Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (138.44 KB, 16 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Sức khỏe hiện tại của một công ty được đo lường qua hoạt động kinh
doanh, hệ thống và nguồn lực, còn triển vọng phát triển lớn mạnh về lâu dài thì
phụ thuộc chủ yếu vào chiến lược.
Ngoài mục đích định vị chiến lược và xây dựng lợi thế cạnh tranh, chiến
lược còn đóng vai trò quan trọng trong công tác hoạch định hoạt động của công
ty. Một thực tế là nhiều công ty của ta còn chưa có kế hoạch hoạt động hàng
năm. Cái mà nhiều người gọi là "kế hoạch" nhiều khi chỉ là mấy con số doanh
thu, sản lượng, lợi nhuận, chi phí, và chấm hết! Số khác thì cũng có xây dựng kế
hoạch nhưng chất lượng chưa cao, nghĩa là giữa kế hoạch và thực hiện còn có
một khoảng cách quá xa.
Thực ra, sở dĩ nhiều công ty cảm thấy khó trong việc hoạch định hoạt
động công ty là bởi vì công ty ấy không có chiến lược. Kế hoạch đặt ra là thế
nhưng khi thực hiện có được như vậy hay không còn phụ thuộc rất lớn vào chiến
lược. Một bản kế hoạch hoạt động mà được xây dựng dựa trên cơ sở một chiến
lược đúng đắn thì bao giờ cũng khả thi hơn một bản kế hoạch hoạt động chỉ đơn
thuần dựa trên ý muốn chủ quan của người lập ra bản kế hoạch.
Để tìm hiểu sâu hơn về chiến lược của một công ty thì đầu tiên chúng ta
phải tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến các chiến lược của công ty. Vì vậy
nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài : “các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược của
doanh nghiệp”. Hi vọng với những kiến thức mà chúng em đã xây dựng trong
bài tiểu luận sẽ giúp mọi người có được những hiểu biết sâu hơn về nghành quản
trị và nó sẽ có ích cho những nhà quản trị trong tương lai.
1
PHOTO QUANG TUẤN
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: ; Fabook: vttuan85
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vài nét về hoạch định chiến lược
Hoạch định là một quá trình mang tính liên tục có sự cân nhắc, tính toán


trên cơ sở dự báo thông qua việc phân tích môi trường kinh doanh và quyết định
là nội dung cơ bản của hoạt động quản trị, vì tất cả mọi việc của doanh nghiệp
điều hành hằng ngày cho đến việc giải quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế lớn đều
tiến hành trên cơ sở những quyết định thích hợp.
Trong khoa học quản trị, quản trị chiến lược được hiểu là việc quản trị tài
nguyên trong hoạt động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiên lâu dài một
cách hiệu quả nhất. Hoạch định chiến lược là một quá trình nhận xét, đánh giá,
phân tích và lựa chọn các phương án khả thi trên cơ sở xác định mục tiêu của
doanh nghiệp.
