Tải bản đầy đủ (.pdf) (137 trang)

MÔ PHỎNG CÁC KỊCH BẢN ĐIỀU TIẾT HỆ THỐNG HỒ CHỨA LƯU VỰC SÔNG BA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.26 MB, 137 trang )


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN


Dương Thị Thanh Hương



MÔ PHỎNG CÁC KỊCH BẢN ĐIỀU TIẾT HỆ THỐNG HỒ CHỨA
LƯU VỰC SÔNG BA

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

















Hà Nội - 2010



2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN


Dương Thị Thanh Hương


MÔ PHỎNG CÁC KỊCH BẢN ĐIỀU TIẾT HỆ THỐNG HỒ CHỨA
LƯU VỰC SÔNG BA

Chuyên ngành: Thủy văn học
Mã số: 60.44.90

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGƯỚI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TIỀN GIANG















Hà Nội - 2010


3
LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ khoa học: “Mô phỏng các kịch bản điều tiết hệ thống hồ
chứa lưu vực sông Ba” hoàn thành tại Khoa Khí tượng - Thủy văn - Hải Dương học
thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 12
năm 2010, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Nguyễn Tiền Giang.
Tác giả xin bầy tỏ sự cảm ơn chân thành tới TS. Nguyễn Tiền Giang đã tận
tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn.
Tác giả xin bầ y tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo Khoa Khí
tượng - Thủy văn - Hải Dương học đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho tác giả trong
quá trình học tập và nghiên cứu luận văn. Tác giả xin chân thành cảm ơn những ý
kiến đóng góp quý báu của PGS.TS. Nguyễn Hữu Khải, chủ nhiệm Đề tài KC 08-30.
Tác giả cũng xin cám ơn PGS.TS. Hoàng Văn Lai cùng các đồng nghiệp tại
Phòng Thủy Tin học, Thủy Khí Công nghiệp và Môi trường Lục địa, Viện Cơ học đã
giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn.
Trong khuôn khổ luận văn, do thời gian và điều kiện hạn chế nên không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp quý báu từ phía độc giả và những người quan tâm.


TÁC GIẢ










4
MỤC LỤC


Danh mục chữ viết tắt………………………………….. 1


Danh mục bảng biểu…………………………………….. 1


Danh mục hình vẽ……………………………………….. 1


Mở đầu…………………………………………………… 3
CHƯƠNG 1


TỔNG QUAN…………………………………………… 5
1.1

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về điều tiết
liên hồ phục vụ phòng chống lũ………………………...
5
1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước……………………………. 5
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước……………………………. 9
1.2
Một số mô hình mô phỏng điều tiết hồ chứa đã và
đang được nghiên cứu phát triển và ứng dụng trong
thực tế …………………………….……………………...
11
1.3
Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội của lưu vực
sông Ba……………………………………………………
11
1.3.1 Vị trí địa lý và mạng lưới sông suối……………………… 11
1.3.2 Mạng lưới trạm đo khí tượng thuỷ văn…………………… 14
1.3.3 Đặc điểm khí hậu………………………………………… 17
1.3.4 Đặc điểm thủy văn……………………………………….. 19
1.3.5 Hệ thống hồ chứa trên sông Ba………………………….. 27
1.3.6 Đặc điểm dân sinh kinh tế……………………………. 30
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH MÔ PHỎNG
ĐIỀU TIẾT HỆ THỐNG HỒ CHỨA LƯU VỰC
SÔNG BA………………………………………………...
32
2.1
Giới thiệu chung về mô hình……………………………. 32

5
2.2 Mô đun tính lưu lượng đầu vào và gia nhập khu giữa

32
2.3
Mô đun vận hành hệ thống chứa……………………….. 34
2.4
Mô đun thủy lực hay mô hình diễn toán lũ…………..... 35
2.5
Khả năng và yêu cầu dữ liệu của mô hình…………….. 38
CHƯƠNG 3
MÔ PHỎNG VẬN HÀNH HỆ THỐNG HỒ CHỨA
CỦA LƯU VỰC SÔNG BA………………………………
40
3.1
Các kịch bản lũ.................................................................... 40
3.2
Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình……………………….. 42
3.2.1 Xử lý số liệu trong mô hình Marine……………………….. 42
3.2.2 Xử lý số liệu trong mô hình điều hành hồ chứa…………… 50
3.2.3 Xử lý số liệu trong mô hình diễn toán lũ Muskingum…….. 50
3.2.4 Kết quả kịch bản không hồ năm 1986, 1988………………. 51
3.3
Kịch bản điều tiết đơn hồ................................................... 55
3.4
Kịch bản điều tiết liên hồ theo quy trình mới................... 61
3.5
Kết luận............................................................................... 66


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................ 67



TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................. 70


PHỤ LỤC............................................................................. 72



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MNDBT Mực nước dâng bình thường
MNC Mực nước chết
MNGC Mực nước gia cường

6
MN kiểm tra Mực nước kiểm tra
V
tb
Dung tích toàn bộ
V
hi
Dung tích hữu ích
Nlm Công suất lắp máy

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các trạm khí tượng trong và lân cận lưu vực sông Ba 14
Bảng 1.2 Các trạm đo mưa trong và lân cận lưu vực sông Ba 15
Bảng 1.3 Khả năng xuất hiện lũ lớn nhất năm tại một số trạm (%) 22
Bảng 1.4 Thông số cơ bản các hồ trên lưu vực sông Ba 29
Bảng 3.1 Mực nước hồ cao nhất ở đầu các tháng trong mùa lũ 59
Bảng 3.2 Cao trình mực nước khống chế ở các hồ trong mùa lũ 61
Bảng 3.3 Cao trình mực nước đón lũ của các hồ 62

Bảng 3.4 Ngưỡng cắt lũ cho 3 hồ 63

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Biểu diễn dưới dạng đồ thị của diễn toán hồ chứa 6
Hình 1.2 Sơ đồ vị trí địa lý lưu vực sông Ba 12
Hình 1.3 Mạng lưới trạm KTTV lưu vực sông Ba 16
Hình 1.4 Vùng ngập thung lũng Ayun Pa – Cheo Reo – Phú Túc 24
Hình 1.5 Ảnh chụp RADA ngập lụt hạ lưu sông Ba ngày 5/10/2009 26
Hình 1.6 Vị trí các hồ chứa trên lưu vực sông Ba 28
Hình 3.1 Sơ đồ tính toán hồ chứa 41
Hình 3.2 Sơ đồ phân chia lưu vực sông Ba sử dụng trong mô hình MARINE 42
Hình 3.3 Sơ đồ phân chia lưu vực theo phương pháp đa giác Thiessen 43
Hình 3.4 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của lưu vực sông Ba 44
Hình 3.5 Kết quả kiểm tra bài toán mẫu cho lưu vực 1 46
Hình 3.6 Lưu vực 1 46
Hình 3.7 Kết quả kiểm tra bài toán mẫu cho lưu vực 2 47

