản đầy đủ (.doc) (55 trang)

Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (396.37 KB, 55 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển
của nhân loại. Từ bao đời nay nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế
nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người. Hiện nay mặc dù con người đã đạt được
trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học cũng
như nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhưng nhiều nước trên thế giới vẫn còn sống dựa vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Việc phát triển nông nghiệp và những vấn đề
liên quan đến nông nghiệp như: Đất đai, giống, vật tư phân bón… là những đề tài được
đông đảo các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở nước ta quan tâm đặc biệt.
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình
phát triển xã hội, gắn liền với các hoạt động mở rộng sản xuất công nghiệp, dịch vụ… đất
đai không chỉ sử dụng vào trồng trọt, chăn nuôi mà còn sử dụng ngày càng nhiều để phát
triển các ngành nghề khác. Điều đó có nghĩa là trong quá trình phát triển kinh tế gắn liền
với việc chuyển dịch đất đai trong nông nghiệp sang các ngành khác, phản ánh quy luật tất
yếu của chủ trương giảm diện tích đất trong sản xuất nông nghiệp. Điều này phản ánh sự
tiến bộ của xã hội, song đó lại là mối đe dọa cho cuộc sống loài người trong việc sản xuất
ra lương thực, thực phẩm nhằm đảm bảo cho nhu cầu lương thực ngày càng tăng. Đất
đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và không thể tái tạo được nhưng nếu biết sử dụng
hợp lí thì giá trị của nó sẽ được tăng thêm và mang lại lợi ích ngày càng cao cho nền kinh
tế quốc dân. Vì vậy việc sử dụng và khai thác đất đai hợp lí, tiết kiệm không những có ý
nghĩa về mặt kinh tế, chính trị xã hội mà còn góp phần tạo tiền đề để nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn lực khác.
Việt Nam là một nước “Trọng nông” lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất chủ yếu,
hàng năm tỉ lệ đóng góp của ngành nông nghiệp vào tổng sản phẩm xã hội là khá cao và có
ý nghĩa quan trọng. Vì vậy ruộng đất đóng vai trò hết sức quan trọng, là vấn đề cốt lõi
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
1
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
trong mối quan hệ kinh tế. Việt Nam vốn là một nước đơng dân, bình qn diện tích tự


nhiên đầu người chỉ có 4450 m
2
. Vì vậy việc sử dụng đất đai tiết kiệm có hiệu quả khơng
chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn đảm bảo về mục tiêu chính trị, xã hội.
Ngày nay trong bối cảnh đất nước đang trên đà phát triển và đổi mới, mở cửa hội
nhập với nền kinh tế quốc tế đã có những tác động tích cực và khơng ít những cơ hội, thách
thức liên quan đến mối quan hệ đất đai. Bên cạnh đó vấn đề bùng nổ dân số, cơng tác quản
lí sử dụng đất còn nhiều lỏng lẻo, bất cập, cơng tác qui hoạch chậm, lỗi thời khơng phù hợp
với tình hình thực tế hiện nay đã tạo ra sức ép nặng nề đối với đất đai nói chung và đất
nơng nghiệp nói riêng.
Hơn nữa trong những năm gần đây quan điểm phát triển nơng nghiệp bền vững
được xác định lại và được định hướng cùng những ứng dụng quan trọng về khoa học kỹ
thuật tiến tiến trong sản xuất nơng nghiệp của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng,
chính vì vậy mà việc điều tra đánh giá thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp là một cơng việc
hết sức quan trọng và cần thiết để từ đó có cơ sở khoa học nhằm chỉnh lý bổ sung xây
dựng các phương án quy hoạch cũng như việc tổ chức sắp xếp lại phương thức sản xuất,
mở ra phương hướng và triển vọng lâu dài cho địa phương, đồng thời sử dụng đúng đắn và
bền vững tài ngun đất đai.
Cát Trinh là một xã thuộc đồng bằng duyên hải miền trung nằm kề trung tâm
huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Với tổng diện tích tự nhiên là 4755,00 ha. Đến nay cùng
với cả nước, xã Cát Trinh đã triển khai học tập và vận động nhân dân thực hiện cơng tác
quản lý Nhà nước về đất đai và sử dụng đất đai trong sản xuất nơng nghiệp. Trong q
trình thực hiện, bên cạnh những mặt đã đạt được, vẫn còn những tồn tại cần phải khắc
phục.
Để đánh giá đúng đắn và đầy đủ tình hình sử dụng đất đai, từ đó có cách nhìn tổng
qt về hiệu quả kinh tế đạt được đồng thời phát hiện ra những hạn chế trong việc sử dụng
đất nơng nghiệp, vì vậy mà cá nhân tơi tiến hành nghiên cứu xây dựng chun đề: “Thực
trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định”.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
2

Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chuyên đề là: Thực trạng sử dụng đất nông
nghiệp ở xã Cát Trinh qua 3 năm (2005-2007). Để thực hiện tốt điều đó, trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu
thập số liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương
pháp chuyên gia, chuyên khảo… và một số phương pháp khác.
Do điều kiện thời gian ngắn và trình độ năng lực còn hạn chế, kinh nghiệm chưa
nhiều cho nên tôi chỉ dừng lại ở việc tiến hành nghiên cứu chuyên đề này nhằm tìm hiểu
thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định giai
đoạn 2005-2007, từ đó định hướng và đề xuất các giải pháp hợp lí nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng trên địa bàn xã Cát Trinh, huyện
Phù Cát, tỉnh Bình Định. Rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp xây dựng của quí thầy, cô
giáo, của cơ quan đơn vị địa phương nơi tôi thực tập cũng như sự giúp đỡ của bạn bè để
chuyên đề tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn, bản thân tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn
sâu sắc.