1.2 Khái niệm chiến lược của doanh nghiệp
Trong thực tế, đã có rất nhiều chứng minh nếu không xác định được một
chiến lược phát triển đúng, nhà doanh nghiệp rất có thể tự mình lao vào những
cạm bẫy không thể rút ra được, dẫn đến tình hình kinh doanh sa sút và thậm chí
phá sản. Doanh nghiệp có thể đặt mục tiêu và quyết định đầu tư vào một lĩnh
vực mới với hy vọng phát triển, nhưng điều đó không thể đánh giá được hết đối
thủ cạnh tranh của mình mà còn có thể dẫn đến thua lỗ. Nguyên nhân dẫn đến
việc doanh nghiệp ngày càng sa sút có thể rất nhiều, có thể là rõ ràng hoặc còn
tiềm ẩn. Có thể do doanh nghiệp không có một bộ máy tổ chức hợp lý, quản lý
nhân sự chưa hiệu quả, chi phí quản lý quá cao hoặc cũng có thể do sản phẩm
của doanh nghiệp không được đổi mới, không sử dụng đúng các chiến lược về
giá cả, về kinh doanh
Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng
mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội
và thách thức từ bên ngoài. Vì vậy, trước hết, chiến lược liên quan tới các mục
tiêu của doanh nghiệp. Thứ đến, chiến lược doanh nghiệp bao gồm không chỉ
những gì doanh nghiệp muốn thực hiện, mà còn là cách thức thực hiện những
2
việc đó, là một loạt các hành động và quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau
và lựa chọn phương pháp phối hợp những hành động và quyết định đó. Ông
Đoàn Kiến Bình, một chuyên gia có hơn 20 năm kinh nghiệm trong hoạt động

phát triển kinh doanh va quản trị marketing nói:
Thị trường luôn luôn biến động, nhu cầu của người tiêu dùng cũng luôn
luôn thay đổi. Vì vậy nếu không xây dựng chiến lược kinh doanh sẽ không có
những hướng đi đúng đắn và thích hợp với hoàn cảnh mới. Bên cạnh đó, xây
dựng chiến lược kinh doanh còn kết hợp được sức mạnh cùng hướng về một
đích của tất cả mọi người. Thời đại ngày nay doanh nghiệp không thể thắng
được nếu không có chiến lược kinh doanh. Bởi đây là thời đại cạnh tranh khốc
liệt, tình trạng thị trường cạnh trang tự do, mở cửa, dư thừa hàng hóa và sở thích
của người tiêu dùng đa dạng hóa. Tất nhiên, có khi doanh nghiệp không có chiến
lược kinh doanh vẫn tồn tại được nhưng đó phải là thời đại xã hội không có cạnh
tranh, thời kỳ hàng hóa thiếu thốn.
Chiến lược là một xâu chuỗi, một loạt những hoạt động được thiết kế
nhằm để tạo ra lợi thế cạnh tranh lâu dài so với các đối thủ. Trong môi trường
hoạt động của một công ty, bao gồm cả thị trường và đối thủ, chiến lược vạch ra
cho công ty một cách ứng xử nhất quán. Chiến lược thể hiện sự một chọn lựa,
một sự đánh đối của công ty mà giới chuyên môn thường gọi là định vị chiến
lược.
Công ty hoạt động mà không có chiến lược ví như một người đi trên
đường mà không xác định minh đi đâu, về đâu, cứ mặc cho đám đông (thị
trường và đối thủ) đẩy theo hướng nào thì dịch chuyển theo hướng đấy. Nếu cứ
tiếp tục đi như vậy thì mãi mãi người ấy sẽ chỉ là một người tầm thường lẫn
mình trong đám đông .
Một nhà lãnh đạo có bản lĩnh sẽ không muốn phó mặc tương lai của
doanh nghiệp mình cho thị trường và đối thủ muốn dẫn đi đâu thì theo đó. Muốn
vậy ông ta phải chủ động vạch ra một hướng đi và cố gắng tác động để dẫn dắt
3
thị trường đi theo hướng nầy, một hướng đi mà công ty của ông ấy đã chuẩn bị
và do đó sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn những người khác.
Trong bất kỳ một cuộc đối đầu nào, đối thủ nào áp đặt được lối chơi của
mình lên đối phương thì sẽ là người có nhiều cơ hội chiến thắng hơn.

Nói một các đơn giản, chiến lược là một sự định hướng cho con đường đi
tới của doanh nghiệp. Việc kinh doanh, dù đơn giản như đi bán báo dạo, cũng
không thể trông chờ vào sự ngẫu hứng hay may rủi. Không thể hôm nay bán
báo, mai chuyển sang bán vé số, mốt lại đi bán thuốc lá. Một người bán dạo
cũng phải tự xác định mình sẽ bán báo, bán vé số hay thuốc lá, để mà chuẩn bị
vốn liếng, mối lái, đồ nghề và tìm kiếm khách hàng, xây dựng mối quen… Thế
rồi trong quá trình bán dạo, dần dần, người ta phải xác định cho mình một lộ
trình kiếm ăn, trên những con đường hoặc khu vực nhất định, định hình dần các
chiêu thức cạnh tranh… Những cái đó trở thành máu thịt, chi phối hành động
của người bán dạo hằng ngày, cho đến khi thị trường có sự thay đổi hay khi
người ta có vốn liếng và tìm ra một cơ hội kinh doanh mới.
