Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

tóm tắt luận án quản lí vốn khả dụng trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (663.08 KB, 24 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn khả dụng là vốn sẵn sàng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của TCTD.
Vốn này để đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc của NHTƯ và phần dư thừa để thực hiện
các nghĩa vụ thanh toán với khách hàng, với Ngân sách Nhà nước, giao dịch với đối
tác, trả nợ cho NHTƯ. Các TCTD sẽ duy trì vốn khả dụng dưới hai hình thức: tại quỹ
của TCTD và gửi tại NHTƯ. Phần vốn khả dụng dư thừa là phần có tính lỏng cao
nhất, TCTD sẽ quyết định tỷ trọng phần tiền giữ tại TCTD hay NHTƯ dựa theo nhu
cầu thanh toán từng thời điểm. Như vậy, phần vốn khả dụng giữ tại NHTƯ bao gồm:
tiền gửi DTBB và một phần dự trữ dư thừa để đáp ứng nhu cầu thanh toán của
TCTD. NHTƯ quản lý phần VKD nằm tại NHTƯ thông qua việc thiết lập hệ thống
khuôn khổ, xây dựng quy tắc sử dụng các biện pháp can thiệp, chi phối khối lượng
giao dịch VKD trên thị trường tiền tệ để điều chỉnh trạng thái VKD trên TTLNH, chi
phối tới hành vi điều chỉnh cân bằng giữa phần VKD gửi tại NHTƯ với phần tại quỹ
của TCTD để đảm bảo hoạt động bình thường của mình, từ đó tác động tới lãi suất thị
trường nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của Chính sách tiền tệ.
Để thực hiện quản lý VKD, NHTƯ cần dự báo trạng thái VKD trên thị trường,
xác định khối lượng cần can thiệp và đưa ra các biện pháp điều chỉnh trạng thái VKD
trên thị trường để đạt được mục tiêu điều hành CSTT. Tùy từng quốc gia, với đặc
điểm về thể chế chính trị, mức độ phát triển của nền kinh tế cũng như tính hiệu lực
trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTƯ mà mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
cấu thành nên cung cầu VKD tại NHTƯ cũng như mức độ dự báo và kiểm soát từng
nhân tố cấu thành VKD của NHTƯ cũng có sự khác nhau.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang dần hoàn thiện công tác quản lý VKD
như: hoàn chỉnh phương pháp dự báo, bổ sung nguồn thông tin báo cáo phục vụ công
tác dự báo, cải thiện tính đồng bộ của hệ thống biện pháp can thiệp, … Mặc dù có
nhiều sự cố gắng, kết quả dự báo dần chính xác hơn, các công cụ được sử dụng linh
hoạt, tạo ra các biến động phù hợp với yêu cầu của thị trường và đạt mục tiêu của
NHNN hơn nhưng kết quả quản lý VKD của NHNN còn gặp nhiều hạn chế, trạng


thái VKD của thị trường không biến động tích cực sau can thiệp của NHNN, lãi suất
chỉ đạo không định hướng được mức lãi suất của thị trường, các hoạt động điều hành
của NHNN đi sau thị trường, thị trường không quan tâm tới các động thái điều hành từ
NHNN. Nguyên nhân làm ảnh hưởng tới kết quả quản lí VKD của NHNN Việt Nam là
tính thiếu đồng bộ của hệ thống thông tin báo cáo, kĩ thuật dự báo còn mang tính ngắn
2

hạn, khả năng dự báo và quản lí VKD hạn chế, sự phối kết hợp giữa các chính sách vĩ
mô chưa thống nhất…dẫn đến sự bị động của NHNN trong việc điều chỉnh trạng thái
VKD để đạt được mục tiêu của CSTT.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu, luận án đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là:
"Quản lý VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam" để đóng góp đầy đủ hơn các luận cứ khoa học của công tác quản lý VKD, thực
tiễn thực hiện tại NHNN VN và từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác quản lý VKD nhằm đáp ứng yêu cầu về hiệu quả điều hành CSTT.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến từng nội dung liên quan
đến đề tài về về Chính sách tiền tệ (các công cụ của Chính sách tiền tệ, mục tiêu của
Chính sách tiền tệ…), thị trường tiền tệ tuy nhiên các tài liệu liên quan trực tiếp đến
mảng quản lí VKD của NHTƯ trong điều hành CSTT được công bố trên thế giới
chưa nhiều. Các tác giả đại diện cho những nghiên cứu về vấn đề này có: Ulrich
Bindseil (2000), Falko Fecht, Kjell G. Nyborg, J’org Rocholl (2007), Simon T Gray
(2008), Mohamed Afzal Norat (2008). Ngoài ra, các tổ chức như Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng trung ương Châu Âu và Cục dự trữ liên bang Mỹ cũng có một số
bài nghiên cứu liên quan đến đề tài. Về các nghiên cứu tại Việt Nam, các đề tài nghiên
cứu liên quan đến Chính sách tiền tệ, các công cụ của Chính sách tiền tệ, kênh truyền
tải tác động của Chính sách tiền tệ đã được quan tâm nghiên cứu nhiều, tuy nhiên, liên
quan trực tiếp đến hoạt động quản lí VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của
NHTƯ thì hiện chỉ có “Hoàn thiện phương pháp dự báo vốn khả dụng nhằm nâng cao
năng lực điều tiết thị trường tiền tệ của NHNN” của PTĐ NHNN Việt Nam Nguyễn

Đồng Tiến (2006).
Tóm lại, trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu về Quản lí VKD của
NHTƯ còn hạn chế và chưa được hệ thống cũng như kiểm chứng một cách đầy đủ và
toàn diện, các nghiên cứu chưa đưa ra sự khác biệt về khái niệm VKD trên phương
diện NHTM, NHTƯ và ở từng phương diện thì sự thay đổi trạng thái VKD ảnh
hưởng tới từng thị trường và ở mức độ khác nhau. Vì vậy, luận án lựa chọn tập trung
vào hệ thống hóa lí luận liên quan tới công tác quản lí VKD trên phương diện của
NHTƯ, đồng thời nghiên cứu việc thực hiện công tác này tại NHNN Việt Nam nhằm
tăng cường hiệu quả điều hành CSTT.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ lí luận liên quan tới công tác quản lý VKD: Khái niệm về VKD, cung
3

cầu VKD, nội dung công tác quản lý VKD, phương pháp dự báo VKD…Nghiên cứu
kinh nghiệm quản lý và dự báo VKD của một số nước trên thế giới, rút ra bài học
kinh nghiệm với Việt Nam.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý và dự báo VKD của NHNN VN trong điều
hành Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết những vấn đế nảy sinh trong quản lí vốn khả
dụng của NHNN Việt Nam, hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quản lý VKD
nhằm góp phần nâng cao hiệu lực Chính sách tiền tệ của NHNN VN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu lí luận cơ bản về vốn khả
dụng trên phương diện quản lí của NHTƯ, thực trạng việc quản lí VKD để điều hành
CSTT của NHNN VN theo phương pháp dự báo từ bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ và
đề xuất giải pháp quản lí VKD trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu trên phương diện quản lí của NHTƯ,
sử dụng số liệu trên Bảng cân đối tiền tệ của NHNN là chủ yếu và phân tích trong
khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu suy luận, phân tích hệ thống, phân tích
đối chiếu, so sánh, khảo sát, thống kê, kết hợp lí luận và thực tiễn; Phân tích định tính
kết hợp định lượng, sử dụng mô hình hồi quy đơn.
6. Những đóng góp chính của Luận án
Luận án là công trình nghiên cứu khoa hoc chuyên sâu và hoàn chỉnh đầu tiên về
Quản lí vốn khả dụng (trên phương diện của NHTƯ) trong điều hành Chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định
lượng để làm rõ hơn các luận cứ khoa học.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Lí luận chung về quản lý vốn khả dụng trong điều hành
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
- Chương 2: Thực trạng quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn khả dụng trong
điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
4

CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VỐN KHẢ DỤNG VÀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG
ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1.1.Vốn khả dụng
1.1.1.1. Khái niệm
“Vốn khả dụng” được hiểu là nguồn vốn sẵn sàng để đáp ứng các nghĩa vụ tài
chính như: rút tiền mặt của khách hàng, nhu cầu thanh toán, đáp ứng các cam kết
cho vay với khách hàng, nộp thuế cho Ngân sách, trả nợ NHTƯ…của TCTD.
Dưới góc độ hệ thống ngân hàng: Vốn khả dụng là tiềm lực vốn của một tổ
chức tài chính, là VKD nằm tại TCTD.

