Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

việc áp dụng một số thủ tục đầu tư đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên thực tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (194.1 KB, 21 trang )

PHẦN I : GIỚI THIỆU VỀ CHUYÊN ĐỀ
Sau một năm kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về
kinh tế xã hội, môi trường kinh doanh thuận lợi mở ra nhiều cơ hội đầu tư cho
các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, hệ thống chính sách pháp luật đang
dần hoàn thiện và minh bạch đã dẫn đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài chảy
mạnh vào nước ta. Theo Cục Đầu tư Nước ngoài, quý I/2008 đã có 196 dự án có
vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được cấp mới và tăng vốn đầu tư với tổng vốn
đăng ký lên 5,436 tỷ USD, tăng 31% về vốn so với cùng kỳ năm trước. Để quản
lý, giám sát việc sử dụng nguồn vốn vào các dự án, chúng ta đã có một hệ thống
pháp luật tương đối đầy đủ với luật chuyên ngành điều chỉnh về vấn đề này là
Luật đầu tư 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan.
Trong quá trình thực tập em đã có cơ hội biết thêm về việc áp dụng một
số thủ tục đầu tư đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên thực tế. Sau đây là
một số vấn đề mà em đã tìm hiểu được trong quá trình thực tập tại Sở Kế hoạch
và Đầu tư Hà Nội
Chuyên đề của em bao gồm 3 phần với những nội dung sau:
- Quá trình tìm hiểu thu thập thông tin nơi thực tập
- Kết quả xử lý thông tin đã thu thập được
- Một vài nhận xét của cá nhân em
Qua đây, xin cho em được gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Kế hoạch và
Đầu tư Hà Nội. Trong thời gian quý Sở đã tạo điều kiện cho em được tìm hiểu
những vấn đề có liên quan đến chuyên đề thực tập và có cơ hội áp dụng những
kiến thực đã học vào thực tế. Và sau nữa em xin cảm ơn các thầy cô giáo đã tận
tình hướng dẫn em trong thời gian vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn !
1
PHẦN II : QUÁ TRÌNH TÌM HIỂU THU THẬP THÔNG TIN
Trong khoảng thời gian 3 tháng thực tập (7/1/2008 đến 18/4/2008) tại Bộ
phận một cửa - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, với sự giúp đỡ chỉ dẫn và tạo
điều kiện của cán bộ chuyên môn, sinh viên thực tập chúng em đã thu thập


thông tin phục vụ cho chuyên đề này một cách tương đối dễ dàng. Những thông
tin xoay quanh vấn đề: những quy định của pháp luật đã được áp dụng như thế
nào trong thực tế ? tình hình xin cấp chứng nhận đầu tư tại Hà Nội ? ý kiến của
các doanh nghiệp về thủ tục xin cấp chứng nhận đầu tư như thế nào ?. Phạm vi
phần hai của chuyên đề sẽ đưa ra cái nhìn tổng thế.
Mục 1: Những thông tin đã thu thập được (bảng tóm lược )
Thời gian thu thập Phương pháp thu thập Nguồn thu thập Thông tin thu thập
15/1- 20/2 Phân tích, so sánh,
tổng hợp
- Luật đầu tư 2005
- Luậtdoanh nghiệp
2005
- NĐ 08/2006//NĐ-
CP (22/9/06)
- GT Luật đầu tư &
Luật thương mại
- Trang web của Sở
KH& ĐT
- Hồ sơ Doanh
nghiệp nộp
- Quy định của
pháp luật và thực
tiễn áp dụng
- Những điểm
mới của Luật đầu
tư 2005
1/3 Phỏng vấn trực tiếp Tô Đức Giang
Chuyên viên bộ phận
1 cửa
- Tình hình triển

khai đề án “Một
cửa liên thông ”
- Số lượng cán bộ
tiếp nhận, thụ lý
hồ sơ và trả kết
quả đối với dự án
2
có vốn đầu tư
nước ngoài
5/3-25/3 Thu thập và tìm kiếm
thông tin trên mạng
internet
www.hapi.gov.vn
www.business.gov.v
n
www.vnexpress.com

- Hiệu quả thu
hút vốn đầu tư
nước ngoài của
Việt Nam
- Môi trường đầu
tư ở Việt Nam và
thủ tục cải cách
hành chính
- Thu hút FDI vào
Hà Nội, Thực tiễn
20 năm qua
2/4-7/4 Thu thập và tổng hợp
thông tin