1.3 Phân loại chiến lược trong doanh nghiệp
Trong một doanh nghiệp chiến lược có thể chia làm 3 cấp cơ bản: cấp
công ty, cấp đơn vị kinh doanh, cấp bộ phận chức năng, tiến trình thiết lập một
chiến lược ở các cấp có hình thức giống nhau gồm các giai đoạn cơ bản: phân
tích môi trường, xác định nhiệm vụ và mục tiêu, phân tích và lựa chọn chiến
lược, tổ chức thực hiện và kiểm tra chiến lược, nhưng nội dung chiến lược và ra
quyết định phụ thuộc vào các nhà quản trị là khác nhau.
1.3.1 chiến lược cấp công ty
Chiến lược cấp công ty xác định những định hướng của tổ chức trong dài
hạn nhằm hoàn thành nhiệm vụ, đạt được những mục tiêu tăng trưởng, ví dụ
như: chiến lược tăng trưởng tập trung ( thâm nhập thị trường, phát triển thị
trường, phát triển sản phẩm mới), chiến lược tăng trưởng hội nhập ( phía trước,
phía sau), chiến lược tăng trưởng đa dạng hóa ( đồng tâm, hàng ngang, hỗn
hợp), chiến lược liên doanh … Trên cơ sở chiến lược cấp công ty, các tổ chức
sẽ triển khai các chiến lược riêng của mình.
4
1.3.2 chiến lược cấp kinh doanh
Chiến lược cấp kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là một nghành
kinh doanh hoặc là một chủng loại sản phẩm, chiến lược này nhằm định hướng

phát triển cho từng nghành hay từng chủng loại sản phẩm góp phần hoàn thành
chiến lược cấp công ty, phải xác định rõ lợi thế của từng nghành so với đối thủ
cạnh tranh để đưa ra các chiến lược phù hợp với chiến lược của cấp công ty, ví
dụ: chiến lược tạo sự khác biệt, chiến lược chi phí thấp, chiến lược phòng thủ để
bảo vệ thị trường, chiến lược tấn công để phát triển thi trường. Trong nền kinh tế
thị trường có sự cạnh tranh gay gắt thì chiến lược marketing được xem là chiến
lược cốt lõi của cấp đơn vị kinh doanh, đóng vai trò liên kết giữa các bộ phận
chức năng khác.
1.3.3 Chiến lược cấp chức năng
Các công ty có các bộ phận chức năng như: marketing, nhân sự, tài chính,
sản xuất, nghiên cứu và phát triển ….Các bộ phận này cần có chiến lược để hỗ
trợ thực hiện chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty. Ví dụ: Bộ phận
marketing thì có chiến được 4Ps, bộ phận nhân sự thì có chiến lược thu hút nhân
tài, bộ phận tài chính có chiến lược giảm thiểu chi phí, chiến lược đầu tư cho sản
phẩm mới … Chiến lược cấp chức năng thường có giá trị trong từng giai đoạn
của quá trình thực hiện chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty.
Như vậy các chiến lược của 3 cấp cơ bản này không độc lập mà có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, chiến lược cấp trên là tiền đề cho chiến lược cấp
dưới, đồng thời chiến lược cấp dưới phải thích nghi với chiến lược cấp trên thì
tiến trình thực hiện chiến lược mới có khả năng thành công và đạt hiệu quả cao.