Trên phương diện quản lý của NHTƯ: VKD gửi tại NHTƯ – chính là số tiền
dự trữ mà TCTD gửi vào NHTƯ của quốc gia. Nó bao gồm: tiền gửi DTBB, tiền gửi
thanh toán, v.v
1.1.1.2. Cầu và cung vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương
Cầu vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương
Cầu VKD được hiểu là tập hợp các nhu cầu cần đáp ứng để thực hiện các
nghĩa vụ về tài chính của TCTD đó với các đối tác, bao gồm NHTƯ, ngân sách nhà
nước, các TCTD khác và đặc biệt là khách hàng của TCTD.
Cầu VKD được hình thành từ hai bộ phận: cầu VKD tự định và cầu chính sách.
Cầu VKD tự định: Là những nhu cầu thanh toán cần đáp ứng xuất phát từ những yếu
tố nội tại trong hoạt động của TCTD và nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp từ NHTƯ.
Cầu VKD chính sách: là yêu cầu thực hiện của NHTƯ mà các TCTD phải để
một khoản gọi là tiền gửi dự trữ bắt buộc.
Mối quan hệ giữa cầu VKD tự định và cầu VKD chính sách: có mối quan hệ
khăng khít với nhau thông qua số dư cuối ngày trên tài khoản tiền gửi thanh toán.
Trong đó cầu VKD chính sách phụ thuộc vào DTBB, là nhân tố mang tính thể chế và
không thay đổi hàng ngày. Phần còn lại trên tài khoản tiền gửi tại NHTƯ nhằm đáp
ứng nhu cầu VKD tự định.
Cung VKD tại NHTƯ
Cung vốn khả dụng là số tiền các TCTD sẵn sàng sử dụng để đáp ứng nghĩa vụ
tài chính của mình với các bên liên quan như: khách hàng, ngân sách, với các TCTD
5

khác hay với NHTƯ.
Về cơ bản, nguồn cung VKD của TCTD được hình thành từ hai nguồn chính:
(i) nguồn vốn huy động từ nền kinh tế; (ii) nguồn cung ứng thêm từ NHTƯ qua các
kênh: mua ngoại tệ, cho Ngân sách vay, cho các TCTD vay và một số khoản khác.
Khi xem xét cung VKD tại NHTƯ, luận án tập trung nghiên cứu phần cung VKD
xuất phát từ sự thay đổi của các yếu tố trên bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ.
- Các yếu tố cung tự định bao gồm: Tài sản có ngoại tệ ròng; Cho vay chính

phủ ròng, Tài sản có khác ròng.
- Các yếu tố cung chính sách bao gồm: Tái cấp vốn cho các ngân hàng; Các
hoạt động thị trường.
1.1.2. Quản lí vốn khả dụng của Ngân hàng trung ương trong điều hành Chính sách
tiền tệ
1.1.2.1. Khái niệm
Quản lý VKD là việc NHTƯ dự báo trạng thái VKD chung trong toàn hệ thống,
thiết lập các quy tắc ứng xử và sử dụng các biện pháp can thiệp để điều chỉnh điều kiện
tiền tệ và trạng thái cung cầu VKD trên thị trường LNH nhằm đạt được mục tiêu cuối
cùng của chính sách tiền tệ.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền
tệ quốc gia của NHTƯ
NHTƯ quản lý VKD nhằm nâng cao hiệu quả điều hành CSTT
NHTƯ thông qua việc dự báo trạng thái VKD của thị trường, xác định chính xác
liều lượng và thời hạn can thiệp tới thị trường sẽ là động lực để thị trường biến đổi theo
hướng tích cực, từ đó đạt được mục tiêu mà NHTƯ đặt ra. Có thể nói, NHTƯ quản lí
VKD tốt sẽ cải thiện khả năng ảnh hưởng của các công cụ chính sách tới các biến số
thực của nền kinh tế được lựa chọn làm mục tiêu chính sách trong từng thời kỳ CSTT
quốc gia.
Giúp NHTƯ điều chỉnh kịp thời trạng thái VKD của hệ thống NH
Việc dự báo VKD của hệ thống TCTD sẽ giúp NHTƯ nắm được trạng thái
bình thường và bất thường của thị trường, từ đó đưa biện pháp điều chỉnh kịp thời
trạng thái VKD thông qua bơm hút tiền, điều chỉnh cơ chế giá.
Điều quan trọng để NHTƯ cần điều chỉnh kịp thời trạng thái VKD vì NHTƯ
hiểu rằng Khi trạng thái cung cầu VKD mất cân bằng – dù dư thừa hay thiếu hụt – sẽ
đẩy NHTƯ phải thực hiện hành vi không mong muốn, do đó, NHTƯ có thể sẽ phải
6

thỏa mãn phần nào yêu cầu của thị trường để có thể tiếp tục thực hiện CSTT đã định.
1.2. NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.2.1. Quy trình quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của
Ngân hàng trung ương
1.2.1.1. Dự báo vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ
Vai trò của dự báo VKD trong điều hành CSTT
Dự báo VKD làm cơ sở để NHTƯ có thể chủ động đề ra những giải pháp điều
hành CTTT phù hợp, góp phần điều tiết VKD, điều tiết lãi suất trên thị trường theo
mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Phương pháp dự báo VKD
 Dự báo trên cơ sở phương pháp tiếp cận bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ
 Cơ sở dự báo: Phương pháp tiếp cận BCĐ tiền tệ của NHTƯ cho phép NHTƯ sử
dụng số liệu của các khoản mục trên BCĐ để dự báo trạng thái VKD. Sự thay đổi của mỗi
nhân tố trên BCĐ sẽ ảnh hưởng tới trạng thái VKD của toàn hệ thống NH.
Cung VKD = (Tài sản có ngoại tệ ròng + cho vay Chính phủ ròng + các
khoản mục khác ròng – tiền mặt trong lưu thông) + cho vay các TCTD từ NHTƯ
Cầu về VKD = DTBB + dự trữ để thanh toán

VKD (dự trữ của TCTD tại NHTƯ) =

tài sản có ngoại tệ ròng +

cho
vay Chính phủ ròng +

cho vay các TCTD +

các khoản khác ròng -

tiền mặt
trong lưu thông [37]

 Quy trình dự báo vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ
Bước 1: Xác định các yếu tố cần dự báo
Bước 2: Lập dãy số liệu lịch sử về các yếu tố cung - cầu vốn khả dụng trong một
khoảng thời gian cần thiết
Bước 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các tiêu thức dự báo trong kỳ dự
báo: Đây là bước quan trọng và phức tạp nhất trong quy trình dự báo
 Dự báo các yếu tố về cung VKD
 Cung VKD tự định
Cho vay Chính phủ ròng: Để dự báo được xu hướng biến động của khoản
mục cho vay Chính phủ ròng, bộ phận dự báo cần theo dõi được sự biến động về
khoản mục Cho vay và tiền gửi của Chính phủ, cụ thể thông qua hoạt động thu chi và
bảo lãnh của Chính phủ. Hiệu quả dự báo của yếu tố này phụ thuộc vào: Mối quan hệ
7

giữa NHTƯ và BTC quyết định việc thông suốt trong thông tin cần trao đổi; Việc mở
TK của Chính phủ tại NHTM, NHTƯ hay mở ở 2 nơi sẽ ảnh hưởng đến sự dịch
chuyển vốn và ảnh hưởng đến kết quả dự báo.
Tài sản có ngoại tệ ròng: Về ngắn hạn, những thay đổi về tài sản có ngoại tệ
ròng do NHTƯ can thiệp trên thị trường ngoại hối; Về dài hạn: Những thay đổi về tài
sản có ngoại tệ ròng bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của các yếu tố cấu thành cán
cân thanh toán quốc tế.
Tiền mặt trong lưu thông: Về ngắn hạn, cầu về tiền mặt chủ yếu chịu tác
động bởi các yếu tố có tính thời vụ như ngày chi trả lương, ngày nghỉ, ngày chi tiền
điều chỉnh tăng lương, Việc dự báo yếu tố tiền mặt cần dựa trên các số liệu lịch sử để
phân tích tìm ra các yếu tố có tính thời vụ; Về dài hạn, yếu tố ảnh hưởng tới cầu tiền
mặt là: (1) Xu hướng và tăng trưởng theo chu kỳ của nhu cầu tiền mặt; (2) Tốc độ
tăng trưởng GDP danh nghĩa (3) Xu hướng thay đổi trong mối quan hệ giữa Chính
phủ và nhu cầu tiền mặt,
Các khoản khác ròng: Về ngắn hạn thì các khoản khác ròng có biến động
không đáng kể. Nhìn chung, nếu không có các thông tin biết trước cụ thể, có thể dự

