Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Ngưu bàng tử - Thuốc thông tiểu, trị cúm pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (106.54 KB, 5 trang )

Ngưu bàng tử - Thuốc thông
tiểu, trị cúm
Ngưu bàng tử là quả chín của cây
ngưu bàng (Arctium Lappa L.)
thuộc họ cúc (Compositiae). Là
loại cây có nguồn gốc từ Trung
Quốc được di thực sang nước ta.
Ở nước ta cây ngưu bàng mọc
hoang tại Bát Xát, Lào Cai. Đây
là cây thảo lớn, thân thẳng, cao
tới 1-2m, sống 2 năm, lá hình trái xoan, mọc thành hình hoa
thị ở gốc, so le ở trên thân, có phiến lá to rộng, hình tim, có
đường kính chừng 40 - 50cm, mặt dưới lá có nhiều lông
trắng, cuống lá dài; cụm hoa hình đầu và mọc ở đầu cành,
đường kính 2-4cm, hoa có màu đỏ hay tím nhạt, nở vào
tháng 6 - 7 hàng năm, quả bế, màu xám nâu, hơi cong. Cây
cho thuốc là ngưu bàng tử (quả ngưu bàng) hay ngưu bàng
căn (rễ ngưu bàng) phơi hay sấy khô. Lá cây ngưu bàng
non còn gọi là rau cẩm bình nấu canh ăn rất tốt.

Ngưu bàng tử (quả
chín của cây ngưu
bàng).
Dược liệu ngưu bàng tử (Fructus Arctii Lappae), còn gọi là
đại đao tử, hắc phong tử, á thực, thử niệm tử.
Theo Đông y, ngưu bàng tử có vị cay đắng, tính hàn, quy
vào các kinh phế và vị; tác dụng trừ phong nhiệt, thanh
nhiệt giải độc, thông phổi, làm mọc ban chẩn, tiêu thũng,
sát khuẩn Còn ngưu bàng căn có vị đắng cay, tính hàn,
tác dụng lợi tiểu, lợi mật, làm ra mồ hôi, nhuận tràng, hạ
đường huyết, có tác dụng trong một số bệnh ngoài da.


Tác dụng dược lý là giải cảm sốt (sơ tán phong nhiệt), lợi
tiểu, hạ sốt, kháng khuẩn thể hiện rõ đối với nước sắc của
thuốc đối với phế cầu khuẩn, chống giang mai. Ngoài ra
thuốc còn tác dụng chống nọc độc, giải độc, thúc sởi mọc,
theo dược lý cổ điển, thuốc còn có tác dụng lợi yết tán kết.
Liều trung bình cho thuốc dạng sắc là 4 - 12g.
Trong Tây y còn sử dụng rễ cây ngưu bàng làm thuốc
thông tiểu ra mồ hôi, lọc máu, chữa tê thấp, sưng đau
xương khớp, hắc lào, mụn trứng cá, lở loét, sưng viêm vú,
viêm tai, viêm phổi, thúc mụn nhọt mau vỡ mủ. Đặc biệt
còn sử dụng cao rễ ngưu bàng trị bệnh tiểu đường vì có tác
dụng làm hạ glucoza huyết hoặc trị mụn nhọt Ở Đức
người ta cũng sử dụng rễ ngưu bàng trị nhiều chứng như rối
loạn tiêu hóa, đau dạ dày, ruột, gút, thấp khớp hoặc làm ra
mồ hôi, lợi tiểu, lọc máu; vừa uống vừa bôi để trị ngứa, vảy
nến, chàm, nhiễm khuẩn da
Nhờ vậy mà thuốc được sử dụng để trị chứng ngoại cảm
phong nhiệt như sốt, ho, đờm vàng (trường hợp viêm
amidan, viêm họng, viêm đường hô hấp cấp).
Sử dụng phương Ngân kiều tán (ôn bệnh điều biện) gồm:
kim ngân hoa, liên kiều, ngưu bàng tử, đạm đậu xị, mỗi vị
từ 8 - 12g, cát cánh, trúc diệp mỗi thứ từ 6 - 12g, kinh giới
tuệ 4 - 6g, cam thảo 2 - 4g, sắc uống từ 1-2 thang trong
ngày.
Hoặc dùng một trong các phương đơn giản như:
Ngưu bàng tử 12g, kim ngân hoa 12g, liên kiều 8g, kinh
giới 8g, bạc hà 8g, gia cam thảo 2 - 4g. Sắc uống ngày 1
thang.
Ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, thuyền thoái 2 - 4g, sắc uống
ngày 1 thang.

Trị cảm cúm: Ngưu bàng tử 24g, cát cánh 24g, bạc hà 24g,
kim ngân hoa 40g, liên kiều 40g, cam thảo 20g, đạm đậu xị
20g, hoa kinh giới 16g, lá tre 4g. Tất cả tán bột. Lấy 24g
mỗi lần cho hãm với nước sôi uống, ngày uống 3 - 4 lần
(tùy bệnh nhẹ).
Trị sởi ở trẻ em: Chậm mọc mề đay dùng phương Ngân
kiều tán hoặc sử dụng một trong các phương sau.
- Kim ngân hoa 12g, ngưu bàng tử 12g, thăng ma 8g, cát
căn 12g, cam thảo 4g, kinh giới tuệ 4g, sắc uống.
- Ngưu bàng tử 12g, kinh giới 8g, bạc hà 4g, phòng phong
4g, cam thảo 3g, sắc uống.
Trị phù do dị ứng hoặc viêm cầu thận cấp.
Ngưu bàng tử (nửa sao, nửa để sống), bèo cái sao khô, cả
hai vị lượng như nhau. Tán nhỏ trộn đều, mỗi lần uống 5g,
chiêu với nước nóng, ngày uống 3 lần. Phương này có thể
trị cả viêm họng sưng đau.
Trị mụn nhọt: Dùng cao rễ ngưu bàng hoặc bột rễ ngưu
bàng mỗi ngày uống 0,6g cao thuốc hoặc bột thuốc trong 3
ngày liền.
Phòng trị một số bệnh ung thư: Dùng canh dưỡng sinh gồm
ngưu bàng căn, nấm hương, cà rốt, nấu thành canh ăn hằng
ngày.
Trị rắn cắn, côn trùng đốt: Lấy lá thân rễ giã nát đắp vào
nơi rắn cắn hoặc ong, sâu bọ, muỗi, rết cắn. Có lẽ do tác
dụng của men oxydaza có nhiều trong lá và thân cây ngưu
bàng.
Lưu ý: Không sử dụng đối với người bị tiêu chảy do tỳ hư

×