PHẦN II
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
3
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái niệm về đất, đất nông nghiệp và độ phì của đất:
- Khái niệm: Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá của mọi quốc gia, là tư liệu sản
xuất chủ yếu và đặc biệt của sản xuất nông nghiệp, là một trong những yếu tố quan trọng
nhất của môi trường sống và là địa bàn phân bố dân cư.
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành như
trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp. Ngoài tên gọi đất nông nghiệp, đất sử dụng vào nông nghiệp còn được gọi là

ruộng đất.
Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các
ngành nông nghiệp, bỡi vì trên thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào những mục
đích khác nhau của ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho các
mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới coi là đất nông nghiệp, nếu không là các
loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính).
- Độ phì nhiêu của đất: Độ phì nhiêu của đất là một thuộc tính tự nhiên khách quan,
là đặc tính tự nhiên không thể tách rời về khái niệm đất. Nó quyết định đặc tính có khả
năng tái tạo của đất. Nhờ đó, đất có thể tạo ra một khối lượng nông sản phẩm lớn hơn khối
lượng nông sản phẩm cần để nuôi sống con người. Độ phì nhiêu của đất là đặc trưng cơ
bản của đất, chc phép ta phân biệt đất với đá và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá phân hạng
đất.
Độ phì nhiêu của đất là khả năng của đất cung cấp cho cây trồng về nước, thức ăn,
khoáng và các yếu tố cần thiết khác để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường.
+ Độ phì nhiêu tự nhiên: Độ phì nhiêu tự nhiên của đất là độ phì nhiêu được hình
thành dưới tác động của các yếu tố tự nhiên, chưa có tác động của con người. Độ phì
nhiêu tự nhiên phụ thuộc vào thành phần, tính chất của đá mẹ, khí hậu, chế độ nước, không
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
4
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
khí và nhiệt độ, vào những quá trình sinh lí học, hóa học và sinh vật học để tạo thành và
tích lũy các chất dinh dưỡng cho thực vật thượng và hạ đẳng.
+ Độ phì nhiêu nhân tạo: Độ phì nhiêu nhân tạo của đất là độ phì nhiêu được tạo
ra do tác động của con người, thông qua hoạt động sản xuất tác động vào đất đai như cày
xới, bón phân, cải tạo đất, thủy lợi tưới tiêu, áp dụng các biện pháp kỹ thuật nông
nghiệp…Nó phản ánh khả năng cải tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đất đai. Độ phì
nhiêu nhân tạo phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, vào trình độ khoa
học kỹ thuật và khả năng ứng dụng chúng vào việc khai thác sử dụng đất cũng như quan hệ
sản xuất xã hội.
+ Độ phì nhiêu tiềm tàng: Độ phì nhiêu tiềm tàng là độ phì nhiêu tự nhiên mà cây

trồng tạm thời chưa sử dụng được. Trong độ phì nhiêu tự nhiên có một phần tác dụng ngay
đến cây trồng, có một phần vì nhiều lí do khác nhau mà chưa ảnh hưởng trực tiếp đến cây
trồng.
+ Độ phì nhiêu kinh tế: Độ phì nhiêu kinh tế là độ phì nhiêu mang lại lợi ích kinh
tế cụ thể. Đây là cơ sở để đánh giá tính kinh tế của đất. Các nhân tố ảnh hưởng đến độ phì
nhiêu kinh tế: Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, của công nghệ và phương thức
canh tác…
Khai thác độ phì nhiêu của đất là mục tiêu cơ bản trong quá trình sử dụng đất.
Người ta dựa vào độ phì nhiêu của đất để phân loại đất, định hạng đất giúp cho con người
sử dụng đất một cách có hiệu quả cả về mặt diện tích bề mặt và khai thác tiềm năng. Hiệu
quả đó được thể hiện ở việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm trên một đợn vị diện tích
đất đai với chi phí thấp nhất. Đồng thời, hiệu quả đó còn phải đảm bảo cải tạo, bồi dưỡng,
nâng cao độ phì của đất. Để làm được việc này, cần phải:
- Ưu tiên đất tốt, có độ phì nhiêu cao cho sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất canh
tác được và có khả năng canh tác được trên toàn thế giới và ở Việt Nam rất có hạn. Vì vậy
chúng ta phải quy hoạch cho việc sử dụng tổng thể toàn diện tích đất đai trên phạm vi toàn
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
5
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
quốc và từng vùng, từng địa phương nhằm sử dụng tiết kiệm đất đai và tránh sử dụng sai
mục đích, lãng phí.
- Thực hiện chế độ canh tác hợp lí, bố trí cây trồng thích hợp với từng loại đất.
Đồng thời coi trọng việc thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để
khai thác triệt để tiềm năng của đất, bảo vệ, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
- Ở những vùng đất đai có độ phì nhiêu cao nhưng xa trục lộ giao thông, đô thị, điều
kiện giao thông khó khăn thì cần phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng môi trường
kinh tế xã hội thích hợp với vùng khai phá.
- Luôn chú ý khai thác độ phì nhiêu gắn liền với bảo vệ môi trường.
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của đất trong sản xuất nông nghiệp:
1.1.2.1. Vai trò: Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của quá trình sản xuất.

Đất đai tham gia vào tất cả các quá trình sản xuất của xã hội, nhưng tùy thuộc vào từng
ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Nếu trong công nghiệp, thương mại,
giao thông, đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng
lưới đường giao thông… thì ngược lại trong nông nghiệp ruộng đất tham gia với tư cách
yếu tố tích cực của sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, nó xuất hiện và tồn tại ngoài
ý muốn của con người, vì thế đất đai là tài sản của quốc gia. Nhưng từ khi con người khai
phá đất đai, đưa ruộng đất vào sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của con người, trong quá
trình lịch sử lâu dài lao động của nhiều thế hệ được kết tinh ở trong đó thì ngày nay ruộng
đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động.
Đất đai giữ vai trò vô cùng quan trọng. Luật Đất Đai năm 1993 đã khẳng định một
vai trò to lớn như sau: “ Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu
sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng…”.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
6
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Trong nông nghiệp, ruộng đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động.
Ruộng đất là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ sản xuất tác động vào đất
làm cho đất thay hình đổi dạng như cày, bừa, đập đất, lên luống… quá trình đó làm tăng
chất lượng của ruộng đất, tạo điều kiện thuận lợi để tăng năng suất cây trồng. Ruộng đất là
tư liệu lao động khi con người sử dụng công cụ sản xuất tác động lên đất, thông qua các
thuộc tính lí học, hóa học, sinh vật học và các thuộc tính khác của đất để tác động lên cây
trồng. Sự kết hợp của đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở
thành tư liệu sản xuất chủ yếu, tư liệu sản xuất đặc biệt, tư liệu sản xuất không thể thay thế
được.
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là sự sống của động thực vật và con
người trên trái đất, là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế
tiếp nhau của loài người. Bởi vậy việc sử dụng đất đai tiết kiệm có hiệu quả và bảo vệ bền