báo không thay đổi trừ các khoản phải thu, phải trả.
 Cung VKD chính sách : Phụ thuộc vào mục tiêu của CSTT từng thời kì và kế
hoạch cung ứng tín dụng qua hệ thống NH nên việc dự báo mang tính chắc chắn và
chính xác cao.
 Dự báo các yếu tố về cầu VKD: Để dự báo VKD của toàn hệ thống các
TCTD, NHTƯ quan tâm đến tổng cầu về VKD của toàn hệ thống mà không phải cầu
về VKD của từng TCTD đơn lẻ, trừ trường hợp ở một số nước có sự phân tách thị
trường tiền tệ.
 Dự báo cầu về DTBB: Khoản tiền này bị ảnh hưởng bởi phương pháp quản lí
DTBB và các yếu tố ảnh hưởng tới lượng tiền huy động bình quân theo kì của TCTD.
Cách thức dự báo về tổng tiền gửi hay từng bộ phần cấu thành của tiền gửi có thể sử
dụng các mô hình cấu trúc hay mô hình theo chuỗi thời gian, có tính đến tính thời vụ
của yếu tố tiền gửi
 Dự báo dự trữ vượt: Nhu cầu này gần như không có độ nhạy cảm đối với sự
biến động của lãi suất LNH. Có ba nhân tố tác động đến nhu cầu về số dư này: Quy
trình thanh toán hiệu quả, Sự mong đợi về thái độ của NHTƯ trong việc cung cấp dự
trữ thâm hụt cho TCTD tại mức lãi suất không phạt; Trạng thái thị trường LNH
Bước 4: Phân tích lỗi của kỳ dự báo trước
8

Bước 5: Tiến hành dự báo: Phương pháp 1: Phân tích theo số liệu lịch sử và điều
chỉnh theo tính thời vụ; Phương pháp 2: Dựa trên cơ sở phân tích các số liệu theo kế
hoạch hoặc các khoản thu chi đến hạn theo hợp đồng như: các khoản cho vay, thu nợ
của NHTƯ đối với các TCTD, thời điểm đến hạn của các hợp đồng mua bán có kỳ
hạn với NHTƯ Trong đó, PP1 mang lại sự chủ động trong dự báo cho NHTƯ, PP2
mang lại tính chính xác cao hơn nhưng NHTƯ bị động trong việc thu thập số liệu.
Ngoài ra, có thể kết hợp phương pháp định lượng để đo lường mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố cấu thành tới trạng thái cung, cầu VKD tại NHTƯ trong từng
thời kì, để từ đó có căn cứ chắc chắn hơn cho việc ra quyết định sử dụng biện pháp can
thiệp của NHTƯ để đạt mục tiêu điều hành CSTT. Các mô hình được chỉ định chủ

yếu là mô hình hồi quy đơn, thể hiện sự tác động của một yếu tố lên Cung/ Cầu vốn
khả dụng.
Bước 6: Tổng hợp kết quả dự báo
 Ưu, nhược điểm của phương pháp dự báo
 Ưu điểm: Tăng tính chủ động của NHTƯ trong dự báo; Sai số không đáng kể
trong ngắn hạn.
 Nhược điểm: Phụ thuộc vào sự phối hợp thông tin giữa NHTƯ và Bộ tài
chính; Kết quả dự báo về VKD của toàn hệ thống theo cách tiếp cận này phụ thuộc vào
một số điều kiện nền tảng: (i) Mọi khoản thanh toán của các TCTD đều thực hiện qua hệ
thống thanh toán của NHTƯ; (ii) Thị trường tiền tệ không có sự phân cách.
 Dự báo theo cách tiếp cận từ các TCTD
 Cơ sở dự báo
Đây là phương pháp dự báo dựa vào số liệu báo cáo của các TCTD và NHTƯ
tổng hợp trạng thái VKD của toàn thị trường ở thời điểm quản lí.
 Phương pháp dự báo:
Để có số liệu dự báo tốt từ các TCTD, NHTƯ cần chuẩn hóa thống nhất
phương pháp dự báo VKD trong hệ thống, từng TCTD có hệ thống theo dõi thực hiện
việc phân tích luồng tiền của đơn vị mình trên cơ sở quản lý và theo dõi on-line tất cả
các khoản mục phát sinh bên tài sản Có cũng như tài sản Nợ trong toàn hệ thống của
từng TCTD.
 Ưu, nhược điểm của phương pháp dự báo theo cách tiếp cận từ bảng cân
đối của TCTD
 Ưu điểm: Giúp NHTƯ dự báo đầy đủ và chính xác hơn VKD của toàn hệ
9

thống; NHTƯ dễ dàng yêu cầu TCTD thực hiện báo cáo trạng thái VKD từng thời
điểm cho NHTƯ.
 Nhược điểm: Vai trò chủ động của NHTƯ trong dự báo bị hạn chế; Đòi hỏi
từng TCTD phải đầu tư về cơ sở hạ tầng cho thông tin, hệ thống thanh toán…, nguồn
nhân lực để có thể thực hiện việc quản lý vốn tập trung và on-line trong toàn hệ thống

của mình.
1.2.1.2. Xác định khối lượng cần can thiệp: (i) Mục tiêu Chính sách tiền tệ từng
thời kì; (ii) Căn cứ vào kết quả dự báo VKD; (iii) Tình hình của phiên giao dịch
trước; (iv) Xem xét những tham số của thị trường như: lãi suất, sự thay đổi của nhu cầu
vốn… Sau đó, Uỷ ban điều hành CSTT (ở một số quốc gia do Ủy ban nghiệp vụ thị
trường mở) sẽ quyết định can thiệp.
1.2.1.3. Các biện pháp can thiệp để đạt được mục tiêu
Nghiệp vụ thị trường mở: Là nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu và thường
xuyên trong các can thiệp ngắn hạn và tức thì của quản lý VKD.
Phương tiện thường xuyên được sử dụng để bổ sung tác động tới trạng thái
VKD cuối cùng của thị trường sau khi nghiệp vụ thị trường mở kết thúc các phiên
trong ngày hoặc mở rộng tác động tới trạng thái vốn của một số TCTD không thể
tham gia nghiệp vụ TTM.
Dự trữ bắt buộc: Là biện pháp mang can thiệp điều chỉnh dài hạn và mạnh đến
trạng thái VKD của thị trường thông qua việc NHTƯ yêu cầu các TCTD phải giữ một
lượng tiền theo quy định dựa trên tỷ lệ DTBB và số tiền gửi huy động từng thời kì.
1.2.2. Khung thời gian dự báo và quản lí vốn khả dụng
Dự báo ngắn hạn: Thời gian dự báo ngắn hạn phụ thuộc vào độ dài của kì duy
trì và khả năng dự báo chính xác của NHTƯ. Kì dự báo thường là hôm nay (t=0),
ngày tiếp theo (t=1), từ hôm nay đến hết kì duy trì.
Dự báo dài hạn: giúp NHTƯ có thể dễ dàng hơn trong việc lập kế hoạch điều
hành. Các dự báo dài hạn theo quý, năm tiếp theo giúp NHTƯ xác định kì hạn thanh
toán hay lãi suất mục tiêu của nghiệp vụ TTM.
1.2.3. Nhân tố ảnh hưởng tới quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách
tiền tệ của Ngân hàng trung ương
1.2.3.1. Nhân tố khách quan
- Mối quan hệ giữa NHTW với Chính phủ: Về cơ bản, mối quan hệ này ảnh
hưởng tới khả năng kế hoạch hóa của NHTƯ với khoản mục Cho vay Chính phủ ròng
10