Hồ sơ lưu trữ tại Bộ
phần 1 cửa
- Kết quả giải
quyết thủ tục HC
2006
- Báo cáo quý I
2008
- Tình hình tiếp
nhận và giải
quyết thủ tục HC
năm 2006-2007
Mục 2 : Những thông tin cụ thể
1. Quy định của Pháp luật và thực tiễn áp dụng
Theo quy định của Luật đầu tư 2005 và NĐ số 108 thì đối với dự án có
vốn đầu tư nước ngoài thì nhà đầu tư phải làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm
tra đầu tư cụ thể:
3
- Dự án có quy mô vốn đầu tư dưới 300 tỷ đồng Việt Nam, không thuộc
danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu
theo mẫu đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh
- Dự án có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên và không
thuộc danh mục dự án đầu tư có điều kiện hoặc dự án thuộc danh mục đầu tư có
điều kiện thì nhà đầu tư làm hồ sơ thẩm tra trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền
Từ những quy định của Pháp luật, Sở KH&ĐT đã cụ thể hóa thành 8 thủ
tục :
+ Cấp GCNĐT Dự án < 300 tỷ & không điều kiện + thành lập tổ chức
+ Cấp GCNĐT dự án <300 tỷ & không điều kiện + không thành lập tổ
chức
+ Thẩm tra GCNĐT <300 tỷ có điều kiện hoặc >300 tỷ + thành lập tổ

chức
+ Thẩm tra cấp GCNĐT < 300 tỷ có điều kiện hoặc >300 tỷ + không
thành lập tổ chức
+ Thẩm tra cấp GCNĐT thuộc quyền chấp thuận của thủ tướng + thành
lập tổ chức
+ Thẩm tra cấp GCNĐT thuộc quyền chấp thuận của Thủ tướng + không
thành lập tổ chức
+ Đăng ký cấp GCNĐT gắn với thành lập chi nhánh của Doanh nghiệp
+ Thẩm tra cấp GCNĐT gắn với thành lập chi nhánh của Doanh nghiệp
Sau đây em xin lấy ví dụ cụ thể thủ tục xin cấp GCNĐT đối với Nhà đầu
tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam có dự án đầu tư với quy mô vốn đầu
tư dưới 300 tỷ đồng Việt Nam; không thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều
kiện.
Hồ sơ bao gồm:
1 - Văn bản đăng ký/đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư bao gồm: nội
dung đăng ký thành lập Doanh nghiệp (tên DN, địa chỉ trụ sở chính, chi
4
nhánh /VPDD (nếu có), loại hình doanh nghiệp đăng ký thành lập, người đại
diện theo PL của DN, ngành nghề kinh doanh, vốn của DN, vốn pháp định ) và
nội dung dự án đầu tư (Tên dự án, địa điểm thực hiện dự án, diện tích đất sử
dụng, mục tiêu và quy mô, vốn đầu tư thực hiện dự án trong đó bao gồm vốn
góp để thực hiện dự án, thời gian hoạt động, tiến độ thực hiện dự án, kiến nghị
được hưởng ưu đãi đầu tư)
2 - Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư (do nhà đầu tư lập và chịu
trách nhiệm).
3 - Bản giải trình về Dự án đầu tư
4 - Hồ sơ đăng ký kinh doanh tương ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp -
Nhà đầu tư chọn một trong các loại hình dưới đây:
– Thành lập Công ty TNHH 1 thành viên 100% vốn nước ngoài
– Thành lập Công ty TNHH 2 thành viên trở lên -– Thành lập Công ty Cổ