7
Hình 3.8 Lưu vực 2 48
Hình 3.9 Kết quả kiểm tra bài toán mẫu cho lưu vực 3 49
Hình 3.10 Lưu vực 3 49
Hình 3.11 Mô hình hóa sông Ba trong Muskingum 50
Hình 3.12 Đường quá trình lưu lượng đến hồ Ayun Hạ năm 1986 51
Hình 3.13 Đường quá trình lưu lượng đến hồ sông Hinh năm 1986 52
Hình 3.14 Đường quá trình lưu lượng tại Củng Sơn năm 1986 52
Hình 3.15 Đường quá trình lưu lượng đến hồ Ayun Hạ năm 1988 53
Hình 3.16 Đường quá trình lưu lượng đến hồ sông Hinh năm 1988 53
Hình 3.17 Đường quá trình lưu lượng tại Củng Sơn năm 1988 54
Hình 3.18
Đường quá trình điều tiết hồ Ayun Hạ năm 2009 theo qui trình đơn

hồ
59
Hình 3.19
Đường quá trình điều tiết hồ sông Hinh năm 2009 theo qui trình đơn
hồ
60
Hình 3.20 Đường quá trình điều tiết hồ Ba Hạ năm 2009 theo qui trình đơn hồ 61
Hình 3.21 Đường quá trình điều tiết hồ Ayun Hạ năm 2009 theo qui trình mới 64
Hình 3.22 Đường quá trình điều tiết hồ sông Hinh năm 2009 theo qui trình mới 65
Hình 3.23
Đường quá trình điều tiết hồ Ba Hạ năm 2009 theo qui trình mới
65
Hình 3.24
Đường quá trình lưu lượng Củng Sơn năm 2009 theo qui trình đơn hồ
và liên hồ
66





MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, hàng loạt các hồ chứa thủy điện đã và đang được
xây dựng trên thượng lưu các hệ thống sông khắp mọi vùng trong cả nước. Lưu vực
sông Ba là một trong 9 lưu vực sông lớn nhất Việt Nam, có nguồn thủy năng khá

8
lớn, có nhiều vị trí thích hợp để xây dựng thủy điện vừa và lớn với công suất lắp
máy khoảng 737 MW, điện lượng hàng năm khoảng 3,22 tỷ KW.h. Trên các hệ
thống sông khác như hệ thống sông Đồng Nai, La Ngà, Vu Gia, Thu Bồn ..., ngoài

các hồ chứa đang hoạt động như Trị An, Hàm Thuận – Đa Mi, Đa Nhim, các dự án
xây dựng hàng chục các hồ chứa thuỷ điện khác như Đại Ninh, Đồng Nai 1, Đồng
Nai 2, … đã được phê duyệt và sẽ đi vào hoạt động trong thời gian gần đây.
Các hồ chứa nước nói chung thường được thiết kế để đảm nhiệm nhiều mục
tiêu khác nhau trong đó có 3 mục tiêu chính là phát điện, cấp nước và chống lũ. Tuy
nhiên, các mục tiêu này thường mâu thuẫn với nhau trong vấn đề sử dụng dung tích
nước của hồ chứa. Yêu cầu cấp nước nhiều sẽ ảnh hưởng đến sản lượng điện, dung
tích chống lũ lớn sẽ ảnh hưởng đến công suất phát điện và khả năng tích nước đầy
hồ để phục vụ cấp nước và sản xuất điện trong mùa khô. Vấn đề điều hành hiệu quả
hệ thống hồ chứa, giải quyết các mâu thuẫn kể trên là một nhu cầu mới đặt ra ở
trong nước. Mục tiêu của việc điều hành hệ thống hồ chứa là nâng cao hiệu quả
chống lũ và hiệu quả kinh tế (phát điện và cấp nước) không phải chỉ cho các hồ
riêng biệt mà cho tất cả các hồ chứa trong hệ thống.
Các hồ chứa trên hệ thống sông Ba là có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Nguyên. Hiện nay hệ thống hồ chứa này
bao gồm các hồ chứa lớn: hồ An Khê Kanak, IaYun hạ, Krô ng H’Năng, Sông Ba
Hạ, Sông Hinh. Hai hồ An Khê – Kanak và Krông H’Năng mới được đưa vào vận
hành tháng 9 năm 2010. Trước đây việc vận hành hệ thống hồ chứa trong các điều
kiện cụ thể (dựa vào dự báo KTTV) và được thực hiện theo các quy trình vận hành
của các hồ riêng biệt. Mới đây nhất, việc điều hành các hồ chứa tuân thủ theo
“Quyết định Về việc ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa các hồ: Sông Ba
Hạ, Sông Hinh, Krông H’Năng, Ayun Hạ và An Khê – Ka Nak trong mùa lũ hàng
năm” đã được Thủ tướng phê duyệt số 1757/QĐ-TTg, ngày 23 tháng 09 năm 2010.
Tuy nhiên các công cụ mô phỏng, tính toán phục vụ việc xây dựng quy trình này
chưa được công bố rộng rãi dưới dạng các ấn phẩm khoa học.

9
Việc thiết lập cơ sở khoa học, hay nói cách khác là tìm ra các bước xây dựng
quy trình điều tiết liên hồ cùng với các công cụ tính toán kèm theo một cách khoa
học là việc làm cần thiết nhằm đưa ra một quy trình điều tiết liên hồ có cơ sở khoa

học chặt chẽ, hy vọng mang lại hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội.
Do vậy, đề tài “Mô phỏng các kịch bản điều tiết hệ thống hồ chứa lưu vực
sông Ba” được hình thành từ giữa năm 2010 với mục tiêu là:
-Tìm hiểu về các nghiên cứu đã có liên quan đến xây dựng các quy trình vận
hành đơn hồ và hệ thống hồ chứa trong mùa lũ.
- Tìm hiểu, thử nghiệm khả năng một bộ mô hình mô phỏng dùng cho xây
dựng quy trình vận hành hệ thống hồ chứa phục vụ phòng chống lũ cho hạ du lưu
vực sông Ba trong mùa lũ.














CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
Theo nhận định của ủy ban Đê đập Thế giới (World Commision on Dams
2000 [1]), nhiều hệ thống đê đập lớn trên thế giới đã hoạt động không đảm bảo

10
được các lợi ích kinh tế-xã hội như mục tiêu thiết kế đề ra. Điều đó có thể do những
sơ xuất trong thiết kế, xây dựng, có thể do những nhu cầu sử dụng mới xuất hiện và
có thể do những vấn đề điều hành hệ thống hay do những thay đổi khí hậu toàn

cầu... Để phát huy tối đa lợi ích của các hồ chứa, các nghiên cứu cần tập trung vào
vấn đề nâng cao hiệu quả điều hành của các hồ chứa. Các mục tiêu kinh tế xã hội
của hệ thống hồ chứa như chống lũ, phát điện, cấp nước, cảnh quan môi trường, du
lịch,... thường là những mục tiêu trái ngược nhau về nhu cầu sử dụng lượng nước có
sẵn trong hệ thống hồ. Điều đó dẫn đến một bài toán hết sức phức tạp, các công cụ
toán học và các mô hình trên máy tính được sử dụng để nghiên cứu vấn đề đặt ra.
1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về điều tiết liên hồ phục vụ
phòng chống lũ.
1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước
Bước đầu là các phương pháp tính toán điều tiết hồ chứa, chủ yếu dựa vào
phương trình cân bằng nước. Ở Liên Xô cũ việc nghiên cứu này được nhiều nhà
khoa học quan tâm như Kritski -Menkel, Xvanhidze, Pleskov, Gugly, Potapov,
Matiski, Ratkovich. Họ đã nghiên cứu các phương pháp điều tiết cho các mục đích
khác nhau. Phương trình cân bằng nước có thể được áp dụng cho bất kỳ thời khoảng
tính toán nào.
a-. Phương pháp diễn toán hồ chứa
Việc diễn toán dòng chảy (trong đó có sóng lũ) qua một hồ chứa được gọi là
diễn toán hồ chứa. Đó là một phần quan trọng của phân tích hồ chứa mà những ứng
dụng chính của nó là: xác định mực nước lớn nhất trong thời kỳ thiết kế hồ chứa,
thiết kế các công trình xả tràn, cửa xả nước và phân tích sóng lũ vỡ đập. Một hồ
chứa có thể hoặc được kiểm soát hoặc không được kiểm soát. Hồ chứa được kiểm
soát có công trình xả tràn với các cửa cống để kiểm soát dòng chảy ra. Công trình
xả tràn của một hồ chứa không kiểm soát không có cửa cống.

11

Hình 1.1: Biểu diễn dưới dạng đồ thị của diễn toán hồ chứa
Diễn toán hồ chứa đòi hỏi phải biết mối quan hệ giữa cao độ hồ chứa, lượng
trữ và lưu lượng. Mối quan hệ này là một hàm của địa hình hồ chứa và các đặc tính
của công trình xả nước. Một vài phương pháp diễn toán sóng lũ qua hồ chứa đã

được xây dựng, dẫn ra trong bảng sau:
Phương pháp đường cong lũy tích, Phương pháp Puls,
Phương pháp Puls cải tiến, Phương pháp Wisler-Brater,
Phương pháp Goodrich, Phương pháp Steinberg,
Phương pháp hệ số.

b. Phương pháp tối ưu hoá
Kỹ thuật tối ưu hoá bằng quy hoạch tuyến tính (LP) và quy hoạch động (DP)
đã được sử dụng rộng rãi trong quy hoạch và quản lý tài nguyên nước. Loucks và
nnk (1981) đã minh họa áp dụng LP, quy hoạch phi tuyến NLP và DP cho tài
nguyên nước. Nhiều công trình nghiên cứu áp dụng kỹ thuật hệ thống cho bài toán
tài nguyên nước Yakowitz (1982), Yeh (1985), Simonovic (1992) và Wurbs (1993).
Young (1967) lần đầu tiên đề xuất sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để
xây dựng quy tắc vận hành chung từ kết quả tối ưu hoá. Phương pháp mà ông đã
dùng được gọi là “quy hoạch động (DP) Monte-Carlo”. Về cơ bản phương pháp của
ông dùng kỹ thuật Monte-Carlo tạo ra một số chuỗi dòng chảy nhân tạo. Quy trình
tối ưu thu được của mỗi chuỗi dòng chảy nhân tạo sau đó được sử dụng trong phân
tích hồi quy để cố gắng xác định nhân tố ảnh hưởng đến chiến thuật tối ưu. Các kết
Đầu vào Hệ thống Đầu ra

12
quả là một xấp xỉ tốt của quy trình tối ưu thực.
Một mô hình quy hoạch để thiết kế hệ thống kiểm soát lũ hồ chứa đa mục tiêu
đã được phát triển bởi Windsor (1975). Karamouz và Houck (1987) đã đề ra quy tắc
vận hành chung khi sử dụng quy hoạch động (DP) và hồi quy (DPR). Mô hình DPR
sử dụng hồi quy tuyến tính nhiều biến đã được Bhaskar và Whilach (1980) gợi ý.
Một phương pháp khác xác định quy trình điều hành một hệ thống nhiều hồ chứa
khác là quy hoạch động bất định (Stochastic Dynamic Programing – SDP). Phương
pháp này yêu cầu mô tả rõ xác suất của dòng chảy đến và tổn thất. Phương pháp này
được Butcher (1971), Louks và nnk (1981) và nhiều người khác sử dụng.