trong dự báo VKD theo phương pháp dựa vào bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ. Việc
kế hoạch hóa được hay không bị chi phối bởi mô hình NHTW độc lập với Chính phủ,
trực thuộc Chính phủ.
- Tính hiệu quả trong việc chuyển giao trôi chảy của vốn giữa người cho
vay và khách hàng vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng: sẽ ảnh hưởng tới việc duy
trì và dự tính trạng thái VKD của các TCTD, TT LNH rất phức tạp bởi hành vi không
chắc chắn của các TCTD tham gia mua bán vốn.
- Cơ chế quản lý vốn của các TCTD: việc quản lý vốn của TCTD ảnh hưởng
lớn tới khả năng khai thác vốn ở từng thời điểm, tới trạng thái vốn cung ứng hay nhu
cầu vốn tới thị trường LNH, từ đó ảnh hưởng tới vai trò quản lý VKD của NHTW.
Các TCTD có hai hình thức quản lý vốn tập trung và phi tập trung.
1.2.3.2. Nhân tố chủ quan
- Hệ thống mục tiêu CSTT: Hệ thống mục tiêu được lựa chọn theo định
hướng điều hành lãi suất hay thiên về khối lượng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công
tác quản lý VKD của NHTW.
- Phương pháp dự báo VKD của NHTW: Hai phương pháp được sử dụng trên
thế giới: (i) Dự báo trên cơ sở bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ đem lại tính chủ động
trong dự báo; (ii) Dự báo từ báo cáo của các TCTD đem lại tính chính xác hơn.
- Các quy định và chế tài trên TTTT: Thị trường có tổ chức và khung pháp lí
đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho NHTƯ kiểm soát thông suốt hơn về thông tin và tín hiệu
thị trường.
1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA
NHTƯ MỘT SỐ NƯỚC
1.3.1. Kinh nghiệm về quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Fed
1.3.1.1. Phương pháp dự báo của FED
Phương pháp dự báo được sử dụng là tiếp cận từ bảng cân đối của NHTƯ;
Khoảng thời gian của việc dự báo tại Mĩ là hai tuần và tiến hành hàng ngày. Định
hướng trong hai tuần này liên tục được cập nhật hàng ngày khi số liệu ước tính về
nhu cầu dự trữ được điều chỉnh lại. Hàng ngày Bộ phận dự báo VKD được các nhà
đại lý cấp 1 cung cấp thông tin về tình hình thị trường. Hàng tháng, các nhà đại lý cấp

1 trao đổi, đánh giá tình hình thị trường với các chuyên gia kinh tế, các khách hàng
của mình và cung cấp cho Bộ phận dự báo VKD.
Dự báo cầu VKD:
+ Dự báo về DTBB: Fed thực hiện quản lý DTBB theo phương pháp trùng
11

một phần. Vì vậy, lượng tiền DTBB được duy trì tương đối ổn định từ ngày đầu tiên
đến ngày cuối cùng trong kì. Các TCTD báo cáo về lượng tiền gửi huy động phải tính
DTBB. Bộ phận dự báo sẽ có kết quả số liệu tương đối ổn định và chính xác.
+ Dự trữ thanh toán: Trước mỗi kỳ duy trì DTBB, ngoài tiền gửi DTBB, các
ngân hàng đều phải thông báo dự kiến mức dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán
cho NHTƯ.
Dự báo Cung VKD
+ Tài sản có ngoại tệ ròng: FED lấy ngoại tệ từ Kho bạc để đổi lấy đô la cung
cấp cho Kho bạc. FED thực hiện mua giao ngay tiền tệ và bảo vệ giá trị của những đồng
tiền được mua bằng cách đồng thời bán kì hạn cùng một số lượng tiền tệ ở mức giá
tương tự cho Kho bạc.
+ Khoản mục tiền gửi của Kho bạc: Do có quan hệ chặt chẽ với Kho bạc và
hệ thống thông tin, số liệu của Kho bạc cập nhật hàng hàng nên hàng ngày Fed có thể
trao đổi thông tin với Kho bạc và việc dự báo tác động của thu chi ngân sách, tiền gửi
Chính phủ đến dự trữ của các ngân hàng rất thuận lợi.
Tiền mặt ngoài lưu thông: Sử dụng nội tệ ở nước ngoài cũng là một yếu tố làm
phức tạp cho quá trình dự báo do đồng Đôla Mĩ là loại tiền được ưu chuộng sử dụng
trong các giao dịch quốc tế và ở một số quốc gia có tình trạng Đôla hóa thì có thể sử
dụng Đôla thay thế cho đồng nội tệ.
1.3.1.2. Biện pháp can thiệp: Fed có thể thay đổi tình hình thị trường thông qua sử
dụng ba công cụ: DTBB, lãi suất chiếu khấu và nghiệp vụ thị trường mở.
Nghiệp vụ thị trường mở: FED sử dụng OMOs để điều chỉnh cung VKD để
giữ lãi suất giao dịch trên TTLNH xung quanh mức lãi suất qua đêm mục tiêu.
Cho Vay: Mục đích chính của Cửa sổ là hạn chế sức ép vào lãi suất qua đêm

bằng việc cung cấp tín dụng điều chỉnh để đáp ứng mức thiếu hụt dự trữ hay tránh
thấu chi cuối ngày, nhưng các TCTD rất miễn cưỡng khi dựa vào Cửa sổ chiết khấu.
Điều này gây phức tạp cho việc quản lý VKD của Fed và làm giảm van an toàn hiệu
quả của Cửa sổ chiết khấu.
DTBB: Sự khác biệt trong sử dụng công cụ DTBB là Fed không thay đổi tỉ lệ
DTBB mà thay đổi giới hạn tiền gửi tương ứng với mức cố định là 0%, 3% và 10%. Đây
là công cụ tạo tác động dài hạn trong quản lí VKD và Fed không sử dụng nhiều.
Lãi suất qua đêm mục tiêu: Lãi suất qua đêm là mục tiêu điều hành của FED.
FED không quyết định lãi suất mà chỉ đưa ra mức lãi suất muốn hướng đến sau đó dùng
thị trường mở để tác động sao cho lãi suất qua đêm ứng tại mức lãi suất mục tiêu.
12

1.3.2. Kinh nghiệm về quản lí VKD của ECB
1.3.2.1. Phương pháp dự báo: ECB thực hiện dự báo theo phương pháp trên bảng
cân đối tiền tệ của NHTƯ kết hợp với tổng hợp, phân tích các báo cáo dự báo VKD
của các quốc gia thành viên.
- Dự báo cầu VKD: Các nhân tố tự định là yếu tố khó dự báo nhất về cầu
VKD của trong khu vực Châu Âu.
Đối với dự báo cầu DTBB: ECB quản lý DTBB theo phương pháp bình quân
theo kì, theo phương pháp trùng một phần, đặc biệt do yêu cầu DTBB khá cao trong hệ
thống Châu Âu, nên các TCTD có xu hướng duy trì tiền DTBB tương đối ổn định.
Dự trữ vượt mức: ECB kiểm soát trạng thái VKD thông qua tỉ lệ chênh lệch
giữa phần dự trữ vượt trên tiền gửi tại NHTƯ không quá 0.25%-0.5%.
- Dự báo Cung VKD: Với hệ thống Châu Âu, đánh giá nhu cầu VKD là nhân
tố chính quyết định phân bổ VKD trong nghiệp vụ thị trường mở. Việc xác định nhu
cầu VKD kết thúc 1 ngày trước khi quyết định hoạt động tái cấp vốn chính tiếp theo,
ECB có thể thay đổi quyết định việc cung cấp VKD. NCB có một cơ sở dữ liệu để
chạy mô hình kinh tế lượng làm cơ sở dự báo một số nhân tố.
1.3.2.2. Biện pháp can thiệp: ECB sử dụng các công cụ của CSTT để can thiệp
nhằm thay đổi trạng thái VKD, trạng thái VKD trên thị trường được thể hiện thông

qua EONIA. Các công cụ CSTT của ECB được kể đến là: Các hoạt động thị trường
mở, các phương tiện thường xuyên và dự trữ tối thiểu.
Hoạt động thị trường Mở gồm bốn nhóm: nghiệp vụ tái cấp vốn chính, tái cấp vốn
có kì hạn 3 tháng, nghiệp vụ can thiệp nhằm điều tiết tức thời thị trường và nghiệp vụ điều
chỉnh cơ cấu.Công cụ quan trọng trong tạo tín hiệu chính sách tiền tệ của Eurosystem là
hoạt động tái cấp vốn chính, được thực hiện hàng tuần với thời hạn hai tuần.
Phương tiện thường xuyên: Eurosystem cung cấp hai phương tiện Phương
tiện tín dụng thường xuyên và phương tiện tiền gửi thường xuyên; Một để cung ứng
và một để hấp thụ VKD.
1.3.3. Kinh nghiệm về quản lí vốn khả dụng trong điều hành CSTT của Malaixia (BNM)
1.3.3.1. Phương pháp dự báo
Hiện nay, thị trường tiền tệ Malaysia tồn tại hai thị trường liên ngân hàng,
trong đó hoạt động của thị trường liên ngân hàng hồi giáo chiếm phần lớn các giao
dịch trong các hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Malaysia. Hai thị
trường này hoạt động thống nhất dưới sự kiểm soát của NHTƯ Malaysia .
13