1.4 Vai trò của chiến lược doanh nghiệp
Là người chủ/người quản lý doanh nghiệp, bạn cần phải có một chiến
lược để thành công. Chiến lược kinh doanh nhìn về tương lai xa hơn của công
ty. Các ông chủ/người quản lý công ty rất dễ quên và bỏ qua chiến lược kinh
doanh bởi vì họ rất bận rộn với công việc hiện tại. Trong trường hợp này, bạn
không thể biết làm thế nào để định vị được công việc kinh doanh của bạn và
hiện nó đang ở vị trí nào. Với kỹ năng chiến lược tốt, bạn sẽ đặt ra các mục tiêu
5
thực tế và biết một cách rõ ràng về cách để đạt được chúng trong tương lai. Là
người chủ/người quản lý doanh nghiệp, bạn không thể ủy thác cho người khác

xây dựng chiến lược kinh doanh. Bạn phải quyết định tương lai của doanh
nghiệp hoặc là nó sẽ mất đi vị trí trên thị trường vào tay các đối thủ cạnh tranh.
1.5 Mục tiêu của việc xây dựng chiến lược
Một chiến lược cần bắt đầu bằng việc xác định các kết quả kỳ vọng
mà chiến lược kinh doanh được xác lập để thực hiện chúng. Các mục tiêu chiến
lược sẽ đóng vai trò định hướng cho các hoạt động của doanh nghiệp trong một
số năm.
Cần phân biệt giữa mục tiêu chiến lược với sứ mệnh, tầm nhìn của doanh
nghiệp. Thực tế, nhiều doanh nghiệp có xu hướng nhầm lẫn giữa mục tiêu với sứ
mệnh của doanh nghiệp. Sứ mệnh của doanh nghiệp chỉ ra mục đích hay lý do
tồn tại của doanh nghiệp vì vậy thường mang tính khái quát cao. Ngược lại, mục
tiêu chiến lược cần đảm bảo cụ thể, định lượng và có thời hạn rõ ràng.
Việc lựa chọn mục tiêu gì có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp lựa chọn lợi nhuận cao là mục tiêu chiến lược sẽ tập trung vào
phục vụ các nhóm khách hàng hay phân khúc thị trường đem lại lợi nhuận cao
bằng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hoặc hiệu suất chi phi phí vượt trội.
Ngược lại, việc lựa chọn mục tiêu tăng trưởng có thể dẫn dắt doanh nghiệp phải
đa dạng hóa dòng sản phẩm để thu hút các khách hàng ở nhiều phân đoạn thị
trường khác nhau.
Mục tiêu quan trọng nhất mà chiến lược kinh doanh hướng tới là lợi
nhuận cao và bền vững. Mục tiêu chiến lược thường được đo bằng tỷ suất lợi
nhuận trên vốn đầu tư (ROI) nhưng cũng có thể đo bằng các tỷ suất lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA). Doanh
nghiệp cũng có thể đưa các mục tiêu khác làm chiến lược như tăng trưởng, thị
phần, chất lượng, giá trị khách hàng… Việc lựa chọn mục tiêu nào phụ thuộc
vào ngành nghề và giai đoạn phát triển của mỗi doanh nghiệp, tuy nhiên doanh
nghiệp phải rất thận trọng trong việc lựa chọn mục tiêu tăng trưởng, giá trị cổ
6
phiếu hoặc lợi nhuận kế toán hàng năm làm mục tiêu chiến lược vì nó có thể dẫn
dắt doanh nghiệp đi theo hướng phát triển không bền vững.

1.6 Quá trình xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp
Ngoài những biện pháp đo lường thoả mãn khách hàng và tài chính truyền
thống, Công ty cần xây dựng các biện pháp thích hợp tại các phòng ban chuyên
môn nghiệp vụ, các chi nhánh xí nghiệp trực thuộc để thực hiện tốt các chiến
lược đã được đề ra. Các biện pháp khắc phục hỗ trợ cán bộ CNV và người lao
động làm việc nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược, xác định phạm vi thay
đổi và cải tiến.