Mô hình tối ưu hoá thường được sử dụng trong nghiên cứu điều hành hồ chứa
sử dụng dòng chảy dự báo như đầu vào. Datta và Bunget (1984) đề xuất một quy
trình điều hành hạn ngắn cho hồ chứa đa mục tiêu từ một mô hình tối ưu hoá với
mục tiêu cực tiểu hoá tổn thất hạn ngắn. Nghiên cứu chỉ ra rằng khi có một sự đánh
đổi giữa một đơn vị lượng trữ và một đơn vị lượng xả từ các giá trị đích tương ứng
thì phép giải tối ưu hoá phụ thuộc vào dòng chảy tương lai bất định cũng như dạng
hàm tổn thất.
Áp dụng mô hình tối ưu hoá cho điều hành hồ chứa đa mục tiêu là khá khó
khăn. Sự khó khăn trong áp dụng bao gồm phát triển mô hình, đào tạo nhân lực, giải
bài toán, điều kiện thủy văn tương lai bất định, sự bất lực để xác định và lượng hóa
tất cả các mục tiêu và mối tương tác giữa nhà phân tích với người sử dụng. Một
phương pháp khác đang được sử dụng hiện nay để giải thích tính ngẫu nhiên của
đầu vào là logic mờ. Lý thuyết tập mờ đã được Zadeth (1965) giới thiệu. Jairaj và
Vedula (2000) đã áp dụng phương pháp này cho tối ưu hoá hệ thống liên hồ chứa.
c. Phương pháp mô phỏng
Vì không có khả năng để thí nghiệm với hồ chứa thực, mô hình mô phỏng toán
học được phát triển và sử dụng trong nghiên cứu. Thí nghiệm có thể thực hiện bằng
cách sử dụng các mô hình này để cung cấp những hiểu biết sâu về bài toán. Mô hình
mô phỏng kết hợp với điều hành hồ chứa bao gồm tính toán cân bằng nước của đầu
vào, đầu ra hồ chứa và biến đổi lượng trữ. Kỹ thuật mô phỏng đã cung cấp cầu nối

13
từ các công cụ giải tích trước đây cho phân tích hệ thống hồ chứa đến các tập hợp
mục đích chung phức tạp. Theo Simonovic (1992), các khái niệm về mô phỏng là
dễ hiểu và thân thiện hơn các khái niệm mô hình hoá khác.
Các mô hình mô phỏng có thể cung cấp các biểu diễn chi tiết và hiện thực hơn
về hệ thống hồ chứa và quy tắc điều hành chúng (chẳng hạn đáp ứng chi tiết của các
hồ và kênh riêng biệt hoặc hiệu quả của các hiện tượng theo thời gian khác nhau).
Thời gian yêu cầu để chuẩn bị đầu vào, chạy mô hình và các yêu cầu tính toán khác
của mô phỏng là ít hơn nhiều so với mô hình tối ưu hoá. Các kết quả mô phỏng sẽ

dễ dàng thỏa hiệp trong trường hợp đa mục tiêu. Số phần mềm máy tính đa mục tiêu
phổ biến có sẵn có thể sử dụng để phân tích mối quan hệ quy họach, thiết kế và vận
hành hồ chứa. Hầu hết các phần mềm có thể chạy trong máy vi tính cá nhân đang sử
dụng rộng rãi hiện nay. Hơn nữa, ngay sau khi số liệu yêu cầu cho phần mềm thực
hành đã được chuẩn bị, nó dễ dàng chuyển đổi cho nhau và do đó các kết quả của
các thiết kế, quyết định điều hành, thiết kế lựa chọn khác nhau có thể được đánh giá
nhanh chóng.
Có lẽ một trong số các mô hình mô phỏng hệ thống hồ chứa phổ biến rộng rãi
nhất là mô hình HEC-5, phát triển bởi Trung tâm kỹ thuật thủy văn Hoa Kỳ
(Feldman 1981, Wurbs 1996). Một trong những mô hình mô phỏng nổi tiếng khác
là mô hình Acres (Sigvaldson 1976), tổng hợp dòng chảy và điều tiết hồ chứa
(SSARR) (USACE 1987), Mô phỏng hệ thống sóng tương tác (IRIS) (Loucks và
nnk 1989). Gói phần mềm phân tích quyền lợi các hộ sử dụng nước (WRAP)
(Wurbs và nnk, 1993). Lund và Ferriera (1996) đã nghiên cứu hệ thống hồ chứa
sông Missouri và xây dựng mô hình mô phỏng trong đó nâng cấp kỹ thuật hồi quy
cổ điển và sử dụng mô hình quy hoạch động. Jain và Goel (1996) đã giới thiệu một
mô hình mô phỏng tổng quát cho điều hành cấp nước của hệ thống hồ chứa dựa trên
các đường quy tắc điều phối. Mặc dù có sẵn một số các mô hình tổng quát, vẫn cần
thiết phải phát triển các mô hình mô phỏng cho một (hệ thống) hồ chứa cụ thể vì
mỗi hệ thống hồ chứa có những đặc điểm riêng.


14
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam các hồ chứa trên các hệ thống sông với nhiều mục đích khác nhau
đã và đang được tiến hành xây dựng, như hệ thống hồ chứa trên sông Hồng, sông
Ba, sông Sê San, sông Đồng Nai v.v.. Điển hình nhất là hệ thống hồ chứa trên hệ
thống sông Hồng gồm các hồ chứa Sơn La, Hoà Bình, Tuyên Quang, Thác Bà và
tương lai có thêm hồ Lai Châu. Các hồ chứa này làm nhiệm vụ chính là cắt lũ vào
mùa lũ, sau đó là phát điện, cung cấp nước mùa cạn, ngoài ra còn phục vụ giao

thông, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản v.v.
a. Quy trình vận hành hồ chứa
Quy trình điều hành chống lũ hồ chứa Hoà Bình được xây dựng khá chi tiết và
liên tục được bổ sung hoàn chỉnh. Kinh nghiệm vận hành hồ chứa Hòa Bình để điều
tiết lũ trong các năm qua cho thấy, nó đã góp phần giữ được mực nước Hà Nội
không vượt quá 13,0m, bảo đảm an toàn cho Hà Nội. Nhiều công trình nghiên cứu
về vận hành hồ chứa điều tiết lũ đã được tiến hành như quy trình vận hành hồ chứa
Hoà Bình của Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão TW (1997), Quyết định
80/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Quy trình vận hành liên hồ
chứa thuỷ điện Hoà Bình, Tuyên Quang, Thác Bà trong mùa lũ hàng năm”, ban
hành năm 2007. Ngày 11/6/2010, có thêm quyết định “ Sửa đổi, bổ sung Quy trình
vận hành liên hồ chứa thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà trong mùa lũ
hàng năm”, ban hành kèm theo Quyết định số 80/2007/QĐ -TTg ngày 01 tháng 6
năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, số 848/QĐ -TTg. Ngoài ra còn một loạt các
nghiên cứu khác về vận hành hồ chứa Hoà Bình và hệ thống hồ chứa trên các lưu
vực của Việt Nam. Công ty tư vấn Điện I (1991) đã nghiên cứu việc kết hợp phát
điện, chống lũ hạ du và khai thác tổng hợp hồ chứa Hoà Bình. Viện Quy hoạch và
Quản lý nước (1991) cũng nghiên cứu lập quy trình vận hành hồ chứa Hoà Bình
phòng lũ và phát điện. Nguyễn Văn Tường (1996) nghiên cứu phương pháp điều
hành hồ chứa Hoà Bình chống lũ hàng năm với việc xây dựng tập hàm vào bằng
phương pháp Monte-Carlo. Trịnh Quang Hoà (1997) xây dựng công nghệ nhận
dạng lũ thượng nguồn sông Hồng phục vụ điều hành hồ chứa Hoà Bình chống lũ hạ