phần
– Thành lập Công ty Hợp danh
– Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Ví dụ đối với loại hình Cty TNHH 1 thành viên th ì hồ sơ đăng ký kinh
doanh bao gồm những nội dung như sau :
- Dự thảo Điều lệ Công ty (được chủ sở hữu Công ty và người đại diện
theo pháp luật của Công ty ký từng trang)
- Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư (chủ sở hữu):
+ Đối với nhà đầu tư là tổ chức: Bản sao hợp lệ (bản sao có công chứng
hoặc chứng thực của cơ quan cấp-không quá 3 tháng trước ngày nộp hồ sơ) của
một trong các loại giấy tờ: Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận Đăng ký kinh
doanh hoặc Giấy tờ tương đương khác, Điều lệ hoặc tài liệu tương đương khác.
+ Đối với nhà đầu tư là cá nhân: Bản sao hợp lệ (bản sao có công chứng
hoặc chứng thực của cơ quan cấp-không quá 3 tháng trước ngày nộp hồ sơ) của
một trong các giấy tờ: Hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp còn
hiệu lực.
5
- Văn bản uỷ quyền của Chủ sở hữu cho người được uỷ quyền đối với
trường hợp chủ sở hữu công ty là tổ chức.
- Danh sách người đại diện theo uỷ quyền đối với Công ty TNHH 1
Thành viên được tổ chức và quản lý theo quy định tại khoản 3 Điều 67 của Luật
Doanh nghiệp. Kèm theo danh sách này phải có Bản sao hợp lệ (bản sao có công
chứng hoặc chứng thực của cơ quan cấp) của một trong các giấy tờ chứng thực
cá nhân hợp pháp còn hiệu lực của từng đại diện theo uỷ quyền
- Các loại giấy tờ khác:
• Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (đối
với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải
có vốn pháp định).
• Bản sao hợp lệ (bản sao có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan cấp)
chứng chỉ hành nghề của Giám đốc (Tổng Giám đốc) và các cá nhân khác quy

định tại Khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (đối với Công ty đăng ký kinh
doanh ngành nghề mà theo quy định của pháp luật yêu cầu phải có chứng chỉ
hành nghề)
5 - Biên bản thỏa thuận thuê địa điểm thực hiện dự án đầu tư
*. Số lượng hồ sơ nộp: 01 bộ hồ sơ
2. Những điểm mới của Luật đầu tư 2005 về trình tự thủ tục, phân định
thẩm quyền
- Điểm mới của Luật Đầu tư và Nghị định 108 là phân cấp mạnh cho ủy
ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao, khu kinh tế (sau đây gọi là ban quản lý) cấp Giấy chứng nhận đầu tư
cũng như quản lý hoạt động đầu tư, đồng thời giảm bớt những dự án phải trình
Thủ tướng Chính phủ. Nếu phải trình thì Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận
về mặt nguyên tắc đối với mốt số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch
hoặc chưa có quy hoạch. Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp
ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế thì UBND
cấp tỉnh và Ban quản lý cấp Giấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ
6
tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư. Các dự án còn lại sẽ do UBND
cấp tỉnh và ban quản lý tự quyết định và cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Đối với
các dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt hoặc dự án không đáp ứng điều kiện mở cửa thị
trường quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì cơ quan cấp
giấy chứng nhận đầu tư chủ trì, lấy ý kiến bộ quản lý ngành, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc
điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hoặc quyết định mở cửa thị trường. Đối với dự án
đầu tư thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch, thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu
tư lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
chủ trương đầu tư.
- Điểm mới thứ 2 của Luật là thủ tục đầu tư được thiết kế đơn giản và
thuận lợi cho các nhà đầu tư. Theo đó, dự án được phân chia thành hai loại: đăng

ký đầu tư và thẩm tra đầu tư. Đối với dự án đầu tư nước ngoài có quy mô vốn
dưới 300 tỷ đồng Việt Nam và không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện, nhà
đầu tư chỉ cần đăng ký đầu tư theo mẫu để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản đăng ký hợp lệ. Dự án thuộc diện
thẩm tra, theo đó, các dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện hoặc
dự án có quy mô vốn từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên thì phải làm thủ tục thẩm
tra đầu tư. Nôi dung thẩm tra chỉ bao gồm: (1)sự phù hợp với quy hoạch kết cấu
hạ tầng - kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử
dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác; (2) nhu cầu sử dụng đất; (3) tiến
độ thực hiện dự án; (4) giải pháp về môi trường. Riêng đối với dự án thuộc danh
mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì chỉ thẩm tra các điều kiện mà dự án phải
đáp ứng.
- Pháp luật đầu tư quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư
vào Việt Nam phải có dự án đầu tư. Trường hợp đã thành lập tổ chức kinh tế mà
có nhu cầu thực hiện dự án đầu tư tiếp theo thì không phải thành lập tổ chức
kinh tế mới. Đối với đầu tư trong nước thì khi thành lập tổ chức kinh tế không
7
cần phải có dự án. Đây là điểm khác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài, điểm khác biệt này là cần thiết bởi đầu tư nước ngoài cần phải thực hiện
theo lộ trình mở cửa thị trường trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên.
- Nhằm thực hiện cải cách hành chính đối với hoạt động đầu tư, Nghị định
quy định trường hợp dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thủ
tục đầu tư được làm đồng thời với thủ tục đăng ký kinh doanh. Trong Giấy
chứng nhận đầu tư bao gồm cả các nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định
của Luật Doanh nghiệp. Trong trường hợp này Giấy chứng nhận đầu tư đồng
thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cũng được gửi cho cơ quan quản
lý kinh doanh để quản lý chung về đăng ký kinh doanh.
- Đối với việc điều chỉnh dự án đầu tư, Luật Đầu tư và Nghị định 108 quy
định khi điều chỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô, địa điểm, hình