Phương pháp được sử dụng chủ yếu là Báo cáo từ các TCTD. Để có cơ sở thực
hiện các nghiệp vụ tiền tệ, trong đó có nghiệp vụ thị trường mở tác động vào dự trữ
của các ngân hàng, nhằm đạt được mục tiêu về lãi suất định hướng (policy rate),
BNM thiết lập Bộ phận dự báo vốn khả dụng thuộc Vụ Đầu tư và thị trường tài chính.
Việc dự báo vốn khả dụng hàng ngày của BNM về thực chất chủ yếu là tổng hợp các
tính toán, dự báo vốn khả dụng của các ngân hàng. Các số liệu về tình hình vị thế vốn
khả dụng của các ngân hàng được các ngân hàng cung cấp cho BNM qua hệ thống
nối mạng on-line (BIDS).
1.3.3.2. Biện pháp can thiệp
Quá trình quản lí VKD bao gồm ba giai đoạn:
Bước 1: Đánh giá trạng thái VKD của NHTM trong điều kiện hoạt động bình thường
trong vài tháng tiếp theo.
Bước 2: Đánh giá liệu một NH có thể chịu đựng có sốc thanh khoản hay không.

Bước 3: Đánh giá cấu trúc của hệ thống (thông qua các chỉ số tài chính để xem xét
mức độ ảnh hưởng đến các tổ chức khi thị trường biến động).
Thông qua các tiêu chí trên, cùng với dự báo sự biến động của tình hình thế
giới, BNM sẽ dự báo cần VKD cần thiết và can thiệp lên thị trường nhằm thực hiện
các mục tiêu đã định của mình.
Trong thời gian qua, BNM sử dụng chủ yếu nhất là công cụ Lãi suất chính thức
(Overnight Policy Rate - OPR). Nó được sử dụng làm cơ sở cho mức lãi suất qua
đêm trên TT LNH (KLIBOR) và mức độ giao động cho phép là ± 50 điểm quanh
OPR. BNM công bố OPR tại một tỉ lệ phù hợp với mục tiêu dài hạn của lạm phát và
tăng trưởng kinh tế trong điều kiện việc làm đầy đủ (Hiện nay OPR công bố là 3%,
thấp hơn lạm phát năm 2012 là 1,3%).
1.3.4. Bài học với Việt Nam
(i) Cần thực hiện phối hợp cả hai phương pháp dự báo; (ii) Số liệu liên quan
đến công tác dự báo được quản lí có hệ thống và khoa học trong khoảng thời gian dài;
(iii) Cần có cơ chế chia sẻ thông tin chính thức và kịp thời giữa NHNN và Bộ Tài
chính; (iv) Thực hiện phương pháp quản lí dự trữ bắt buộc trùng một phần hoặc trùng
hoàn toàn; (v) Thống nhất phương pháp quản lí vốn tại các TCTD, đặc biệt là các
NHTM; (vi) Bộ phận quản lí VKD cần được nối mạng trực tiếp với các đơn vị cung
cấp thông tin; (vii) Nâng cao năng lực quản lí, khai thác thông tin và dự báo của cán bộ
quản lí VKD.

14

TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 của Luận án đã trình bày tổng quan về khái niệm VKD, quản lí
VKD trong điều hành CSTT của NHTƯ, các yếu tố cấu thành nên cung, cầu VKD,
nhân tố ảnh hưởng đến các yếu tố, NHTƯ cần lựa chọn phương pháp dự báo sự biến
động VKD căn cứ theo đặc điểm thể chế và nguồn thông tin báo cáo ở từng quốc gia,
lựa chọn biện pháp can thiệp điều chỉnh trạng thái VKD của toàn thị trường. Bên cạnh
đó, từ kinh nghiệm quản lí VKD trong điều hành CSTT ở một số nước để rút ra 7 bài

học với Việt Nam.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1.1. Mục tiêu điều hành Chính sách tiền tệ
2.1.1.1. Mục tiêu chính sách: NHNN Việt Nam theo luật năm 2010 hướng tới chủ
yếu là mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát.
2.1.1.2. Mục tiêu trung gian được NHNN lựa chọn là mức tăng của tổng phương
tiện thanh toán M2.
2.1.2. Thực trạng hệ thống công cụ của Chính sách tiền tệ
2.1.2.1. Hệ thống công cụ trực tiếp
- Công cụ lãi suất: là công cụ được NHNN VN sử dụng để tác động trực tiếp
tới mặt bằng lãi suất kinh doanh của TCTD: Từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002,
NHNN điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ; Từ tháng 6/2002 đến 5/2008: Cơ chế
lãi suất thỏa thuận; Từ tháng 5/2008 đến nay, sau Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN
do Thống đốc NHNN ban hành ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản
bằng Đồng Việt Nam; Từ đầu năm 2011 đến nay, Thống đốc ban hành quy định hành
chính buộc các NHTM không được vượt trần mức lãi suất tiền gửi theo quy định.
2.1.2.2. Hệ thống công cụ gián tiếp
- DTBB: Từ khi có luật NHNN và đặc biệt là có quy chế, quyết định chi tiết
về quản lý DTBB, các chế tài thực hiện khi dư thừa và thiếu hụt DTBB đã tác động
đến ý thức chấp hành DTBB của các TCTD được cải thiện rõ rệt, đa số các NHTM
đều duy trì đủ và thừa DTBB. Việc chấp hành DTBB của TCTD đã tạo điều kiện
thuận lợi cho bộ phận dự báo VKD đưa ra kết quả dự báo tốt và cải thiện chất lượng
15

công tác quản lý VKD.

- Chính sách tái cấp vốn: Hệ thống văn bản dần theo thông lệ quốc tế nhưng nếu
kết hợp với sự biến động về chỉ số lạm phát hàng tháng cho thấy NHNN rất bị động
trong việc quản lí VKD để xác định mục tiêu và sử dụng công cụ điều hành CSTT thích
hợp, dẫn đến hiện tượng cặp lãi suất TCV, TCK chưa mang tính định hướng cho thị
trường khi luôn được tăng giảm sau diễn biến của chỉ số lạm phát.
- Nghiệp vụ Thị trường mở: Số lượng thành viên thị trường mở tăng dần
qua các năm, nhưng với tốc độ chậm, chỉ 1-2 thành viên mỗi năm, 2012 tăng mạnh.
Tần suất giao dịch trên thị trường mở tăng mạnh qua các năm, thể hiện khả năng can
thiệp, tác động tích cực của công cụ này tới trạng thái VKD của thị trường.
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.2.1. Hệ thống văn bản pháp quy liên quan tới quản lý VKD của NHNN VN
2.2.1.1. Về quản lý VKD: Quyết định số 37/2000/QĐ – NHNN1 về quy chế quản lý
VKD và Quyết định số 38/2000/QĐ-NHNH1 về kỳ dự báo và định kỳ cung cấp
thông tin cho công tác quản lý VKD.
2.2.1.2. Về biện pháp can thiệp trong quản lí VKD: Nghiệp vụ Thị trường mở,
DTBB, Chính sách tái cấp vốn.
2.2.2. Quy định về kì dự báo, nguồn thông tin và định kỳ cung cấp thông tin
Kỳ dự báo VKD: là 3 kỳ trong một tháng. Kỳ thứ nhất từ ngày 01 đến ngày 10
của tháng. Kỳ thứ hai từ ngày 11 đến ngày 20 của tháng. Kỳ thứ ba từ ngày 21 đến
ngày cuối tháng.
Nguồn thông tin và định kì cung cấp thông tin về các yếu tố cần dự báo:
- Giá trị Tài sản Có ngoại tệ ròng: SGD NHNN cung cấp các thông tin của
ngày làm việc trước vào cuối giờ mỗi ngày làm việc; Vụ Quản lý ngoại hối: cung cấp
các thông tin trong vòng 5 ngày làm việc đầu tháng.
- Cho vay Chính phủ ròng: Cơ chế chia sẻ thông tin giữa NHNN và BTC được
thực hiện hàng tháng.
- Cho vay hệ thống NH: Các thông tin này được lấy từ Sở Giao dịch và Vụ Tín
dụng thông qua mạng điện thoại, fax và đường công văn.
- Tài sản Có khác ròng: Vụ Kế Toán Tài chính gửi bằng công văn hoặc fax

theo định kỳ 10 ngày một lần.
- Tiền mặt ngoài lưu thông: Cục phát hành và Kho quỹ tổng hợp báo cáo theo
16