15
du. Viện Quy hoạch Thuỷ lợi và Công ty Tư vấn Điện 1 (2000) đã nghiên cứu hiệu
ích chống lũ và cấp nước hạ du của công trình hồ chứa Đại Thị (nay là Tuyên
Quang) trên sông Gâm. Hoàng Minh Tuyển (2002) đã phân tích đánh giá vai trò của
một số hồ chứa thượng nguồn sông Hồng cho phòng chống lũ hạ du. Lâm Hùng
Sơn (2005) nghiên cứu cơ sở điều hành hệ thống hồ chứa lưu vực sông Hồng, trong
đó chú ý đến việc phân bổ dung tích và trình tự phối hợp cắt lũ của từng hồ chứa

trong hệ thống để đảm bảo an toàn hồ chứa và hệ thống đê đồng bằng sông Hồng.
Viện khoa học Thuỷ lợi (2006) đã thực hiện dự án xây dựng quy trình vận hành liên
hồ chứa trên sông Đà và sông Lô đảm bảo an toàn chống lũ đồng bằng Bắc Bộ khi
có các hồ chứa Thác Bà, Hoà Bình, Tuyên Quang. Trần Hồng Thái (2005) và Ngô
Lê Long (2006) bước đầu áp dụng thuật tối ưu hoá trong vận hành hồ Hoà Bình
phòng chống lũ và phát điện. Nguyễn Hữu Khải và Lê thị Huệ (2007) nghiên cứu áp
dụng mô hình HEC-RESSIM cho điều tiết lũ của hệ thống hồ chứa trên lưu vực
sông Hương, cho phép xác định trình t ự và thời gian vận hành hợp lý các hồ chứa
bảo đảm kiểm soát lũ hạ lưu sông Hương (tại Kim Long và Phú ốc).
b. Hệ thống công nghệ hỗ trợ vận hành
Song song với quy trình điều hành thì công tác dự báo thuỷ văn phục vụ điều
hành cũng được coi trọng. Trịnh Quang Hoà (1997) với công nghệ nhận dạng lũ
thượng nguồn sông Hồng đã góp phần vào phòng chống lũ đồng bằng sông Hồng
rất hiệu quả. Tổng cục KTTV (1998) đã xây dựng một dự án trong dự án liên
ngành hiện đại hoá hệ thống đo đạc và dự báo thuỷ văn trên sông Đà và sông Hồng
trực tiếp phục vụ điều hành. Năm 2005 Trung tâm đã có văn bản về khả năng dự
báo thuỷ văn gửi Hội đồng điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa thuỷ điện Hoà
Bình góp phần vào quyết định ban hành “Quy trình vận hành liên hồ chứa thuỷ điện
Hoà Bình, Tuyên Quang, Thác Bà trong mùa lũ hàng năm”, ban hành năm 2007 của
Thủ tướng Chính phủ. Nguyễn Lan Châu (2005) đã nghiên cứu xây dựng công nghệ
dự báo lũ sông Đà phục vụ điều tiết hồ Hoà Bình trong công tác phòng chống lũ
bằng tích hợp các mô hình thuỷ văn thuỷ lực và điều tiết hồ chứa. Trần Tân Tiến
(2006) đã nghiên cứu liên kết mô hình RAMS dự báo mưa và mô hình sóng động

16
học một chiều dự báo lũ khu vực miền Trung. Vũ Minh Cát (2007) đã nghiên cứu
xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn kết nối với công nghệ điều hành hệ thống
phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng-Thái Bình. Nguyễn Văn Hạnh (2007) đã
xây dựng hệ thống thông tin phục vụ vận hành hồ chứa đa mục tiêu Tuyền Lâm-Đà
Lạt-Lâm Đồng.

Một Ban chỉ đạo vận hành các hồ chứa của hệ thống sông Hồng đã được thành
lập trong đó phối hợp các hoạt động quan trắc, thông tin, dự báo, vận hành, ra quyết
định để góp phần đảm bảo an toàn chống lũ cho đồng bằng sông Hồng - sông Thái
Bình, qua mấy năm hoạt động đã cho những kết quả và những kinh nghiệm quý giá.
Các nghiên cứu về mặt quy hoạch hệ thống hồ chứa lợi dụng tổng hợp cũng đã có
nhiều tiến triển, nhằm đưa ra một mạng lưới và quy mô hồ chứa hợp lý, phát huy tối
đa khả năng của nguồn nước trên mỗi lưu vực.
1.2 Một số mô hình mô phỏng điều tiết hồ chứa đã và đang được nghiên cứu
phát triển và ứng dụng trong thực tế.
Nhiều phần mềm vận hành tối ưu hệ thống hồ chứa đã được xây dựng, tuy
nhiên khả năng giải quyết các bài toán thực tế vẫn còn hạn chế. Các phần mềm tối
ưu hiện nay nói chung vẫn chỉ đưa ra lời giải cho những điều kiện đã biết mà không
đưa ra được các nguyên tắc vận hành hữu ích. Phần lớn các phần mềm vận hành hồ
chứa được kết nối với mô hình diễn toán lũ dựa trên mô hình Muskingum hay sóng
động học như các phần mềm thương mại MODSIM (Labadie et al. 2000),
RiverWare (Zagona et al. 1998, Biddle 2001), CalSIM (Munevar & Chung 1999).
Điều này rất hạn chế cho việc điều hành chống lũ và không áp dụng được cho lưu
vực có ảnh hưởng của thủy triều hay nước vật. Các nghiên cứu mới nhất gần đây về
điều hành chống lũ cũng chỉ được áp dụng cho hệ thống một hồ Hsu & Wei (2007),
Madsen et al. (2007).
1.3 Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội của lưu vực sông Ba
1.3.1 Vị trí địa lý và mạng lưới sông suối
Lưu vực sông Ba là một trong 9 lưu vực sông lớn ở Việt Nam, thuộc địa phận
của 4 tỉnh: Gia Lai, Đăk Lăk, Phú Yên và một phần nhỏ thuộc Kon Tum. Phạm vi

17
lưu vực nằm trong khoảng 12
0
35’ - 14
0

38’ vĩ độ Bắc, 180
0
00’ - 190
0
55’ kinh độ
Đông với diện tích lưu vực là 13.900 km
2
.
Phía Bắc giáp thượng nguồn sông Trà Khúc, Bắc và Tây Bắc giáp sông Sê
San, Tây và Tây Nam giáp sông Srepok. Phía Nam giáp sông Bàn Thạch. Phía
Đông là dải Trường Sơn Đông ngăn cách với các lưu vực sông Kone, sông Kỳ Lộ.
Sông Ba đổ ra biển Đông ở Đồng Bằng Tuy Hoà tỉnh Phú Yên.