thức, vốn và thời hạn thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư phải làm thủ tục tại cơ
quan tiếp nhận hồ sơ để làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. Việc
điều chỉnh dự án đầu tư được thực hiện theo quy trình đăng ký điều chỉnh dự án
đầu tư hoặc thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư.
- Áp dụng đối với dự án đầu tư thực hiện trước ngày 1/7/2006 ,để đảm
bảo các hoạt động đầu tư không bị xáo trộn, Luật Đầu tư và Nghị định 108 quy
định các dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã thực
hiện hoặc cấp Giấy phép đầu tư trước khi Luật Đầu tư có hiệu lực không phải
làm thủ tục đăng ký hoặc thẩm tra đầu tư; nếu nhà đầu tư có nhu cầu cấp Giấy
chứng nhận đầu tư thì đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận
đầu tư và không phải làm thủ tục về thẩm tra đầu tư (nếu dự án thuộc diện thẩm
tra đầu tư).
3. Tình hình triển khai đề án một cửa liên thông và cái nhìn từ phía doanh
nghiệp
Xây dựng cơ chế một cửa là yêu cầu lớn trong cải cách hành chính, là kết
quả của việc đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Và để chứng minh cho quyết
8
tâm, sự thành công trong cải cách hành chính, hầu hết các địa phương đã có mô
hình một cửa. Thậm chí nhiều tỉnh, thành đã nhân rộng cơ chế một cửa ra tất cả
các sở ngành, xuống quận, huyện và đưa thành tích này vào các trong các bản
kêu gọi đầu tư như một đảm bảo cho sự thông thoáng khi đến làm ăn tại địa
phương.
Cơ chế một cửa ở đây được thực hiện: hồ sơ xin cấp GCNĐT sẽ được nộp
tại Bộ phận một cửa, sau đó Bộ phận một cửa lại chuyển đến phòng đầu tư nước
ngoài (FDI) để giải quyết. Nếu phải sửa đổi, bổ sung, hồ sơ được chuyển lại cho
tổ một cửa thông báo cho doanh nghiệp nhận về sửa chữa bổ sung. Hồ sơ sau
khi sửa chữa lại bắt đầu lại hành trình như rắc rối như trên. Đến khi có giấy
chứng nhận đầu tư thì phòng đầu tư nước ngoài lại chuyển qua Bộ phận một
cửa để doanh nghiệp nhận.
Theo các doanh nghiệp thì quy trình này chỉ làm kéo dài thêm thời gian