định kỳ 5 ngày 1 lần. Vụ Kế toán - tài chính cung cấp các thông tin thực hiện của kỳ
trước và dự báo kỳ tiếp theo trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo sau khi kết thúc kỳ
dự báo.
2.2.3. Thực trạng quản lý VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của NHNN VN
2.2.3.1. Tình hình dự báo VKD của NHNN VN thời gian qua
Cơ sở dự báo VKD: dựa vào sự biến động số dư tiền gửi của các TCTD tại NHNN.
Phương pháp, kĩ thuật dự báo VKD
- Phương pháp dự báo: Việt Nam thực hiện dự báo bằng cách tiếp cận từ
bảng cân đối tiền tệ và theo phương pháp dựa vào dãy số liệu lịch sử và có điều chỉnh
theo tính thời vụ là chủ yếu và đây cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến tại
một số nước như Mĩ, ECB, Trung Quốc… và theo hướng dẫn của IMF
- Kĩ thuật dự báo: Diễn biến của các yếu tố trên BCĐ TT của NHNN là cơ sở
để phân tích, tìm ra quy luật và dự báo sự biến động cung cầu VKD.
(i) Dự báo cung VKD: Thực trạng sự biến động Cung VKD được chia ra một số
giai đoạn khác nhau cho thấy do tình hình biến động vĩ mô mạnh đặc biệt từ năm 2008
đến 2011 làm cho các yếu tố về cung tự định và cung chính sách trên BCĐ TT của
NHNN có nhiều thay đổi không theo quy luật, dẫn đến sự khó khăn trong dự báo VKD,
luận án đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố tác động đến Cung VKD cho
thấy khoản mục Tài sản có ngoại tệ ròng có ảnh hưởng mạnh nhất tới Cung VKD.
(ii) Dự báo cầu VKD: Do NHNN VN hiện duy trì tiền gửi DTBB và thanh
toán trên cùng tài khoản nên càng thể hiện rõ mối quan hệ khăng khít của hai loại tiền
gửi này tới khả năng đáp ứng cầu VKD. Qua mô hình kinh tế lượng cho thấy tiền gửi
DTBB có ảnh hưởng mạnh tới cầu VKD. Phần chênh lệch còn lại sau khi trừ DTBB
là rất nhỏ trong giai đoạn 2008-2012 cho thấy mức độ căng thẳng VKD của hệ thống
NH và việc thực hiện quản lí VKD chặt chẽ của NHNN.
2.2.3.2. Biện pháp can thiệp được sử dụng và diễn biến trên thị trường tiền tệ

liên ngân hàng
 Biện pháp can thiệp: NHNN sử dụng duy nhất công cụ NV TTM để quản lí
VKD trong ngắn hạn. Thông qua số liệu về tần suất, khối lượng trúng thầu và phương
thức giao dịch trong NV TTM giai đoạn 2000-2012 cho thấy khả năng điều tiết của
nghiệp vụ thị trường mở đến trạng thái VKD và các điều kiện tiền tệ ngày càng cải
thiện. Nghiệp vụ TTM thể hiện ngày càng rõ vai trò điều chỉnh trạng thái VKD trên
thị trường, khi mức độ phụ thuộc vốn của hệ thống NH vào NHNN là rất lớn để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn của mình.
17

 Kết quả can thiệp: TTTT LNH là nơi thể hiện đầu tiên của hành vi điều tiết
VKD của NHNN. Mặc dù NHNN vẫn đang lựa chọn mục tiêu mặt lượng là khối tiền
trung ương là mục tiêu hoạt động, nhưng doanh số giao dịch và mức lãi suất trên TTTT
LNH vẫn phần nào phản ánh quan hệ cung cầu VKD của thị trường, nơi nhận tác động
và truyền tải tác động của CSTT, trực tiếp thể hiện kết quả quản lý VKD của NHNN.
Doanh số giao dịch trên TTTTLNH Việt Nam tăng trưởng mạnh qua các năm và
có xu hướng tăng dần qua các quý, quý 1 có doanh số thấp nhất rồi tăng dần qua quý
2, 3 và 4 - phản ánh rõ ràng khả năng quản lý khai thác VKD của TCTD tham gia
vào TT LNH được cải thiện và thị trường xuất hiện quy luật biến động trạng thái
cung cầu VKD. Đây chính là thông tin rất quan trọng cho những dự báo, quản lí
VKD của NHNN.
2.2.4. Đánh giá định lượng về sự ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành Cung
Cầu VKD tới trạng thái VKD trên BCĐ tiền tệ của NHNN Việt Nam
Trên cơ sở các mô hình lí thuyết được xây dựng trong chương 1 và nguồn số
liệu từ IFS đã được trình bày sơ lược trong mục 2.2.3,1 phần này sẽ đề cập tới kết quả
ước lượng các mô hình lý thuyết đã được trình bày trong 1.2.1
Mô hình 1: Sự tác động của Tài sản có ngoại tệ ròng lên Cung vốn khả dụng
Mô hình giải thích được tới 88,9252% cho sự biến động của Cung vốn khả
dụng (R2 = 0.889252).[Phụ lục 1]
Mô hình 2: Sự tác động của Cho vay Chính phủ ròng lên Cung VKD

Bảng 2 cho thấy mô hình này giải thích được 56,1404% cho sự biến động của
Cung vốn khả dụng (R2 = 0.561404). [Phụ lục 2]
Mô hình 3: Sự tác động của Các khoản mục khác ròng lên Cung VKD. Mô
hình (3) có hệ số xác định khá nhỏ, bằng 0,225072 và kết quả kiểm định cho thấy mô
hình tuy phù hợp nhưng tỷ lệ giải thích thấp [Phụ lục 3]
Mô hình 4: Sự tác động của khoản mục Cho vay hệ thống NH lên Cung VKD.
Bảng 4 cho thấy khoản mục Cho vay các ngân hàng giải thích được 61,7354% cho sự
biến đổi của Cung VKD. Cụ thể, khi CVNH tăng/giảm 1% thì Cung vốn khả dụng
trung bình sẽ tăng/giảm 0,274952% [Phụ lục 4]
Mô hình 5: Sự tác động của dự trữ bắt buộc lên Cầu vốn khả dụng
Mô hình này giải thích được 69,95 % cho sự thay đổi của Cầu vốn khả dụng và
khi DTBB tăng/giảm 1% thì Cầu VKD tăng/giảm tương ứng 0,549116 %, cầu VKD
thực sự phụ thuộc vào DTBB. [Phụ lục 5]
Mô hình 6: Sự tác động của tổng nguồn vốn huy động toàn ngành lên tiền gửi
18

thanh toán tại NHNN: khi VHDTN tăng/ giảm 1% thì lượng TGTT sẽ tăng/giảm khoảng
0,896425%; mối quan hệ của hai biến số này là thuận chiều. [Phụ lục 6]
Mô hình 7: Sự tác động của tiền gửi thanh toán tại NHNN tới GDP
Mô hình (7) giải thích được 81,4606% cho sự biến động của tổng sản phẩm
quốc nội. Như vậy, khi lượng tiền gửi thanh toán tăng/ giảm 1% thì tổng sản phẩm
quốc nội tăng/ giảm 0,625168%. [Phụ lục 7]
Mô hình 8: Sự tác động của tiền gửi thanh toán tại NHNN Việt Nam tới M2:
khi tiền gửi thanh toán tại NHNN tăng/ giảm 1% thì khối lượng cung tiền M2 sẽ tăng/
giảm tương ứng 0,946356%. [Phụ lục 8]
2.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU
HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.3.1. Kết quả đạt được: Hệ thống văn bản liên quan đến quản lý vkd ngày càng đầy
đủ; Phương pháp dự báo VKD theo chuẩn quốc tế; Hệ thống thông tin đa dạng và
tương đối cập nhật, cơ chế chia sẻ thông tin được thực hiện theo Nghị định; Nghiệp