vững lâu dài nguồn tài nguyên quý giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đặc biệt cần
phải làm thế nào để sử dụng nguồn tài nguyên này sao cho có hiệu quả cao nhất là nhiệm
vụ của con người chúng ta.
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, một trong những yếu tố cơ bản là sử dụng đất
đai hợp lí và có hiệu quả. Chúng ta không ngừng tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử
dụng đất trong nông nghiệp, bỡi vì quá trình kinh doanh nông nghiệp biểu hiện sự tác động
của con người lên ruộng đất. Ngược lại, việc sử dụng đất đai không hợp lí có thể làm giảm
hoặc mất đi vai trò ý nghĩa của lao động và các tư liệu sản xuất khác. Việc nâng cao chất
lượng ruộng đất có nghĩa là nâng cao tính hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.
Trong nông nghiệp, đặc biệt là trong ngành trồng trọt, đất đai có vị trí hết sức quan
trọng. Ở đây, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ dựa của lao động như ở các ngành khác
mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều
kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với ý nghĩa đó, trong nông nghiệp đất đai (hay ruộng
đất) là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
7
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
cho xã hội. Đúng như Uyliam petis đã nói: “ Lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải
vật chất”.
1.1.2.2. Đặc điểm: Khác với các tư liệu sản xuất khác, ruộng đất - tư liệu sản xuất
chủ yếu trong nông nghiệp có những đặc điểm sau:
- Ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động.
Đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên, chỉ từ khi con người tiến hành khai phá đưa
đất hoang hóa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho con người thì ruộng đất đã kết tinh lao
động con người và đồng thời trở thành sản phẩm của lao động. Đặc điểm này đặt ra trong
quá trình sử dụng, con người phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng ruộng đất, làm cho
đất ngày càng màu mỡ hơn.
- Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất
là không có giới hạn.
Số lượng diện tích đất đai đưa vào sử dụng canh tác bị giới hạn bởi không gian nhất

định, bao gồm: Giới hạn tuyệt đối và giới hạn tương đối. Diện tích đất đai của toàn bộ
hành tinh, của từng quốc gia, của từng địa phương là con số hữu hạn, đó là giới hạn tuyệt
đối của đất đai. Không phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều đưa vào canh tác được, tùy
thuộc điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng nước mà diện tích
đất nông nghiệp đưa vào canh tác chỉ chiếm một tỷ lệ % thích hợp nhất định. Đó là giới
hạn tương đối, giới hạn này nhỏ hơn nhiều so với tổng quỹ đất tự nhiên. Ở nước ta tỷ lệ đất
nông nghiệp năm 2000 chiếm trên 28,38% so với tổng diện tích tự nhiên, khả năng tối đa
đưa lên là 35%.
Vì thế cần phải biết quý trọng và sử dụng hợp lí ruộng đất, sử dụng một cách tiết
kiệm, hạn chế việc chuyển dịch ruộng đất sang sử dụng mục đích khác.
Mặc dù bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của ruộng đất là không
giới hạn, nghĩa là mỗi đơn vị diện tích đất đai nhờ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động,
đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất mà sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
8
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
tích ngày càng nhiều hơn. Đây là con đường kinh doanh chủ yếu của nông nghiệp nhằm
đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng lên về nông sản phẩm cung cấp cho xã hội loài người.
- Ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều.
Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần thiết, ngược
lại ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu này có vị trí cố định gắn liền với điều kiện tự nhiên,
điều kiện kinh tế và điều kiện xã hội của mỗi vùng. Để kết hợp với ruộng đất, người lao
động và các tư liệu sản xuất khác phải tìm đến ruộng đất như thế nào là hợp lí và có hiệu
quả. Muốn thế, một mặc phải quy hoạch các khu vực canh tác, bố trí các trung tâm dịch vụ
và phân bố các điểm dân cư hợp lý. Mặc khác phải cải thiện điều kiện tự nhiên, xây dựng
cơ sở vật chất - kỹ thuật và hệ thống kết cấu hạ tầng nhằm tạo điều kiện để sử dụng đất có
hiệu quả, nâng cao đời sống của nhân dân và từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn.
Ruộng đất có chất lượng không đồng đều giữa các khu vực và ngay trên từng cánh
đồng. Đó là kết quả, một mặt do quá trình hình thành đất, mặt khác quan trọng hơn là do
quá trình canh tác của con người. Vì thế trong quá trình sử dụng cần thiết phải cải tạo và

bồi dưỡng đất, không ngừng nâng dần độ đồng đều của ruộng đất ở từng cánh đồng, từng
khu vực để đạt năng suất cây trồng cao.
- Ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá
trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn.
Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình hoặc
hao mòn vô hình, cuối cùng sẽ bị đào thải khỏi quá trình sản xuất và thay thế bằng tư liệu
sản xuất mới, chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn. Còn ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu
không bị hao mòn, nếu sử dụng hợp lý, chất lượng ruộng đất ngày càng tốt hơn, sức sản
xuất của ruộng đất lớn hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích canh tác. Dĩ
nhiên việc sử dụng ruộng đất có đúng đắn hay không là tùy thuộc vào chính sách ruộng đất
của nhà nước và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, tùy thuộc vào trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học - công nghệ của từng giai đoạn phát triển nhất định.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
9
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Từ những đặc điểm trên chúng ta càng thấy rõ vai trò quan trọng và có tính chất
quyết định đến sản xuất nông nghiệp của đất đai. Nắm chắc được chất lượng đất, đầu tư
thâm canh cải tạo đất, sử dụng hợp lý tài nguyên đất nhằm tăng năng suất cây trồng là điều
kiện để giữ gìn, bảo vệ và phát triển quĩ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp như hôm nay.
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả sử dụng đất:
- Tỉ lệ % sử dụng đất: Là tỉ lệ % giữa quĩ đất đã sử dụng so với tổng diện tích đất tự
nhiên (%).
- Hệ số sử dụng ruộng đất: Chỉ tiêu này phản ánh cường độ sử dụng đất canh tác
(lần). Hệ số sử dụng ruộng đất = Tổng diện tích gieo trồng/ Tổng diện tích canh tác (lần).
- Năng suất cây trồng (Nci): Là lượng sản phẩm chính của loại cây trồng tính trên
một hecta đất của loại cây trồng đó. Trong một vụ hay một năm chỉ tiêu này phản ánh trình
độ sản xuất của hộ, của địa phương hay của toàn ngành.
GOi
Nci = (Kg/ha)
Si