Để tránh khỏi những sai lầm, lãnh đạo doanh nghiệp phải xác định rằng
nếu chỉ xây dựng và thông báo về chiến lược kinh doanh của đơn vị mình thông
qua các hội nghị là chưa đủ mà phải phân quyền cho từng cá nhân để họ chủ
động thực hiện tốt mọi công việc đã được giao. Nói cách khác, họ cần xác định
rõ các quá trình chính trong việc tạo ra và cung cấp giá trị cho khách hàng, nhận
biết được những khía cạnh nào của các quá trình góp phần đáng kể vào việc đạt
được mục tiêu chiến lược, đồng thời khuyến khích nhân viên thực hiện những
thay đổi và cải tiến các quá trình. Có thể nói, hoạch định chiến lược có hiệu quả
đòi hỏi phải chú trọng ba yếu tố chính đó là quá trình, biện pháp và tinh thần
trách nhiệm.
+ Bước 1: Xác định và thông hiểu các quá trình chính
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, Công ty cần đạt được mức độ tuyệt hảo trong
những lĩnh vực hoạt động của mình và các lĩnh vực này phải luôn gắn kết với
mục tiêu chiến lược đã đề ra. Một kế hoạch chiến lược có hiệu quả tập trung vào
việc tạo ra bước cải tiến quan trọng đối với doanh nghiệp, khách hàng và hầu hết
được gắn với hoạt động của thị trường. Kế hoạch này đòi hỏi phải có sự phân bổ
hợp lý về nguồn lực, việc chọn lựa thích hợp trong những quá trình cần cải tiến,
các biện pháp đo lường sự thành công của những nỗ lực đó và người chịu trách
nhiệm thực hiện cải tiến quá trình.
Công ty tiến hành thực hiện chiến lược thông qua những quá trình. Đôi
khi điều này được gọi là "sự phân phối giá trị" hay những quá trình kinh doanh
7
chính. Hầu hết các tổ chức kinh doanh đều có từ ba đến sáu quá trình chính và

các doanh nghiệp cùng ngành thường có các quá trình chính tương tự nhau.
Kinh nghiệm cho thấy, các tổ chức, doanh nghiệp thường cạnh tranh với nhau về
khách hàng, dành chiến thắng hay chịu thất bại trên thương trường cũng đều
thông qua những quá trình này. Do đó, khả năng và năng lực của quá trình trở
thành những điểm mấu chốt trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh và cần phải
được chú trọng để thực hiện các hoạt động cải tiến qua đó biến chiến lược kinh
doanh của Công ty thành hiện thực. Biết cách xác định đồng thời mô tả được
những quá trình là bước quan trọng đầu tiên để đưa ra quyết định một cách sáng
suốt về việc thực hiện chiến lược.
Khi đã xác định được điểm chính của mối quan hệ giữa chiến lược và quá
trình thì các phòng ban nghiệp vụ, các chi nhánh mới có thể tập trung ưu tiên các
hoạt động cải tiến của mình trên cơ sở các chiến lược đã đề ra, đồng thời xây
dựng các kế hoạch hành động cụ thể để cải tiến những lĩnh vực quan trọng mang
tính chiến lược. Trong nhiều trường hợp, các hoạt động cải tiến này sẽ mang lại
và nâng cao những năng lực mới cho các quá trình chính. Nhưng chúng cũng có
thể tạo nên những thay đổi của quá trình hỗ trợ. Quá trình hỗ trợ không liên
quan trực tiếp tới khách hàng bên ngoài, tuy nhiên, chúng cung cấp những thông
tin quan trọng, nguồn lực và sự hỗ trợ cho các quá trình kinh doanh chính và để
đảm bảo việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng nội bộ có hiệu quả, Công ty phải
thường xuyên đánh giá những quá trình này.
+ Bước 2: Xây dựng phương pháp phù hợp
Đo lường các quá trình làm việc không chỉ có thể thực hiện được mà nó còn
mang tính bắt buộc. Đặc biệt, điều này thực sự đúng đối với việc thực hiện một
chiến lược. Cách duy nhất để doanh nghiệp đảm bảo được sự liên kết giữa hoạt
động cải tiến và mục tiêu đạt được là bằng việc đo lường mức độ hiệu quả của
các quá trình thông qua chiến lược đã đề ra.