và mất thêm một công đoạn hành chính không cần thiết nữa cho thủ tục xin cấp
chứng nhận đầu tư . Thậm chí, trong trường hợp này Bộ phận một cửa không có
chuyên môn và thẩm quyền về đăng ký đầu tư nên không thể tư vấn cho doanh
nghiệp, hay đơn giản là những sai sót nhỏ cũng không thể phát hiện để trả lại
cho doanh nghiệp ngay từ đầu. Với tình trạng này, doanh nghiệp sai ở một mục
nhỏ trong cả quá trình thì lại phải làm lại từ đầu và lại thêm một lần qua Bộ
phận một cửa.
4. Thông tin thu thập trên mạng internet
4.1. Thực tiễn thu hút FDI trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong 20 năm
qua
Từ năm 1989 - 1996 thu hút FDI của Hà Nội có xu hướng tăng cao. Từ
năm 1997 đến năm 2003, vốn FDI vào Hà Nội có xu hướng giảm dần từ 913
triệu USD (1997) xuống 100 triệu USD (2000), sau đó tăng nhưng vẫn còn thấp
hơn năm 1997. Từ năm 2004 đến nay dòng FDI vào Hà Nội tăng nhanh Tổng
cộng từ năm 1989 đến hết 31/3/2005, Hà Nội có 539 dự án FDI còn hiệu lực,
tổng vốn đăng ký 8,27 tỷ USD, trong đó hình thức liên doanh chiếm 56,1% với
9
212 đơn vị, hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 39,3% với 302 đơn vị và
hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 4,6% với 25 hợp đồng. Đỉnh cao
nhất trong thu hút FDI là năm 1996 với vốn đăng ký đạt 2,641 tỷ USD và năm
1997 đạt cao nhất về vốn thực hiện với 913 triệu USD
Ước tính 9 tháng năm 2007 Hà Nội thu hút được 236 dự án FDI với tổng
vốn đầu tư đăng ký khoảng 1.128 triệu USD (chưa kể các kết quả thu hút FDI
trong các KCN và KCX do Ban quản lý các KCN và KCX TP. Hà Nội phụ
trách), trong đó: Cấp mới 210 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 940 triệu USD;
Bổ sung tăng vốn là 26 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 188 triệu USD; So với
cùng kỳ năm 2006, số dự án tăng 80% (236/131 dự án), số vốn đầu tư tăng 40%
(1128/801,24 triệu USD). So với kế hoạch định hướng cả năm 2007 đã giao theo
QĐ 233/2006/QĐ-UB của UBND TP. Hà Nội (vốn đầu tư đăng ký 1.300 triệu
USD với 210 dự án, trong đó cấp mới là 800 triệu USD với 145 dự án, bổ sung

tăng vốn là 500 triệu USD với 65 dự án; vốn đầu tư thực hiện 400 triệu USD;
doanh thu 2.900 triệu USD), số dự án đã vượt kế hoạch cả năm là 12%
(236/210), còn về tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 87% (1128/1300 triệu USD).
Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho biết, ước tính đến hết tháng 3/2008,
Hà Nội đã thu hút được 72 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là
574,8 triệu USD, trong đó số dự án cấp mới là 67 với vốn đầu tư đăng ký là 542
triệu USD.
Trong đó, số dự án tăng vốn là 5, với vốn đầu tư đăng ký 32,8 triệu USD.
Trong đó có 3 dự án tăng vốn nhiều nhất là Công ty cổ phần Vina Power (tăng
15,6 triệu USD); Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prevoir Việt Nam (tăng 13 triệu
USD); Công ty TNHH dịch vụ xây dựng và phát triển phần mềm Okada
Harmony (tăng 4 triệu USD). So với cùng kỳ năm trước, tổng số vốn đầu tư
nước ngoài vào Thủ đô tăng gấp 2,6 lần. Ước tính cả năm 2008, Hà Nội sẽ thu
hút được khoảng 300 dự án, với vốn đầu tư đăng ký từ 2 - 3 tỷ USD. Trong đó
cấp mới 260 dự án với vốn đầu tư ước tính 1,5 - 2,5 tỷ USD, bổ sung tăng vốn
40 dự án với khoảng 0,5 tỷ USD.
10
Hiện một số dự án đầu tư lớn đang được tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ hoặc
lập dự án xin cấp giấy chứng nhận đầu tư mới, tăng vốn trong 9 tháng cuối năm
2008 như: dự án Khách sạn 5 sao Keangnam - Hàn Quốc tăng vốn 300 triệu
USD, dự án BT xây dựng Nhà máy xử lý nước thải Công viên Yên Sở khoảng
250 triệu USD…
4.2. Hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam
Năm 2006, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo dự án đạt 10,2
tỷ USD, tăng 52% so với năm 2005, đạt mức cao nhất kể từ năm 1987 khi Việt
Nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài. Đồng thời, tổng vốn đầu tư thực tế của
nước ngoài vào Việt Nam năm 2006 cũng lập kỷ lục cao mới, đạt 4,1 tỷ USD,
tăng 24,2% so với năm 2005
Những năm gần đây, thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam có một
số đặc điểm mới như sau: Thứ nhất, có nhiều dự án vốn đầu tư nước ngoài có