GOi: Tổng giá trị của từng loại sản phẩm.
Si: Diện tích của từng loại sản phẩm.
- Năng suất ruộng đất: Về mặt lượng, năng suất ruộng đất, năng suất cây trồng và
giá trị sản lượng trên hecta canh tác, hecta gieo trồng đôi khi đồng nhất với nhau. Nhưng
về mặt chất mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nhất định của sử dụng đất nông nghiệp.
Năng suất ruộng đất phản ánh hiệu quả của sử dụng đất nông nghệp, vì nó biểu hiện mối
tương quan giữa kết quả sử dụng đất với chi phí sản xuất xét trên khía cạnh đất đai là tư
liệu sản xuất dùng vào hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Tổng giá trị sản lượng (GO): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ hữu ích trực
tiếp tạo ra trong thời kỳ nhất định thường là một năm của các hoạt động sản xuất.
- Chi phí trung gian (IC): Là những chi phí vật chất dịch vụ phục vụ cho quá trình
sản xuất không tính khấu hao.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
10
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
- Giá trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa tổng giá trị sản lượng và chi phí trung gian.
VA = GO – IC
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần giá trị gia tăng sau khi đã trừ đi thuế và các
khoản lệ phí phải nộp.
MI = VA – (Thuế + lệ phí phải nộp).
- Hiệu quả trên một đơn vị lao động: Giá trị sản xuất (GO)/ Lao động; Giá trị gia
tăng (VA) / Lao động; Thu nhập hỗn hợp (MI) / Lao động.
- Bình quân diện tích đất nông nghiệp / Nhân khẩu = Tổng diện tích đất nông
nghiệp / Tổng số nhân khẩu (m
2
/khẩu).
- Bình quân diện tích đất canh tác / khẩu = Tổng diện tích đất nông nghiệp canh
tác / Tổng số nhân khẩu (m
2
/khẩu).

- Bình quân diện tích đất nông nghiệp / Lao động = Tổng diện tích đất nông
nghiệp / Tổng số lao động (m
2
/lao động).
- Bình quân diện tích đất canh tác / Lao động = Tổng diện tích đất nông nghiệp canh
tác / Tổng số lao động (m
2
/lao động).
- Lợi nhuận tính trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp, đất canh tác.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số chỉ tiêu hiệu quả khác như: GO/VA; GO/IC;
VA/IC…
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng xem xét
trên bình diện chung chúng chịu ảnh hưởng của các nhóm nhân tố sau:
1.1.4.1 Nhân tố tự nhiên:
Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và sản lượng cây trồng bởi
vì nhóm yếu tố này có tác động trực tiếp và liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây trồng.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
11
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với các
điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như
nhiệt độ, ánh sáng, không khí, lượng mưa, chế độ gió và các khoáng sản dưới lòng đất.
Trong các nhân tố này thì điều kiện khí hậu thời tiết là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc
sử dụng đất, sau đó là điều kiện đất đai mà chủ yếu là địa hình thổ nhưỡng và các nhân tố
khác.
Thời tiết - khí hậu: Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống nên
chúng chịu tác động rất lớn của điều kiện thời tiết, khí hậu. Nếu khí hậu, thời tiết thuận lợi
sẽ tạo điều kiện thích hợp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, nhờ đó mà năng suất

cao, ngược lại cây trồng sẽ kém phát triển, năng suất và phẩm chất kém khi thời tiết, khí
hậu gặp bất lợi.
Đất đai: Nhờ có đất mà cây trồng tồn tại và phát triển được, đồng thời đất sẽ cung
cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng phục vụ cho hoạt động trao đổi chất, hoạt động sinh
lí, sinh hóa. Đất đai tốt hay xấu biểu hiện qua độ phì nhiêu của đất ở mỗi vùng khác nhau,
tính chất và độ màu mỡ tự nhiên của đất cũng khác nhau. Vì vậy trong quá trình sản xuất
các nhà sản xuất phải chú ý đến chế độ canh tác sao cho phù hợp với vùng đất của mình
nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Việc lựa chọn cây trồng và hệ thống cây trồng nào đó phù hợp với những điều kiện
đất đai và khí hậu thời tiết của từng vùng là vấn đề vô cùng quan trọng, nó không những
đem lại năng suất, sản lượng, chất lượng cây trồng cao mà còn thể hiện được hiệu quả
quản lý và sử dụng đất của vùng đó là tốt hay xấu, phù hợp hay không phù hợp.
1.1.4.2 Nhân tố Kinh tế - Xã hội:
Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội là nhóm nhân tố hết sức phức tạp, nó tạo ra môi
trường sống cho toàn bộ cộng đồng dân cư của một vùng, một địa phương, là điều kiện, cơ
sở tiến hành cho sản xuất, chi phối đến quy trình kỹ thuật, phương thức sản xuất và cả việc
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
12
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
phân phối sản phẩm. chính vì thế nhóm yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và
kết quả sản xuất. Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm như chế độ xã hội, dân số và lao động,
thông tin và quản lí, chính sách môi trường, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ
phát triển kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công
nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, trình độ quản lí và sử dụng lao
động, sự phát triển của khoa học kỹ thuật…
Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chỉ đạo đối với việc sử
dụng đất đai. Thực vậy, phương hướng sử dụng đất đai được quyết định bỡi yêu cầu của xã
hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kì nhất định. Điều kiện tự nhiên đất đai cho phép
xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất. Còn sử dụng như thế nào được
quyết định bỡi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, tính pháp lí,

tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật và mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật và quyết định bỡi
nhu cầu của thị trường.
Các chính sách của Nhà Nước đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của các nông hộ. Trong thời gian qua đã có những chính sách của Nhà
nước có tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp như: Chính sách đất đai, chính sách đầu
tư, tín dụng, chính sách đổi mới hoạt động của các Hợp Tác Xã nông nghiệp…Với các
chính sách đưa ra Nhà nước đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, nông thôn,
đồng thời đây cũng là nhân tố cần thiết để đảm bảo an toàn lương thực và phát triển xã hội.
Biểu hiện của nhân tố kinh tế là mức đầu tư vật chất cho sản xuất nông nghiệp. Đây
là chi phí vật chất trực tiếp trong quá trình sản xuất, nó có thể coi là yếu tố quan trọng nhất
ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng. Việc đầu tư hợp lí sẽ cho năng suất cây
trồng cao và ngược lại, nếu đầu tư không hợp lí và không đúng quy trình sẽ làm cho năng
suất cây trồng giảm và hiệu quả sản xuất cũng giảm. Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất nông nghiệp bao gồm: Giống, vật tư phân bón, bảo vệ thực vật, thủy
lợi…
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
13
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
- Giống: Là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp có tính quyết định đến năng suất và chất
lượng sản phẩm. Giống quy định năng suất, tiềm năng tối đa mà cây trồng có thể đạt được.
Mặt khác các giống khác nhau đòi hỏi quy trình sản xuất khác nhau, do đó đòi hỏi các nhà
sản xuất phải lựa chọn giống phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng, của đơn vị sản xuất.
- Phân bón: Là yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất và chất lượng sản phẩm,
phẩm chất cây trồng. Để tăng năng suất và sản lượng cây trồng thì việc bón phân đầy đủ,
cân đối giữa các loại phân với nhau, đảm bảo bón đúng thời gian, bón phân hợp lý sẽ cung
cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây trồng vào các thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác
nhau, đồng thời góp phần cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
- Bảo vệ thực vật: Sâu bệnh gây hại cây trồng luôn là vấn đề rất khó giải quyết của
các nông hộ. Sâu bệnh làm cho cây trồng chậm phát triển, năng suất và phẩm chất, chất
lượng sản phẩm kém. Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, nên đây

là điều kiện rất thuận lợi cho sâu bệnh sinh trưởng và phát triển. Chính vì vậy việc áp dụng
các biện pháp bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh là hết sức quan trọng đối với ngành
sản xuất nông nghiệp.
- Thủy lợi: Trong sản xuất nông nghiệp, nước là yếu tố quan trọng. Không có nước
thì cây trồng và vật nuôi không thể tồn tại và phát triển được. Thiếu nước, cây trồng, vật
nuôi sẽ chậm phát triển, năng suất và chất lượng nông sản kém, cây có thể ngừng sinh
trưởng. Ngược lại nếu nước quá nhiều cũng gây khó khăn cho cây trồng, vật nuôi trong
quá trình phát triển, thậm chí cây bị chết úng.
1.1.4.3 Nhân tố lao động và kỹ thuật:
- Lao động với tư cách là chủ thể của quá trình sản xuất có khả năng nhận thức qui
luật khách quan. Chính vì vậy, lực lượng lao động sẽ thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển.
Song điều đó lại phụ thuộc rất lớn vào trình độ lao động, trình độ học vấn, trình độ tay
nghề của người lao động. Hiện nay nông nghiệp có những bước phát triển cao về công
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
14
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
nghệ sinh học, từ đó đòi hỏi chủ thể lao động phải có khả năng nắm bắt nhanh chóng
những thay đổi đó và áp dụng có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp.
Ở Việt Nam, lao động trong nông nghiệp chủ yếu là nông dân với trình độ dân trí
còn thấp, phương thức canh tác lạc hậu dẫn đến năng suất thấp, đất đai sử dụng không hợp
lí và trở nên cằn cỗi, bào mòn, môi trường bị phá hủy nghiêm trọng, hiệu quả kinh tế thấp,
đe dọa đến sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp trong tương lai. Để có biện pháp
quản lý sử dụng đất một cách hiệu quả, tiết kiệm khoa học và hợp lý cần phải bồi dưỡng và
nâng cao trình độ văn hóa, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người lao động.
- Kỹ thuật: Đây là việc thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật và việc áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật và quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và
chất lượng nông sản. Việc thực hiện đúng, đủ các biện pháp kỹ thuật là hết sức quan trọng
và cần thiết. Các biện pháp kỹ thuật mà các nông hộ hiện nay đang sử dụng là kỹ thuật làm
đất, chăm sóc, gieo trồng, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch. Tùy theo tính chất của
từng loại đất, từng loại cây trồng, vật nuôi mà có các biện pháp kỹ thuật sao cho phù hợp

và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.4.4 Phương thức canh tác:
Đây là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sản lượng, chất lượng cây
trồng, vật nuôi. Phương thức canh tác bao gồm các biện pháp kỹ thuật canh tác, những tác
động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu
tố của quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó tập quán canh tác cũng
ảnh hưởng đến việc lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chuẩn bị loại cây trồng để có
một phương hướng canh tác khác nhau, đòi hỏi cần nắm vững các yêu cầu về biện pháp kỹ
thuật canh tác thì mới có hiệu quả đồng thời loại bỏ những phương thức, tập quán canh tác
lạc hậu không phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế thấp, có thể gây ảnh hưởng xấu cho đất.
Vì vậy việc đổi mới phương thức canh tác, tăng cường công tác khuyến nông giúp cho
người dân thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất là một việc làm hết sức cần thiết.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
15
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
1.1.4.5 Nhân tố thị trường:
Thị trường là một nhân tố vô cùng quan trọng của mọi ngành sản xuất kinh doanh.
Hiện nay cả thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp ngày càng được mở
rộng và có tác động to lớn đến phát triển sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên phần lớn vẫn còn
mang tính chất tự phát, thiếu tính định hướng, ngẫu nhiên và thiếu sự vận hành đồng bộ.
Điều này đã gây ra không ít những khó khăn, trở ngại, bất lợi cho nông dân và các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Trên thị trường nhân tố giá có sự
ảnh hưởng rất lớn đến quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của các nông hộ. Trên cơ
sở giá cả và nhiều yếu tố khác người nông dân sẽ quyết định sản xuất loại cây gì, chăn nuôi
con gì với mức đầu tư cho sản xuất như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất.
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Chủ trương đường lối về ruộng đất của Đảng và Pháp luật ruộng đất
của Nhà nước ta qua các thời kỳ:
Ngày 08/01/1988 Hội Đồng Nhà Nước đã công bố Luật Đất Đai đầu tiên được

Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua tại kì họp thứ 2 khóa
VIII. Ngay từ lời nói đầu tiên bộ luật đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được cho sản xuất nông
nghiệp…”. Bộ luật đất đai đầu tiên ra đời là một bước tiến lớn trong việc thể chế hóa
đường lối chính sách của Đảng và nhà nước. Nó có ý nghĩa to lớn về kinh tế, xã hội và tính
pháp lý, thể hiện tinh thần đổi mới nhằm từng bước đưa công tác quản lý và sử dụng đất
vào kỷ cương pháp luật nhà nước. Khuyến khích thu hút mọi tổ chức cá nhân sử dụng đất
an tâm đầu tư khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, góp phần vào công cuộc cải tạo Xã
Hội Chủ Nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội.
Thực hiện thắng lợi các Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và các Nghị Quyết của
Trung Ương. Sau đó Đảng và Nhà nước ta không ngừng đưa ra các chủ trương, chính sách
và sửa đổi, bổ sung về những vấn đề liên quan đến ruộng đất đem lại hiệu quả thiết thực
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
16
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
trong việc quản lý và sử dụng ruộng đất làm cho kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn nước ta có
hướng chuyển biến mạnh mẽ và tích cực.
Ngày 24/7/1993 Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ký lệnh
cơng bố Luật Đất Đai lần thứ 2 và được Quốc Hội thơng qua tại kỳ họp lần thứ 3 Quốc Hội
khóa IX ngày 24/7/1993. Luật này ra đời nhằm quy định chế độ quản lí sử dụng đất đai
một cách hợp lí và hiệu quả. Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện vẫn còn nhiều chỗ chưa
phù hợp vì vậy ngày 26/11/2003 Chủ Tịch nước Trần Đức Lương đã ký lệnh cơng bố Luật
Đất Đai lần thứ 3 và được Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thơng
qua tại kỳ họp lần thứ 4 khóa IX ngày 26/11/2003. Luật này qui định về quyền hạn và trách
nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ
quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. “Đất đai thuộc sở
hữu tồn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. ( Trích Điều 5- Luật Đất Đai 2003).
1.2.2 Quan điểm khai thác và tình hình sử dụng đất của huyện Phù Cát, tỉnh
Bình Định.
Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát kòp thời của UBND tỉnh Bình Đònh, UBND

huyện Phù Cát, cho nên công tác khai thác và sử dụng đất đai trên đòa bàn huyện được
thuận lợi hơn. Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức được giao đất đã sử dụng các quyền và
thực hiện nghóa vụ của người sử dụng đất đúng theo quy đònh của pháp luật, thực sự
Luật Đất Đai đã đi vào cuộc sống, được nhân dân đặc biệt quan tâm góp phần hạn
chế việc tranh chấp, lấn chiếm đất đai, sản xuất được thuận lợi hơn. Các văn bản pháp
lý đất đai ngày càng hoàn thiện hơn, giúp công tác tun truyền về sử dụng đất đúng
mục đích ngày càng được chặt chẽ và đi sát thực tế hơn.
Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật đất đai và những văn bản có liên quan
được chú trọng và đi vào chiều sâu, bằng nhiều hình thức thích hợp; nhất là các quyền
và nghóa vụ của người sử dụng đất, trình tự, thủ tục thực hiện các quyền và nghóa vụ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
17
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
đó… cho cán bộ, công chức và nhân dân trong huyện hiểu đúng nội dung tinh thần của
Luật để nghiêm chỉnh chấp hành.
Trong những năm qua huyện Phù Cát đã đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, áp dụng đúng các quy đònh của pháp luật về đất đai khi xem xét
công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất, xác đònh nghóa vụ tài
chính của người sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Giải quyết tốt cơ chế “một cửa” đã tiếp nhận và giao trả kết quả đúng thời gian
tránh làm mất thời gian đi lại của nhân dân, làm tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
đònh cư khi thu hồi đất, việc thu hồi đất để quy hoạch xây dựng công trình… đã được
công khai hoá toàn bộ quá trình thực hiện, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng có
điều kiện tương tự, việc đền bù giá đất đúng nguyên tắc quy đònh tại Điều 56 Luật đất
đai.
Năm 1995 huyện Phù Cát lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, xây dựng
những chỉ tiêu chủ yếu để làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất cấp xã, đã được UBND
tỉnh Bình Định phê duyệt. Hàng năm huyện có điều chỉnh bổ sung một số chỉ tiêu sử dụng
đất đai cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Nhưng nhìn chung cơng tác khai thác và sử
dụng đất của huyện đến năm 2010 chủ yếu cho ngành nơng nghiệp, các ngành khác như:

giao thơng, cơng nghiệp, du lịch - dịch vụ còn mang tính chung chung chưa cụ thể hố.
Cơng tác giao đất, cho th đất trong thời gian qua trên địa bàn huyện Phù Cát gặp
khơng ít khó khăn, vì các xã trên địa bàn huyện chưa lập quy hoạch sử dụng đất, thiếu cơ
sở để làm căn cứ giao đất, cho th đất. Trình độ của đội ngũ cán bộ làm cơng tác quản lý
đất đai cấp xã còn yếu, việc giao đất trái thẩm quyền ở cấp xã còn diễn ra. Qua các cuộc
thanh tra đã phát hiện và thu hồi hơn 1,5 ha đất giao trái thẩm quyền.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
18
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
Tuy nhiên cơng tác giao đất và sử dụng đất trong thời gian qua đã đạt được những
kết quả đáng kể: giải quyết được nhu cầu đất ở cho dân, đưa được một số diện tích lớn đất
chưa sử dụng vào sản xuất nơng nghiệp mang lại hiệu quả nhất định.
Tồn huyện đã hồn thành cơng tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nơng
nghiệp cho hộ gia đình cá nhân theo Nghị Định 64/CP để hợp thức hố quyền sử dụng đất
cho người dân.
Tồn huyện có 18 xã thị trấn, nhưng 17 xã chưa được đo đạc bản đồ địa chính chính
quy, hiện nay còn dùng bản đồ giải thửa đo đạc theo hệ toạ độ độc lập chỉnh lý nhiều lần,
độ chính xác thấp. Các xã trong huyện chưa lập phương án qui hoạch sử dụng đất, cho nên
gây khơng ít khó khăn trong cơng tác giao đất, thu hồi đất và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Gây nhiều khó khăn trong cơng tác theo dõi biến động về đất đai trên địa bàn
huyện.
1.3 Tình hình cơ bản của xã Cát Trinh
1.3.1 Vị trí địa lí:
Xã Cát Trinh nằm ở gần vò trí trung tâm huyện lỵ Phù
Cát, cách sân bay hàng không Phù Cát 6km, cách thành
phố Quy Nhơn 30 km về phía Bắc. Với tổng diện tích tự nhiên
4755,00 ha, phân bổ ranh giới hành chính ra 4 thôn và có vò
trí đòa lý:
+ Từ 108
0