Một số yếu tố đo lường có thể bao gồm:
Các mục tiêu tài chính: doanh số bán hàng, lợi nhuận hoặc chi phí đạt
được mục tiêu.
8

Những yêu cầu và mong đợi của khách hàng, như về thời gian đáp ứng, độ chính
xác và chất lượng.
Các mục tiêu quá trình góp phần vào việc đạt được lợi thế cạnh tranh.
Khi đã thiết lập những mục tiêu về hiệu quả hoạt động, nhóm cải tiến có thể bắt
đầu phát triển năng lực quá trình cần thiết nhằm đáp ứng cho những mục tiêu
mới. Việc xác định, đánh giá và đo lường những năng lực quá trình giúp doanh
nghiệp tập trung vào việc tạo ra những thay đổi có ảnh hưởng thực sự mang tính
chiến lược và tránh lãng phí nguồn lực vào những hoạt động cải thiện không có
định hướng.
+ Bước 3: Xây dựng tinh thần trách nhiệm đối với những sự thay đổi
Việc liên kết những yếu tố chiến lược với các quá trình chính cho phép
doanh nghiệp biến chiến lược của mình thành những mục tiêu hoạt động cụ thể
mà mỗi phòng ban chức năng nghiệp vụ, các chi nhánh xí nghiệp trực thuộc cần
thực hiện. Lãnh đạo Công ty cũng cần định rõ chiến lược cụ thể trước khi thông
báo, thông qua các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ, các tổ chức đoàn thể cán
bộ CNV và người lao động. Việc thông báo chiến lược góp phần đẩy mạnh sự
liên kết giữa chiến lược và các hoạt động của mỗi phòng ban chức năng, các chi
nhánh xí nghiệp. Chỉ khi tất cả cán bộ công nhân viên và người lao động hiểu
chiến lược một cách rõ ràng, họ mới xác định được những việc cần làm và trách
nhiệm của mình đối với công việc. Mục tiêu cuối cùng đối với tất cả mọi người
là phải nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc thực hiện quá trình và
nâng cao sự huy động và chú trọng hợp tác để mang lại những cải tiến quá trình
có tầm quan trọng chiến lược.
Huy động sự tham gia của mọi người vào việc xây dựng các phương pháp
và thu thập dữ liệu về thực hiện quá trình là nhằm hướng tới xây dựng ý thức
trách nhiệm của cán bộ nhân viên. Lãnh đạo doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều
cách khác nhau để nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với công việc và đảm bảo
việc thực hiện có chất lượng.
Một là, thông qua việc quản lý hiệu quả của các hoạt động cải tiến, kể cả
những ghi nhận đóng góp và khen thưởng về tài chính và phi tài chính. Các cá

9
nhân ở mọi cấp độ cần được đánh giá về hiệu quả đáp ứng mục tiêu quá trình và
mức độ đóng góp của họ vào sự thành công của chiến lược.
Hai là, lãnh đạo doanh nghiệp có thể nâng cao tinh thần trách nhiệm của
cán bộ, nhân viên thông qua việc đưa ra những quyết định quản lý dựa trên các
dữ liệu và quá trình đồng thời thể hiện niềm tin vào những phương pháp cải tiến
quá trình. Hãy cùng nhau tạo ra một không gian văn hoá tổ chức mà ở đó mọi
người đều hiểu được tầm quan trọng của quá trình đối với chiến lược và nhận
thức được giá trị của việc cải tiến không ngừng.
10
CHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC CỦA
DOANH NGHIỆP
2.1 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chiến lược doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài là các yếu tố phức tạp mà nhà quản trị không kiểm
soát được nhưng chúng ảnh hưởng đến hoạt động và kết quản sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, luôn có nhiều cơ hội lẫn nguy cơ tác động đến hoạt
động của doanh nghiệp theo các mức độ khác nhau của doanh nghiệp. Việc đánh
giá các yếu tố bên ngoài nhằm phát hiện ra các tác nhân quan trọng, ảnh hưởng
tích cực, tiêu cực đến các chiến lược của công ty, đây là biện pháp quan trọng
giúp nhà quản trị ứng xử một cách linh hoạt và kịp thời với các tình huống phát
sinh trong các chiến lược của doanh nghiệp.