vụ thị trường mở dần thể hiện hiệu quả quản lý VKD; Lãi suất nghiệp vụ TTM biến
động gần hơn với lãi suất trên TT LNH.
2.3.2. Một số hạn chế: Kết quả dự báo chưa ổn định do sự thay đổi mạnh của các yếu
tố dự báo; Hoạt động quản lý và can thiệp thị trường chưa tạo ra các tác động mang
tính định hướng; Cơ chế chia sẻ thông tin chưa đầy đủ, hệ thống số liệu còn manh mún,
hệ thống thông tin báo cáo chưa bao quát; Thời gian dự báo VKD là ngắn hạn; Hiệu
quả quản lý VKD của NHNN chưa tác động đến toàn thị trường; Các giao dịch trên TT
LNH chưa phản ánh đúng trạng thái VKDchung của hệ thống NH.
2.3.3. Nguyên nhân
2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan: Môi trường kinh tế vĩ mô thiếu ổn định; TTTT
LNH Việt Nam vẫn là thị trường phân tách, chưa thu hút được nhiều thành viên tham
gia. Các phương thức giao dịch tiên tiến trên TT LNH chưa được áp dụng rộng rãi;
Văn bản pháp lý quy định hoạt động của TT LNH chưa cụ thể; Sự thiếu minh bạch,
công khai hóa thông tin; Thị trường tài chính chưa phát triển.
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan: Văn bản pháp quy liên quan đến quản lý VKD
chưa đầy đủ; NHNN chưa xác định rõ mục đích quản lý VKD và các biện pháp can
thiệp trạng thái VKD khác ngoài nghiệp vụ TTM; Hoạt động thanh toán của NHNN
còn hạn chế; Cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc phục vụ cho hoạt động quản lý
VKD chưa hiện đại; Việc áp dụng chế tài xử phạt hành vi không tuân thủ quy định
cung cấp thông tin cho NHNN đối với NHTM chưa được coi trọng.
19


TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương hai tập trung phân tích, phản ánh, đánh giá thực trạng công tác quản lí
VKD của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2012. Thực tế cho thấy cùng với nỗ
lực biến NHNN VN thành một NHTƯ hiện đại thì công tác quản lí VKD trong điều
hành CSTT cũng đã thay đổi. Việc quản lí VKD dần được chuẩn hóa và công tác dự
báo, quản lí VKD đã dần góp phần nâng cao hiệu quả điều hành CSTT của NHNN.


CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG
TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1.1. Định hướng hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Hướng tới mô hình NHTƯ hiện đại, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Châu
Á sau năm 2010; Xây dựng và thực thi có hiệu quả CSTT nhằm ổn định giá trị đồng
tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, thực
hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3.1.2. Định hướng điều hành Chính sách tiền tệ và quản lí vốn khả dụng trong
điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNN xác định định hướng, mục tiêu điều hành Chính sách tiền tệ giai đoạn
2010-2015: (i) Tiếp tục điều hành CSTT chặt chẽ và linh hoạt để ưu tiên kiểm soát lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức phù hợp; Thị trường tiền
tệ, ngoại hối ổn định phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô; Hoạt động hệ thống TCTD an
toàn, tuân thủ theo quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; (ii) Tổng
phương tiện thanh toán tăng đúng mức đã thông qua Quốc hội; lãi suất và tỷ giá được
điều hành ở mức hợp lí phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, diễn biến thị trường
tiền tệ, ngoại hối.
NHNN đề cập tới quản lý VKD và các biện pháp quản lý VKD thông qua
công cụ CSTT như sau: Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ của CSTT,
đảm bảo kiếm soát lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiểm soát tổng phương
tiện thanh toán và tín dụng tăng trưởng theo mục tiêu đã thông qua;
20

Đối với thông tin, số liệu phục vụ hoạt động dự báo và điều hành CSTT: (1) Tổ
chức hệ thống thu thập thông tin, số liệu hiệu quả đảm bảo việc thu thập, tổng hợp số
liệu chính xác và kịp thời hơn. Phối hợp với các Bộ, ngành để nâng cao chất lượng

lập, phân tích, dự báo cán cân thanh toán quốc tế phục vụ cho điều hành CSTT, tỷ
giá; (2) Theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính tiền tệ trong nước và
quốc tế để cập nhật kịp thời các dự báo về kinh tế vĩ mô, diễn biến các chỉ tiêu tiền tệ
phục vụ cho việc đề xuất kịp thời các giải pháp điều hành CSTT và hoạt động NH;
(3) Chỉ đạo, hướng dẫn các TCTD thực hiện đúng chế độ hạch toán kế toán, báo cáo
thống kê…
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG
ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
3.2.1. Nhóm giải pháp mang tính pháp lí
3.2.1.1. Ban hành bổ sung văn bản pháp quy liên quan tới hoạt động quản lý
VKD của NHTƯ: Hiện nay, hệ thống văn bản có liên quan trực tiếp tới quản lý
VKD vẫn là quyết định 37/2000/QĐ-NHNN và quyết định 38/2000/QĐ-NHNN
nhưng dừng lại ở việc mô tả giản đơn về khái niệm VKD và quản lý VKD; Các bước
quản lý và dự báo VKD; Nguồn thông tin…mà chưa đề cập cụ thể về mục đích và
mục tiêu trong quản lý VKD của NHNN.
- Sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý VKD theo hướng: Xem xét lại khái
niệm Vốn khả dụng; Bổ sung mục đích quản lý VKD của NHNN Việt Nam; Bổ sung
mục tiêu quản lý VKD; Bổ sung các hình thức thu thập thông tin, nguồn thông tin
phục vụ cho hoạt động dự báo VKD; Mở rộng việc sử dụng kết quả dự báo VKD.
- Sửa đổi Quyết định về Định kì báo cáo: cần bổ sung yêu cầu đối với các kì
dự báo dài hạn trên 1 tháng, từ 6 tháng đến 1 năm. Đối với Định kì cung cấp thông tin:
NHNN nên xây dựng một chương trình phần mềm báo cáo nhanh, tổng hợp cho các
đơn vị liên quan.
3.2.1.2. Xác định khuôn khổ điều tiết VKD và biện pháp can thiệp phù hợp hơn
với thị trường
- Xác định lãi suất LNH là mục tiêu điều hành của quản lý VKD của NHNN:
Thực tế cho thấy mối quan hệ ngày càng khăng khít của trạng thái VKD của các
TCTD với mức lãi suất trên TT LNH.
- Lựa chọn biện pháp điều tiết phù hợp hơn với thị trường: NHNN nên xác
định cụ thể hơn việc sử dụng công cụ trong từng giai đoạn. Với mục tiêu tạo tác động

nhanh và ngắn hạn sẽ sử dụng công cụ nghiệp vụ TTM, với tác động lâu dài và bền
21

vững, sẽ sử dụng kết hợp nghiệp vụ TTM với DTBB và Chính sách tái cấp vốn.
3.2.2. Giải pháp liên quan tới công tác dự báo VKD trong điều hành CSTT
3.2.2.1. Tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin với BTC và các Bộ, ngành khác
Việc các Bộ ngành chia sẻ thông tin với NHNN là việc các bên cùng có lợi,
NHNN có hệ thống dữ liệu chuẩn nhằm cung cấp thông tin cho công tác dự báo và các
bên liên quan có số liệu dự báo VKD chính xác hơn làm tiền đề cho các can thiệp vĩ
mô khác.
3.2.2.2. Áp dụng mô hình định lượng trong công tác quản lí và dự báo VKD
trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam
Từ việc dự báo trạng thái cung cầu của thị trường đến việc xác định sử dụng biện
pháp nào để can thiệp thị trường cho phù hợp và hiệu quả nhất với thị trường thì nên
có những phân tích định lượng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới
cung cầu VKD, từ đó lựa chọn đúng công cụ can thiệp. Luận án khuyến nghị sử dụng
Các mô hình được xây dựng, đưa ra ở chương 1 (mục 1.2) đã được ứng dụng trong
chương 2 (mục 2.2.3.1) của Luận án và cho thấy tính hữu dụng của mô hình khi đánh
giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành Cung cầu VKD theo phương
pháp dự báo dựa trên BCĐ TT của NHTƯ tới trạng thái VKD với độ tin cậy cao.
3.2.2.3. Bổ sung, đào tạo thêm nguồn nhân lực chuyên trách quản lý VKD để
điều hành CSTT
Để có thể tăng hiệu quả quản lý VKD, NHNN cần có đội ngũ chuyên gia đảm
nhiệm công tác thống kê, phân tích, xử lý mô hình và đưa ra kết quả báo cáo ban điều
hành, phục vụ cho công tác điều hành hoạt động nghiệp vụ thị trường mở và quản lý
VKD trong ngắn và dài hạn.
3.2.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện biện pháp can thiệp quản lý VKD trong điều
hành CSTT của NHNN Việt Nam
3.2.3.1. Giải pháp hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong quản lý
VKD của NHNN Việt Nam: NHNN cần thực hiện đa dạng hóa về kì hạn của Tín

phiếu Kho bạc; Đa dạng hóa, mở rộng chủng loại GTCG được sử dụng giao dịch
trong NV TTM; Đa dạng hóa kì giao dịch, phương thức mua bán trong một phiên, bổ
sung thêm kì hạn giao dịch…
3.2.3.2. Giải pháp hoàn thiện công cụ DTBB
- Thay đổi phương pháp quản lý DTBB sang trùng một phần và tiến tới chuyển
hẳn sang phương pháp trùng hoàn toàn để tăng cường hiệu quả của công tác quản lý
22