55’- 109
0
15’16” kinh độ Đông.
+ Từ 13
0
54’- 14
0
12’32” vó độ Bắc.
Đòa giới hành chính được giới hạn như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Cát Hanh và xã Cát Tài.
+ Phía Tây giáp xã Cát Hiệp.
+ Phía Nam giáp với xã Cát Tân và thò trấn Ngô Mây.
+ Phía Đông giáp với xã Cát Tường.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
19
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
Dân số trong xã năm 2007 là 13.253 người, chiếm tỷ
lệ so với toàn huyện là 7%. Mật độ dân số bình quân chung
toàn xã là 279 người/km
2
.
Với vò trí tương đối thuận lợi là cầu nối giữa các xã,
có tuyến quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam chạy qua, tỉnh lộ
635 thông suốt từ Thò trấn Ngô Mây đến xã biển Cát Tiến,
hiện nay đã và đang hình thành tuyến đường vành đai Bắc-
Nam và bến xe trung tâm Phù Cát nằm trên đòa bàn xã. Đây
là một thế mạnh của vùng so với các xã lân cận, tạo
điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư, trao đổi hàng hoá nông
sản phẩm, vò thế của xã gần trung tâm huyện nên việc đi
lại của nhân dân thuận tiện hơn. Bên cạnh thế mạnh về

các đầu mối, các trục giao thông là nỗi lo về an toàn giao
thông.
1.3.2 Điều kiện tự nhiên
* Địa hình, đất đai:
- Đòa hình:
Đòa hình của xã thấp từ Đơng sang Tây và từ Nam qua Bắc, có sự phân biệt thành
hai vùng rõ rệt đó là vùng đồi núi và vùng đồng bằng đã tạo nên đặc điểm đòa hình
của xã:
+ Vùng đồi núi: Chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của xã (khoảng 15,5%)
nằm về phía Đông quốc lộ 1A, bao gồm các thôn: Phú Nhơn, An Đức, Phong An.
Vùng này gồm những giải đồi núi với độ cao trung bình khoảng 250 – 400 m. Vì vậy,
đòa hình đồi núi càng được thể hiện rõ nét ở khu vực phía Bắc xã ( chủ yếu là thơn Phú
Nhơn và An Đức).
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
20
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
+ Vùng đồng bằng: Nằm ở phía Tây quốc lộ 1A có thôn Phú Kim với diện tích
980 ha, chiếm 20,6% diện tích tự nhiên của xã, vùng này có đòa hình cao dần theo
hướng Đông Nam, độ cao trung bình từ 1,5- 4m.
Đòa hình ít phức tạp, đòa chất là cát pha về mùa hè chòu ảnh hưởng của gió mùa
Tây Nam. Lượng nước mặt tập trung vào mùa mưa, chảy theo đòa hình tự nhiên từ Tây
sang Đông rồi thoát ra các suối nhỏ. Đòa hình tương đối thuận lợi cho việc quy hoạch,
bố trí dân cư, ổn đònh đời sống và phát triển kinh tế- xã hội.
- Đất Đai:
Theo tài liệu điều tra của Hội Khoa Học đất Việt Nam năm 1997, trên đòa bàn xã
có 5 nhóm đất chủ yếu như sau:
Đất cát - cát pha diện tích 523.4 ha chiếm 11.01% tập trung chủ yếu ở phía tây
của xã, đất có kết cấu rời rạc, thành phần dinh dưỡng nghèo.
Đất xám bạc màu diện tích 785.3 ha chiếm 16.51% tập trung chủ yếu ở phía
đông quốc lộ 1A nằm rải rác ở các thôn.

Đất đồi núi diện tích 1331.17 ha chiếm 28% tập trung chủ yếu ở thôn Phú Kim,
Phú Nhơn, An Đức.
Đất đỏ vàng diện tích 665.55 ha chiếm 14% tập trung chủ yếu ở thôn An Đức,
Phong An.
Đất thòt diện tích 1449,58 ha chiếm 30,48% phân bố đều ở các thôn.
Nước ngầm: Do địa hình có nhiều núi, nhiều khe suối cho nên lượng nước ngầm rất
phong phú, độ chênh mặt nước giếng đào đến mặt đất thường từ 4-5 m theo địa hình. Tài
nguyên nước thì rất hạn chế nhưng mạch nước ngầm thì rất phong phú
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
21
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp của xã Cát Trinh là 458.28 ha, chiếm
9,64 % diện tích đất tự nhiên của xã. Trong những năm qua xã đã tăng cường trồng rừng và
bảo vệ diện tích rừng thơng qua các dự án PAM, 327, WB3.
* Khí hậu, thời tiết:
Xã Cát Trinh là một vùng chòu nhiều ảnh hưởng của
khí hậu, một năm được chia thành hai mùa rõ rệt.
+ Mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 9.
+ Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 12.
- Nhiệt độ
Theo số liệu của trạm khí tượng thành phố Quy Nhơn, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 25
0
C.
+ Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là
tháng 5, khoảng 37,5
0
C.
+ Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng
12, khoảng 18-20.