quy mô trên 100 triệu USD, trong đó có những dự án đầu tư lớn trị giá từ 1 tỷ
USD trở lên. Tiêu biểu là dự án của tập đoàn Intel Corp (Mỹ) đầu tư xây dựng
nhà máy sản xuất vi mạch trị giá 1 tỷ USD tại TP. Hồ Chí Minh trong năm
2006; dự án xây dựng Nhà máy Sản xuất Gang thép (do tập đoàn POSCO (Hàn
Quốc) đầu tư tại miền Nam) trị giá tới 1,126 tỷ USD. Năm 2006, vốn đăng ký
đầu tư của 10 dự án đầu tư nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam đạt trên 4 tỷ USD.
Thứ hai, nội dung đầu tư có những thay đổi so với trước đây. Các dự án
có đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tin học và công nghệ cao tại Việt Nam tăng
mạnh. Ngoài dự án của Intel còn có dự án sản xuất thiết bị y tế hiện đại do tập
đoàn lớn Terumo (Nhật Bản) đầu tư; dự án đầu tư sản xuất thiết bị máy fax và
máy in lade của tập đoàn công nghiệp Brothers-co; các dự án công nghệ cao liên
doanh giữa Việt Nam và các doanh nghiệp Nhật Bản, như Canon, Toshiba.
Mấu chốt của thành công bước đầu trong việc thu hút vốn đầu tư nước
ngoài của Việt Nam là sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của
11
WTO, Quốc hội Mỹ đã dành cho Việt Nam quy chế mậu dịch thông thường vĩnh
viễn (PNTR), giúp cho môi trường quốc tế càng thuận lợi hơn cho kinh tế Việt
Nam phát triển. Năm 2006, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng
nhanh, với mức tăng trưởng GDP lên tới 8,17%, thu nhập quốc dân tăng, đời
sống người dân cải thiện. Nhờ đó thị trường tiêu dùng tăng lên, tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh.
PHẦN III : KẾT QUẢ XỬ LÝ THÔNG TIN ĐÃ THU THẬP ĐƯỢC
Thông qua các thông tin đã thu thập được nêu ở phần hai của chuyên đề
đã phần nào cho thấy thực tế hoạt động đầu tư tại địa bàn thành phố Hà Nội.
Nhìn chung, sự gia tăng về số lượng nhà đầu tư, quy mô vốn đầu tư là rất rõ rệt
Tình hình thu hút vốn ĐTNN đăng ký từ 1988 - 2007
Cấp phép đầu tư từ 1988 đến 2007
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp
phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ
các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự

án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD. Biểu đồ tình hình cấp chứng
nhận đầu tư tại Việt Nam có sự biến động (xem tại Phụ lục).
Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam nên kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng
ký cấp mới 1,6 tỷ USD), ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất
nước.
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn ĐTNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổng
vốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-
xã hội đất nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN tại
Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với 1.781
dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn)
12
28,3 tỷ USD. Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam
đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một số
nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị trường
mới, vì vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành
phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã
hội của đất nước. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5
lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký,
tăng 45% so với năm trước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng
ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998
chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các
dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN
được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do
nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông).
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu
hiệu phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng
21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn
đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD),

tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ
USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng
75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so
với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ
trước khủng hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8
tỷ USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày
28/8/2001 của Chính phủ
1[2]
, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với
mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng đạt
mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa
phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng
1
13
vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của
nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất
thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản,
công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho thấy dấu hiệu
của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam.
Tình hình tăng vốn đầu tư (1988-2007)
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt
động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn đầu
tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100 lượt dự
án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng
vốn đầu tư đăng ký cấp mới.
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng
doanh nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD trong 5
năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm
trước (4,17 tỷ USD). Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ

USD (vượt 18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước. Trong
đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ
năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi năm trung
bình tăng 35%.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất
công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ; 65,7%
trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2
năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm.
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong số vốn
tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao nhất
66,8% trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000, đạt
70,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là
72,1% và 80%.
14
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng
kinh tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm
phía Nam chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995; đạt 68,1% trong thời kỳ
1996-2000 và 71,5% trong giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ
lệ tương ứng là 71% và 65%. Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là
36,7%; 20,4% ; 21,1% ; 24% và 20%.
Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản -JETRO tại Việt
Nam có trên 70% doanh nghiệp ĐTNN được điều tra có kế hoạch tăng vốn, mở
rộng sản xuất tại Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an tâm của nhà
ĐTNN vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.
Quy mô dự án
Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả năng
tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường đầu tư
Việt Nam. Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua các
giai đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài chính khu vực
1997. Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân đạt 7,5 triệu