VKD trong điều hành CSTT.
- Rút ngắn độ dài kì xác định và kì duy trì xuống còn 15 ngày thay cho 1 tháng
như hiện nay.
- Áp dụng tỉ lệ dự trữ bắt buộc riêng cho các TCTD căn cứ vào quy mô vốn
huy động và tài sản, mức độ an toàn trong hoạt động của TCTD.
3.2.4. Nhóm giải pháp hỗ trợ
3.2.4.1. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cần thiết cho sự phát triển của thị
trường LNH
- Ban hành văn bản bổ sung có liên quan tới phương thức giao dịch trên TT LNH;
- Thống nhất quan điểm xây dựng mô hình TT LNH.
- Khuyến khích sự phát triển của các trung gian môi giới tiền tệ.
3.2.4.2. Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin của TT LNH
- Cải tiến hơn về chất lượng hệ thống thông tin của TT LNH và TTTT nói chung;
- Áp dụng công nghệ mới và nâng cấp hệ thống thông tin hỗ trợ thị trường,
đảm bảo thông tin cung cấp đầy đủ, kịp thời và có chất lượng. Áp dụng công nghệ
mới và nâng cấp hệ thống thông tin hỗ trợ thị trường, đảm bảo thông tin cung cấp đầy
đủ, kịp thời và có chất lượng.
3.2.4.3. Hoàn thiện công tác quản lý vốn tại TCTD
- Tăng cường năng lực quản lý và khai thác vốn của các TCTD, các TCTD cần
nhanh chóng: Hoàn thiện hệ thống thông tin thanh toán nhằm thực hiện quản lý vốn
tập trung; Tăng cường công tác đào tạo cán bộ trong hoạt động thị trường tiền tệ.
- Hoạch định và lựa chọn chiến lược quản lý thanh khoản thống nhất;

- Hoàn thiện cơ chế và chính sách quản lý thanh khoản.
3.2.4.4. Giải pháp phát triển TTTT
- Phát triển và hoàn thiện cấu trúc TTTT Việt Nam;
- Hình thành, phát triển các nhà tạo lập thị trường và các thành viên khác
tham gia TTTT;
- Phát triển hạ tầng và hoàn thiện quy tắc giao dịch của TTTT Việt Nam;
- Tiếp tục đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
3.3. KIẾN NGHỊ
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ
- Điều chỉnh, hoàn thiện Luật Ngân hàng theo hướng Hoàn thiện khung pháp lí
23

cho điều hành CSTT nói chung và quản lý VKD nói riêng;
- Tăng cường mối quan hệ thường xuyên giữa NHNN với BTC và các Bộ,
ngành liên quan; Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin giữa các Bộ, Ngành;
- Hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính, tiền tệ theo chiều sâu nhằm tăng
liên kết giữa các bộ phận của TTTC để truyền tải hiệu quả tác động của điều tiết
VKD thông qua tín hiệu thị trường.
3.3.2. Kiến nghị với các Bộ, ngành khác
- BTC phối hợp với NHNN phát hành TPKB với kì hạn đa dạng hơn;
- BTC cân nhắc việc tăng tần suất đấu thầu Tín phiếu và trái phiếu Kho bạc lên
4 phiên một tuần.
- BTC xem xét xây dựng chế độ khuyến khích phù hợp với NHTM, các TCTD
phi NH cam kết thường xuyên tham gia mua Tín phiếu phát hành lần đầu thông qua
các chính sách ưu đãi như thuế
- BTC cần công bố thông tin rộng rãi các kế hoạch đấu thầu của năm sau trước
thời điểm kết thúc năm tài khóa (31/12), có lộ trình công khai thông tin tổng kết đấu thầu
Tín phiếu, Trái phiếu Chính phủ trên các phương tiện thông tin chính thức của BTC.
- Đẩy mạnh hoạt động của UBGS tài chính QG, NHNN, BTC trong việc
giám sát TTTT thông qua các biện pháp can thiệp hành chính phù hợp với sự phát

triển của thị trường;
- Nâng cao vai trò của Hiệp hội ngân hàng;
- Thu thập thông tin và giám sát hiệu quả các hoạt động thị trường.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương 3 đã khái quát định hướng hoạt động, định hướng điều hành CSTT và
quản lí VKD của NHNN Việt Nam. Nhóm giải pháp đề xuất bao gồm: Nhóm giải
pháp liên quan tới pháp lí, nhóm giải pháp liên quan tới công tác dự báo VKD trong
điều hành CSTT, nhóm giải pháp hoàn thiện các biện pháp can thiệp nhằm quản lí
VKD, nhóm giải pháp hỗ trợ. Đồng thời Luận án đưa ra một số kiến nghị với Chính
phủ, Bộ, ngành liên quan và với các tổ chức trung gian tài chính nhằm nâng cao tính
khả thi của các giải pháp, giúp NHNN hoàn thiện hơn hoạt động quản lí VKD để điều
hành hiệu quả CSTT.


24


KẾT LUẬN
Đối chiếu với mục đích nghiên cứu được nêu trong phần mở đầu, luận án về
“Quản lý VKD của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong điều hành Chính sách tiền
tệ” đã hướng tới các kết quả sau:
1. Luận án tổng hợp các lí luận về công tác quản lý VKD của NHTW trong
kinh tế thị trường, nghiên cứu kinh nghiệm của NHTM một số nước về quản lý VKD,
qua đó rút ra bài học mà NHNN VN có thể nghiên cứu và vận dụng.
2. Tập trung phân tích thực trạng, kết quả và tồn tại trong hoạt động quản lý
VKD của NHNNVN chủ yếu trong giai đoạn từ 2000 tới nay.
3. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận cũng như phân tích thực trạng, luận án đã đưa
ra một số giải pháp (4 nhóm giải pháp chính) và kiến nghị (với Chính phủ; Bộ, ngành
liên quan; Tổ chức trung gian tài chính) nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý

VKD trong điều hành CSTT của NHNN VN.
Những hạn chế của đề tài và hướng gợi ý cho các nghiên cứu sau này:
Đề tài mới dừng lại ở việc NHNN quản lí VKD đối với đồng Việt Nam, vì vậy,
những tác động qua lại giữa sự biến động về tỷ giá tới việc quản lí VKD và ngược lại
chưa được đề cập tới trong Luận án. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế, luồng
ngoại tệ chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào thể chế chính trị,
môi trường đầu tư, sự ổn định của thị trường tài chính…làm tỷ giá càng có cơ hội
biến động nhanh và tác động sâu, rộng tới nền kinh tế. Trong luận án đã chỉ ra trong
nghiên cứu định lượng rằng khoản mục Tài sản có ngoại tệ ròng chính là nhân tố có
mức độ ảnh hưởng lớn nhất tới cung VKD và từ đó có ảnh hưởng lớn tới hoạt động
quản lí VKD của NHNN Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu sâu về sự thay đổi của tỷ
giá tới hoạt động quản lí VKD của NHNN là một hướng nghiên cứu gợi ý trong
tương lai.
Tóm lại, mặc dù còn một số hạn chế nhất định nhưng Luận án cũng đã đảm
bảo giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu và trả lời được toàn bộ câu hỏi nghiên
cứu của mình.
Với những kết quả trên, luận án mong muốn đóng góp một hướng nghiên cứu
vào việc nâng cao năng lực quản lý VKD trong điều hành CSTT của NHNNVN trong
thời gian tới. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học để
Luận án được hoàn chỉnh hơn.

×