+ Nhiệt độ tối cao 42,1
0
C.
+ Nhiệt độ tối thấp 15,2
0
C.
Tổng tích ơn trong năm trên 9700
0
C, số giờ nắng trung bình trong ngày là 8 giờ.
Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây trồng nhiệt đới.
- Nắng:
+ Số ngày nắng trung bình hàng năm là 255 ngày / năm.
+ Tháng có số ngày nắng trung bình cao nhất là tháng
6, khoảng 24 ngày.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
22
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
+ Tháng có số ngày nắng trung bình thấp nhất là
tháng 11, khoảng 9 ngày.
+ Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.965 giờ.
+ Tháng có số giờ nắng trung bình cao nhất là tháng 5-
6, khoảng 425 giờ.
+ Tháng có số giờ nắng trung bình thấp nhất là tháng
12, khoảng 55 giờ.
- Lượng mưa:
+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 9-12 chiếm khoảng 70-80%
lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình đạt 2433mm/năm.
+ Tháng có lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 10,
khoảng 815mm.
+ Tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất là tháng 6,

khoảng 59mm.
- Độ ẩm khí hậu:
+ Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 75%.
+ Độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất là 85%
(tháng11).
+ Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất là 65%
(tháng 7).
- Gió:
- Gió Đông Bắc từ tháng 11 năm trước sang tháng 1
năm sau (gió mùa Đông Bắc, gió Nam- Tây Nam từ tháng 4
đến tháng 6).
- Gió Tây- Tây Nam từ tháng 7 đến tháng 8 (gió Lào).
- Tháng 9 và tháng 10 hay xuất hiện có bão lớn làm
thiệt hại nông nghiệp, nhà cửa nhân dân.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
23
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
* Hệ thống thủy văn:
Thuỷ văn khu vực chủ yếu là lượng nước mặt tập trung vào mùa mưa, chảy
theo đòa hình tự nhiên từ Tây sang Đông rồi thoát ra các suối nhỏ. Trên đòa bàn xã có
một hồ chứa nước Suối Chay cung cấp nước tưới cho 2 xã Cát Trinh và Cát Tân, trong
năm 2006 đã tiến hành khảo sát thiết kế kênh mương cấp 1 với chiều dài 6 km nhằm
cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp trong thời gian đến. Độ ẩm cũng
như lương mưa là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Song hàng năm có
xuất hiện bão từ cuối tháng 8 đến tháng 10 đã ảnh hưởng lớn đến mùa màng và tài
sản của nhân dân, vùng đồi gò của xã chiếm diện tích lớn nhưng đất xấu, thiếu nguồn
nước, dân cư thưa thớt là những hạn chế trong việc phát triển kinh tế-xã hội.
1.3.3 Điều kiện Kinh tế - Xã hội:
Được sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ xã Cát Trinh, sự quản lý điều hành của
UBND xã, sự phối hợp cùng với Mặt trận và các đoàn thể của xã, trong những năm

qua cán bộ và nhân dân trong xã đã nêu cao truyền thống đoàn kết, cần cù ý chí vươn
lên, phát huy những mặt thuận lợi, ra sức khắc phục khó khăn, yếu kém, nổ lực phấn
đấu thực hiện đạt một số chỉ tiêu chủ yếu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Giai đoạn 2005-2007, kinh tế của xã tăng trưởng với tốc độ bình quân là 21.9%.
Sản xuất nông nghiệp vẫn đang là thế mạnh chiếm vai trò chủ yếu trong nền kinh tế,
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13,75 %.
Ngành công nghiệp-xây dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt
27,57 % chiếm 20,1 % tỷ trọng ngành kinh tế, song tăng trưởng không đều và ổn đònh
qua các năm. Những thành tựu kinh tế trong 10 năm đổi mới, đặc biệt những năm gần
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
24
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
đây có ý nghóa hết sức to lớn đối với xã nhà, đời sống của nhân dân nhờ đó được cải
thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đã từng bước củng cố và xây dựng.
Cơ cấu kinh tế của xã có sự chuyển dòch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng
ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dòch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông
lâm nghiệp.
* Tình hình sử dụng đất của xã Cát Trinh trong 3 năm (2005-2007):
Xã Cát Trinh có tổng diện tích đất tự nhiên là 4755 ha. Trong đó qui mơ, cơ cấu đất
nơng nghiệp là 2671,28 ha, (chiếm 56,17 %) năm 2005, 2678,43 ha (chiếm 56,33 %) năm
2006 và năm 2007 là 2654,27 ha (chiếm 55,82 %) trên tổng diện tích đất tự nhiên của xã.
Điều này cho thấy về qui mơ, đất nơng nghiệp chiếm đa số trong tổng quĩ đất của xã, sự
biến động qua từng năm có sự tăng giảm khơng đồng đều chứng tỏ đây là sự điều chỉnh có
sự định hướng của các cấp lãnh đạo xã về mở rộng diện tích đất nơng nghiệp và sự dịch
chuyển đất nơng nghiệp sang đất phi nơng nghiệp. Năm 2006 tăng hơn năm 2005 là do có
sự chuyển từ đất chưa sử dụng sang đất nơng nghiệp, vì thế mà có sự biến động tăng 7,15
ha. Năm 2007 theo như chủ trương chung của cả nước, của huyện Phù Cát về giảm diện
tích đất nơng nghiệp và chuyển mục đích sử dụng đất nơng nghiệp sang đất phi nơng
nghiệp nên cả xã đã giảm đi 24,16 ha đất nơng nghiệp so với năm 2006.
Đất phi nơng nghiệp có chiều hướng ngày càng tăng thêm nhằm đáp ứng nhu cầu về

đất ở cho nhân dân và đất xây dựng các cơng trình cơng cộng, các mục đích khác…Qua 3
năm đất phi nơng nghiệp đều tăng lên, đặc biệt trong năm 2006 xã Cát Trinh chuyển mục
đích sử dụng đất từ đất nơng nghiệp sang đất phi nơng nghiệp rất lớn vì năm này là năm
triển khai xây dựng bến Xe trung tâm Phù Cát và đường vành đai Bắc- Nam nằm trên địa
phận của xã nên diện tích đất phi nơng nghiệp tăng lên đáng kể (152,51 ha). Đến năm 2007
đã tăng lên 34,04 % so với năm 2005.
Quĩ đất chưa sử dụng của xã qua hàng năm đều giảm, chứng tỏ rằng đây là một tín
hiệu vui của xã trong q trình khai thác và sử dụng đất đai ngày càng hợp lí và có hiệu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
25

×