USD/dự án/năm. Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự án đạt 11,6
triệu USD trong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3 triệu USD/dự án trong 5
năm 1996-2000. Điều này thể hiện số lượng các dự án quy mô lớn được cấp
phép trong giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5 năm trước. Tuy nhiên, quy
mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự án trong thời kỳ 2001-2005.
Điều này cho thấy đa phần các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc
dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong 2 năm 2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư
trung bình của một dự án đều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy
mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập
đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai,
Compal, Piaggio ).
15
PHẦN IV: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ
1. Hiệu quả mà Luật đầu tư mang lại
Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật ĐTNN đã được sửa đổi, bổ
sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000; cùng
với các văn bản dưới Luật đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật
thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế. Pháp luật ĐTNN
và các văn bản pháp luật liên quan đến ĐTNN được ban hành đã tạo môi trường
pháp lý đồng bộ cho các hoạt động ĐTNN tại Việt Nam.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, khung pháp lý song phương
và đa phương liên quan đến ĐTNN cũng không ngừng được mở rộng và hoàn
thiện với việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với
các nước và vùng lãnh thổ. Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của
Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà ĐTNN vẫn có thể tiến hành các hoạt động
đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự khác biệt đáng kể so với một số
nước có kinh tế thị trường truyền thống.
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự
thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng,
16

không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo
điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối
với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư có hiệu lực
từ ngày 01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích
đầu tư trong nước. Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
ta đối với thành phần kinh tế có vốn ĐTNN, một bộ phận quan trọng của nền
kinh tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp
ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước
cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn
chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu
quả vốn ĐTNN. Thực tế đã chứng minh việc ban hành Luật Đầu tư đã góp phần
quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích cực của tình hình ĐTNN
vào Việt Nam kể từ năm 2006 tới nay.
Từ thực tiễn thu hút ĐTNN 20 năm qua cho thấy việc tạo dựng môi
trường pháp lý cho ĐTNN trong thời gian qua là rất cần thiết trong bối cảnh
cạnh tranh gay gắt thu hút vốn ĐTNN ở khu vực và trên thế giới, Luật Đầu tư
nước ngoài đã thực sự trở thành “đòn bẩy” quan trọng trong việc thu hút ĐTNN
vào Việt Nam trong 20 năm qua, đảm bảo cho việc thực hiện chủ trương thu hút
ĐTNN của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế-xã hội đất nước ta vừa qua.
Luật Đầu tư năm 2005 xác định việc phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh
và Ban quản lý Khu Công nghiệp, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu
kinh tế (sau đây gọi là Ban quản lý) cấp Giấy Chứng nhận đầu tư (GCNĐT)
cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ
tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với
một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy hoạch.
Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng các điều kiện theo
quy định của pháp luật và điều ước quốc tế cũng như các dự án còn lại sẽ do
UBND cấp tỉnh và Ban quản lý tự quyết định và cấp GCNĐT.
17

Việc phân cấp cấp GCNĐT về UBND cấp tỉnh và Ban quản lý là một chủ
trương thực hiện cải cách hành chính trong quản lý kinh tế và đã được tổng kết
trong nhiều năm qua, đã tạo điều kiện thuận lợi để UBND cấp tỉnh và Ban quản
lý thực hiện được trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư trong nước và ĐTNN
trên địa bàn. Việc phân cấp mạnh cho UBND tỉnh và Ban quản lý đã tạo điều
kiện cho các Bộ, ngành quản lý nhà nước tập trung thực hiện chức năng hoạch
định chính sách, dự báo, kiểm tra, giám sát.
Cho tới nay, công tác quản lý hoạt động ĐTNN ở địa phương, nhất là các
địa phương có nhiều doanh nghiệp ĐTNN đã đi vào nề nếp, theo trình tự hợp lý,
đã được đơn giản hóa,…được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá có nhiều đổi
mới, góp phần cải thiện môi trường đầu tư-kinh doanh của địa phương.
Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh đã phối hợp chặt chẽ
trong quá trình thực hiện các nội dung quản lý hoạt động ĐTNN, từ thẩm định
cấp GCNĐT đến hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Bộ Kế hoạch và
Đầu tư đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức tập huấn, trao đổi
nghiệp vụ và hỗ trợ các địa phương từ việc tổ chức hội nghị, hội thảo vận động
xúc tiến, xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư, ban hành văn bản hướng dẫn
về ĐTNN tại địa bàn,…. đưa hoạt động quản lý ĐTNN ở các địa phương đi vào
nề nếp. Mô hình “một cửa, liên thông”, cách làm “trải thảm đỏ đón nhà đầu tư”
tiếp tục xuất hiện và có tác động lan toả rộng khắp trong cả nước, đã góp phần
nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ĐTNN vào Việt Nam.
2. Một số kiến nghị
Một số kiến nghị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện
thủ tục đăng ký đầu tư đồng thời dễ dàng quản lý cho cơ quan có thẩm quyền
nói chung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủ tục xin cấp chứng nhận đầu tư
- Bổ sung chuyên viên tiếp nhận hồ sơ có vốn đầu tư nước ngoài (hiện nay
chỉ có 1 chuyên viên tiếp nhận hồ sơ có vốn đầu tư nước ngoài) nhằm san sẻ bớt
gắng nặng công việc đồng thời tạo điều kiện cho chính nhà đầu tư đến làm thủ
tục đầu tư được nhanh chóng đồng thời bổ sung đầy đủ các điều kiện làm việc
18