Hình 1.2: Sơ đồ vị trí địa lý lưu vực sông Ba

18
Hệ thống sông Ba có mật độ lưới sông là 0,22 km/km
2
; sông chính sông Ba có
chiều dài là 372 km. Sông Ba thuộc loại sông kém phát triển so với các sông khác
vùng lân cận . Trong đó, ba sông nhánh lớn nhất là Iayun , Krông H’Năng và sô ng
Hinh đều nằm bên phía hữu ngạn:
a. Sông Iayun
Iayun là một sông nhánh lớn nhất của sông Ba có diện tích lưu vực là 2.950
km
2
và chiều dài sông là 175 km. Sông bắt nguồn từ vùng núi cao từ 1500 đến 1700
m, chảy theo hướng Bắc -Nam đến Chư Sê và sau đó chuyển hướng Tây Bắc- Đông
Nam đến Cheo Reo thì nhập vào bờ phải sông Ba. Sông IaYun có lượng mưa năm
khoảng 1.600 mm, mô duyn dòng chảy trung bình nhiều năm 18 l/s km

2
và chiếm
khoảng 17,5% tổng lượng nước đến của lưu vực sông Ba.
b. Sông Krông Hnăng
Krông H’Năng là sông nhánh lớn thứ hai của sông Ba có diện tích lưu vực là
1.840 km
2
và chiều dài sông là 130 km. Sông Krông H’Năng bắt nguồn ở vùng núi
cao trên 1000 m thuộc huyện Kr ông H’Năng của tỉnh Dak Lak. Do địa hình phức
tạp nên hướng chảy của sông này gần như hình vòng cung, đoạn đầu theo hướng
Bắc- Nam, sau đó chuyển sang hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi lại chảy ngược lên
gần như hướng Nam - Bắc để nhập vào sông Ba. Lượng nước của sông nhánh
Krông H’Năng đổ vào sông Ba chiếm khoảng 12,5% tổng lượng nước của toàn lưu
vực sông Ba.
c. Sông Hinh
Với diện tích lưu vực là 1.040 km
2
và chiều dài sông là 88 km, sông Hinh là
sông nhánh lớn thứ 3 của sông Ba. Sông Hinh bắt nguồn từ đỉnh núi Chư Hmú cao
2.051m chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đến gần thị trấn Sơn Hoà thì nhập
vào bờ phải sông Ba. Do có địa hình núi cao chắn gió nên sông Hinh có lượng mưa
tương đối lớn hơn các nhánh sông khác với lượng mưa năm trung bình khoảng
2.600 mm và mô đun dòng chảy trung bình nhiều năm là khoảng 53 l/s km
2
. Lượng
nước của sông Hinh chiếm khoảng 17,4% tổng lượng nước của toàn lưu vực sông
Ba.

19
1.3.2 Mạng lưới trạm đo khí tượng thuỷ văn

Việc nghiên cứu khí hậu lưu vực sông Ba được bắt đầu đo mưa tại trạm Cheo
Reo từ năm 1931, trước những năm 60 việc đo đạc không có hệ thống và bị gián
đoạn nhiều năm.
Tại trạm Pleiku, việc đo mưa đã được tiến hành từ năm 1933, các yếu tố nhiệt
độ, độ ẩm không khí, bốc hơi bắt đầu quan trắc từ năm 1939 nhưng chỉ kéo dài
được 3-5 năm, tiếp đó là gián đoạn, phải đến năm 1959 mới được quan trắc trở lại.
Các điểm đo mưa trên lưu vực có tài liệu quan trắc chủ yếu từ năm 1977 cho
đến nay.
Những đo đạc thủy văn đầu tiên trên lưu vực sông Ba được tiến hành bằng
việc quan trắc mực nước tại đập Đồng Cam trước những năm 1940, nhưng việc
quan trắc mực nước giai đoạn này có nhiều gián đoạn và không có hệ thống. Từ
năm 1967 trở về sau này, tại trạm thủy văn An Khê việc quan trắc các yếu tố mực
nước, lưu lượng mới tiến hành có hệ thống. Tuy việc đo đạc thủy văn tại đây có bị
gián đoạn nhưng nhìn chung chuỗi tài liệu đo đạc tại trạm thủy văn An Khê từ năm
1967 đến nay là đáng tin cậy.
Bảng 1.1 : Các trạm khí tượng trong và lân cận lưu vực sông Ba

TT

Tên
trạm
Kinh vĩ độ Thời đoạn và các yếu tố quan trắc
Kinh độ Vĩ độ Mưa
T
0
KK
Độ ẩm
KK
Bốc hơi Gió
1 An Khê

108
0
38’ 13
0
57’
77-nay 8-82,
88-00
7-82,
92-00
78-nay 88 - nay
2 Cheo
Reo
(Ayun
Pa)
108
0
26’ 18
0
25’
1-42, 64-
74, 77-nay
8-82,
91-00
91-nay 61-74,
78-nay

3 Buôn Hồ
108
0
16’ 12

0
54’
91-nay 91-nay 91-nay 91-nay
4 Sơn Hòa
108
0
59’ 12
0
03’
78-nay 77-85,
90-nay
77-85,
91-nay
77-nay 76-82;
88-nay

20

TT

Tên
trạm
Kinh vĩ độ Thời đoạn và các yếu tố quan trắc
Kinh độ Vĩ độ Mưa
T
0
KK
Độ ẩm
KK
Bốc hơi Gió

5 M’Đrak
108
0
47’ 12
0
42’
77-82 93-
nay
7-82,
93-00
7-82,
93-00
93-nay
6 Kon
Tum
108
0
01’ 14
0
30’
7-20, 31-
41, 61-68,
72, 73, 76-
nay
61-70,
76-nay
61-68,
77-nay
61-68,
70, 77-

nay
61-70
76-nay
7 Plêiku
108
0
00’ 13
0
59’
3-44, 59-
74, 76-nay
39-42,
59-71,
76-nay
9-42,
59-71,
76-nay
39-44,
59-nay
40-44,
58-71,
46-nay
8 Tuy Hòa
109
0
17’ 13
0
05’
57-74, 76-
nay

77-nay 6-90,
93-00
56-86,
88-nay
76-82,
88-nay

Bảng 1.2: Các trạm đo mưa trong và lân cận lưu vực sông Ba
TT Tên trạm
Kinh vĩ độ
Thời gian quan trắc
Kinh độ Vĩ độ
1 An Hòa
108
0
55’ 14
0
35’
64-68, 81-nay
2 Sơn Thành
109
0
01’ 12
0
56’
77-93, 94-nay
3 Mang Yang
108
0
00’ 13

0
58’
84-nay
4 Thuần Mẫn
108
0
01’ 13
0
14’
79-87
5 Đá Bàn
109
0
06’ 12
0
37’
77-84, 87, 90, 94-nay
6 Nghĩa Thành
108
0
47’ 13
0
05’
92-93
7 Sông Cầu
109
0
04’ 13
0
27’

76-90, 92-nay
8 Chư Sê
108
0
04’ 13
0
42’
78-nay

21

Trạm thủy văn Củng Sơn bắt đầu đo đạc lưu lượng, mực nước, bùn cát từ năm
1977.

Hình 1.3. Mạng lưới trạm KTTV lưu vực sông Ba

22
1.3.3 Đặc điểm khí hậu
Lưu vực sông Ba đại bộ phận nằm ở phía Tây dải Trường Sơn, chỉ có phần
nhỏ ở hạ lưu nằm phía sườn Đông Trường Sơn. Do tác dụng của dãy Trường Sơn
mà lưu vực sông Ba chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai kiểu khí hậu gió mùa Đông
Trường Sơn và Tây Trường Sơn mang lại khá rõ rệt.
Khí hậu Tây Trường Sơn
Đặc điểm của kiểu khí hậu này là do gió mùa Tây Nam thổi qua vịnh Ben Gan
mang theo hơi ẩm vào hàng năm từ tháng V đến tháng X tạo nên các trận mưa
giông với một lượng mưa khá phong phú, tạo cho hầu hết lưu vực một mùa mưa ẩm
dịu mát. Từ tháng XI đến tháng VI năm sau là một mùa khô ít mưa, gây tình trạng
thiếu nước nghiêm trọng.
Khí hậu Đông Trường Sơn
Đặc điểm của kiểu khí hậu này là sự tác động mạnh mẽ của các nhiễu động

thời tiết từ biển Đông vào và kết hợp với gió mùa Đông Bắc. Hàng năm từ tháng IX
đến tháng XII các cơn bão muộn từ biển Đông đổ bộ vào đất liền, gặp dãy Trường
Sơn bão bị suy yếu tạo thành vùng áp thấp nhiệt đới kết hợp với gió mùa Đông Bắc
gây mưa lớn ở phần thượng nguồn trên dòng chính sông Ba và ảnh hưởng khá mạnh
mẽ cho vùng hạ du sông Ba, trên lưu vực sông Hinh và một phần sông KRông
H’Năng. Phần lưu vực từ thượng nguồn đến An Khê và hạ lưu Sơn Hoà, sông Hinh
trở xuống đến cửa ra. Về mùa Đông do gió mùa Đông Bắc kết hợp bão muộn từ
biển Đông hoạt động mang hơi ẩm từ biển Đông vào nên ở hai phần lưu vực kể trên
vẫn có mưa nhưng với lượng mưa không nhiều.
Chế độ mưa
Do đặc điểm địa hình và điều kiện khí hậu mà chế độ mưa của lưu vực sông
Ba khá phức tạp so với các lưu vực khác lân cận. Khi vùng thượng và trung du lưu
vực đã là mùa mưa rồi nhưng vùng hạ du lại đang còn ở thời kỳ khô hạn, khi
thượng và trung du đã kết thúc mùa mưa nhưng vùng hạ du vẫn trong thời kỳ mưa
lớn. Mùa mưa ở vùng thượng và trung du thường đến sớm từ tháng V và kết thúc
vào tháng X hoặc tháng XI, kéo dài trong 6-7 tháng. Trong khi đó mùa mưa vùng hạ

23
du đến muộn và kết thúc sớm, chỉ kéo dài 3-4 tháng khoảng tháng IX đến tháng XII.
Phân bố mưa theo mùa
Sự phân bố mùa mưa trong năm trên lưu vực sông Ba chịu sự chi phối mạnh
mẽ của khí hậu Tây và Đông Trường Sơn và đặc điểm địa hình của lưu vực.
Khu vực Tây Trường Sơn
Mùa mưa kéo dài 6 tháng từ tháng V đến tháng X trùng với mùa gió mùa Tây
Nam hoạt động. Lượng mưa cả mùa xấp xỉ 90% lượng mưa năm. Tháng VIII và
tháng IX thường có lượng mưa tháng lớn nhất và đạt trên 200 mm/tháng ở nơi ít
mưa, từ 350 đến 470 mm/tháng ở nơi nhiều mưa. Giữa mùa từ tháng I đến tháng III
có nhiều năm không mưa và nếu có thì lượng mưa cũng không đáng kể (chỉ 2-10
mm/tháng) và cũng chỉ mưa trong một vài ngày. Đại diện cho khu vực này là trạm
Pleiku, Pơ Mơ Rê, Chư Sê,…