như : máy in, máy tính, có giải pháp về phần mềm cho Bộ phận một cửa để tiếp
nhận hồ sơ được nhanh chóng hơn, bố trí kho lưu trữ hồ sơ doanh nghiệp.
- Tổ chức đối thoại giữa phòng chuyên môn (thụ lý hồ sơ) với các nhà đầu
tư: tổ chức việc giao lưu, đối thoại tích cực hơn giữa cơ quan chuyên môn với
các nhà đầu tư là một trong những biện pháp thiết thực nhằm tìm ra những
khiếm khuyết thực tế, các rào cản trong quá trình xin cấp chứng nhận đầu tư của
nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình hỗ trợ các thủ tục cần thiết đối
nhà đầu tư dự án của họ nhanh chóng được thực hiện, giải quyết những khó
khăn, vướng mắc của nhà đầu tư trong phạm vi thẩm quyền
- Nâng cao ý thức pháp luật của nhà đầu tư: tổ chức tuyên truyền các quy
định của pháp luật kết hợp với việc xử lý nghiêm minh các doanh nghiệp cố ý
làm trái hoặc không thực hiện đúng quy định của pháp luật
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành các văn bản về quản lý đầu tư nước
ngoài trên địa bàn theo hướng minh bạch, rõ ràng về đầu mối, thời gian, đầu
mục hồ sơ…
- Ban hành Thông tư hướng dẫn một số nội dung chưa rõ ràng, cụ thể tại
NĐ số 108/2006/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư.
- Tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế ‘liên thông - một cửa’ ở các cơ quan
cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý đầu tư nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động
ĐTNN, qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam.
- Thực hiện từng bước minh bạch hoá chính sách, thủ tục đầu tư; công
khai hoá các bước của quá trình cấp Giấy chứng nhận đầu tư lên mạng.
- Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước đối với ĐTNN, đặc biệt
trong việc phê duyệt, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý tốt các dự án ĐTNN,
gắn với việc tăng cường hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra,
giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư.
- Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực
hiện nhiệm vụ theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản
lý đầu tư nước ngoài.
19

- Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư
nước ngoài, thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết thủ tục đầu tư.
Đảm bảo sự thống nhất, các quy trình, thủ tục tại các địa phương, đồng thời, phù
hợp với điều kiện cụ thể.
- Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp phép,
điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư .
- Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa Trung
ương và địa phương và giữa các Bộ, ngành liên quan.
PHẦN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tham khảo
- Bài viết “Môi trường đầu tư tại Việt Nam và cải cách thủ tục hành chính
”trên báo đầu tư
- Giáo trình Luật đầu tư của Đại học Luật Hà Nội
- Chuyên đề “Xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp ”
2. Văn bản pháp luật:
- Luật Đầu tư nước ngoài 2000
- Luật đầu tư 2005
- Luật doanh nghiệp 2005
- NĐ 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/06 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Đầu tư
3. Tư liệu thực tiễn
- Các loại mẫu giấy : văn bản đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư, điều lệ
công ty
- Số liệu thống kê số hồ sơ đăng ký được giải quyết, trả lại năm 2006
20
- Trang web của Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội : www.hapi.gov.vn
- Trang web của Bộ Kế hoạch và đầu tư :
MỤC LỤC
21

×