Khu vực Đông Trường Sơn
Mùa mưa ngắn chỉ 3 -4 tháng, từ tháng IX đến tháng XI hoặc XII hàng năm
cùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc và bão muộn hoạt động trên biển Đông. Lượng
mưa trong mùa mưa ở đây chiếm 65 – 75% lượng mưa cả năm. Mưa lớn thường
xảy ra vào tháng X và tháng XI, tháng có lượng mưa lớn có thể đạt trên 600
mm/tháng có năm có trạm đạt tới 1920 mm/(XI-81) ở Sông Hinh, 1310 mm/(XI-90)
ở Tuy Hoà. Số ngày mưa trong tháng từ 20 – 25 ngày/tháng. Mùa ít mưa kéo dài 8-
9 tháng (từ tháng I đến tháng VIII hoặc IX) lượng mưa trong mùa ít mưa chiếm 30 –
35% lượng mưa cả năm. Tháng II đến tháng III thường có lượng mưa nhỏ nhất và
chỉ đạt 20 - 30 mm/tháng đối với vùng cao, dưới 20 mm/tháng đối với vùng thấp.
Khu vực này thường có đỉnh mưa từ tháng V đến tháng VI hàng năm. Tháng VII và
tháng VIII lượng mưa lại giảm đi. Đại diện cho vùng này là các trạm Sông Hinh,
Sơn Thành, Tuy Hoà.
Khu vực trung gian
Khu vực này chịu tác động qua lại của khí hậu Tây và Đông Trường Sơn. Mùa
mưa ở đây kéo dài 7 tháng từ tháng V đến tháng XI. Lượng mưa dùng hàng năm
chiếm khoảng 85 – 93 % lượng mưa năm. Số ngày mưa trong mùa mưa khoảng 15

24
– 20 ngày mưa trong một tháng. Tháng IX và tháng X thường có lượng mưa tháng
lớn nhất đạt khoảng 250 – 350 mm/tháng xấp xỉ 20% lượng mưa năm. Mùa ít mưa
kéo dài 5 tháng từ tháng XII đến tháng IV năm sau, trong đó tháng I và tháng II là
những tháng ít mưa nhất, lượng mưa trong 2 tháng này có nhiều năm bằng 0 và nếu
có mưa thì cũng chỉ đạt 2 – 10 mm/tháng và cũng chỉ mưa trong vài ngày.
Nếu phân theo khu vực thì khu Đông Trường Sơn mưa lớn nhất (Sông Hinh,
Sơn Thành), sau đó là đến Tây Trường Sơn (Pơ Mơ Rê, Chư Sê), có lượng mưa nhỏ
nhất là khu trung gian (An Khê, Cheo Reo, Phú Túc, Krông H’Năng).
1.3.4 Đặc điểm thủy văn
a Chế độ dòng chảy
∗ Phân phối dòng chảy trong năm:

Trên lưu vực sông Ba, sự biến động về mùa ở đây khá phức tạp. Ngay tại vị trí
một trạm đo có năm mùa lũ đến sớm hơn hoặc muộn hơn hai đến ba tháng tạo nên
mùa lũ hàng năm dài ngắn khác nhau, có năm chỉ có 2 -3 tháng mùa lũ, song cũng
có năm tới 5 - 6 tháng mùa lũ, điều này thể hiện tính chất mùa không ổn định trên
lưu vực. Với những năm gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh ngay từ đầu mùa mưa
(tháng V hàng năm) mùa lũ trên lưu vực đến sớm. Đến cuối mùa nếu gặp mưa do
bão, áp thấp nhiệt đới từ biển Đông vào thì mùa lũ sẽ kéo dài thêm.
Trên lưu vực sông Ba chỉ có sông Hinh và các nhánh sông suối nhỏ khác vùng
hạ lưu sông Ba chịu tác động đơn thuần của khí hậu Đông Trường Sơn nên có mùa
dòng chảy ổn định hơn.
Mùa lũ ở các trạm đo thuỷ văn trong lưu vực sông Ba như sau:
An Khê 4 tháng (IX – XII)
Củng Sơn 4 tháng (IX – XII)
KRông HNăng 4 tháng (IX – XII)
Phân phối dòng chảy các khu vực
- Khu vực Tây Trường Sơn: Mùa mưa ở đây dài 6 tháng (V – X).
- Khu vực phía Bắc: Bao gồm toàn bộ nhánh sông Iayun, mùa lũ kéo dài 5
tháng, từ tháng VII đến tháng XI.

25
- Khu vực phía Nam: Bao gồm thượng nguồn của sông Krông H’năng. Mùa lũ
hàng năm khoảng 5 tháng, từ tháng VIII đến tháng XII.
- Khu vực Đông Trường Sơn: gồm toàn bộ phần hạ lưu sông Ba. Mùa mưa ở
đây muộn và ngắn từ 3 đến 4 tháng từ tháng IX đến tháng XII.
Mùa lũ ngắn chỉ 3 tháng, từ tháng X đến tháng XII (chậm hơn mùa mưa 1
tháng) thành phần lượng nước mùa lũ chiếm 65 - 75 % lượng nước cả năm. Tháng
có lượng nước nhiều nhất là tháng XI thành phần dòng chảy có thể đạt 32 - 36%
lượng nước cả năm.
- Khu vực trung gian: bao gồm phần lớn lưu vực sông Ba, dọc theo thung lũng
sông Ba, kéo dài đến phần thượng nguồn sông Krông Ana, toàn bộ vùng này thể

hiện tính trung gian của 2 khu vực Tây và Đông Trường Sơn. Mùa lũ khu vực này
kéo dài 4 tháng từ tháng IX đến tháng XII chậm hơn so với mùa mưa 4 tháng. Do
đặc điểm địa hình bị ngăn cách bởi các dãy núi cao nên lượng mưa trong khu vực
không lớn, cộng với nắng nhiều, nhiệt độ cao, đất đai tơi xốp nên tổn thất qua bốc
hơi và thấm rất lớn. Vì vậy mùa lũ ở đây chậm nhiều so với mùa mưa và mùa lũ ở
các khu vực khác.
Thành phần lượng nước mùa lũ chiếm 70 - 75% lượng nước cả năm. Tháng có
lượng nước lớn nhất là tháng XI, lượng nước chiếm 22 - 27% lượng nước cả năm.
b. Mưa, lũ
Đặc điểm mưa sinh lũ
Các đặc trưng của mưa sinh lũ như cường độ mưa, tâm mưa, phân bố mưa là
các yếu tố quyết định đến độ lớn nhỏ của dòng chảy lũ. Mưa sinh lũ trên lưu vực
sông Ba chủ yếu do các nguyên nhân sau:
 Mưa dông do gió mùa mùa hạ hướng Tây Nam k ết hợp với dải hội tụ
nhiệt đới.
 Do bão từ biển Đông vào đất liền, gặp dải Trường Sơn tạo thành vùng áp
thấp nhiệt đới.
Sự kết hợp của hai yếu tố trên thường xảy ra vào cuối mùa mưa Tây Trường
Sơn, vào cuối tháng X hoặc tháng XI hàng năm. Khả năng của mưa sinh lũ lớn

×