Có thể phân chia môi trường bên ngoài thành môi trường vi mô và môi
trường vĩ mô.
2.1.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội, địa lý, nhân
khẩu, công nghệ, tự nhiên, ảnh hưởng gián tiếp đến chiến lược của doanh nghiệp
Môi trường tự nhiên: tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Về cơ bản thường tác động bất lợi đối với các hoạt động của
doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có liên quan
đến tự nhiên như: sản xuất nông phẩm, thực phẩm theo mùa, kinh doanh khách

sạn, du lịch Để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên,các
doanh nghiệp phải tính đến các yếu tố tự nhiên có liên quan thông qua các hoạt
động phân tích, dự baó của bản thân doanh nghiệp và đánh giá của các cơ quan
chuyên môn. Các biện pháp thường được doanh nghiệp sử dụng : dự phòng, san
bằng, tiên đoán và các biện pháp khác Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các
doanh nghiệp như vấn đề tiếng ồn, ô nhiễm môi trường và các doanh nghiệp
phải cùng nhau giải quyết.
Kinh tế: Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của
nền kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hố đoái tất
cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
11
nghiệp.Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những
thách thức với doanh nghiệp.Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh
nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự
báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng
trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội , né tránh,
giảm thiểu nguy cơ và đe dọa.Khi phân tích, dự báo sự biến động của các yếu tố
kinh tế, để đưa ra kết luận đúng, các doanh nghiệp cần dựa vào 1 số căn cứ quan
trọng: các số liệu tổng hợp của kì trước, các diễn biến thực tế của kì nghiên
cứu,các dự báo của nhà kinh tế lớn
Kỹ thuật - Công nghệ: đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến
doanh nghiệp. Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản
xuất mới, kĩ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát
minh, phần mềm ứng dụng Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều
kiện ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất
lượng cao hơn nhằm phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy
vậy, nó cũng mang lại cho doanh nghiệp nguy cơ tụt hậu, giảm năng lực cạnh
tranh nếu doanh nghiệp không đổi mới công nghệ kịp thời.
Văn hóa - Xã hội: ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh
doanh của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn

hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Mỗi một sự thay
đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một ngành kinh doanh mới nhưng
cũng có thể xóa đi một ngành kinh doanh.
Chính trị - Pháp luật: gồm các yếu tố chính phủ, hệ thống pháp luật, xu
hướng chính trị các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của
doanh nghiệp. Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn
luôn là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư.Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên
hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn
thể hiện trong các quan hệ quốc tế. Để đưa ra được những quyết định hợp lí
trong quản trị doanh nghiệp, cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi của môi
trường trong từng giai đoạn phát triển.
12
2.1.2 Môi trường vi mô
Bao gồm các yếu tố trong nghành và là các yếu tố ngoại cảnh trong doanh
nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong nghành sản xuất đó. Có
5 yếu tố đó là: đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ tiềm ẩn,
sản phẩm thay thế. Để đề ra chiến lược thành công cần phải phân tích từng yếu
tố chủ yếu đó, sự hiểu biết về các yếu tố này giúp doanh nghiệp nhận ra các mặt
mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ mà
nghành kinh doanh đó gặp phải.
- Đối thủ cạnh tranh: là những doanh nghiệp kinh doanh cùng loại với
công ty, đối thủ cạnh tranh sẽ chia sẽ thị phần với công ty, đồng thời nó sẽ vượt
qua nếu lợi thế cạnh tranh cao hơn, tính chất cạnh tranh của nghành tăng hay
giảm phụ thuộc vào thị trường, tốc độ tăng trưởng và mức độ đầu tư của đối thủ
cạnh tranh.
- Khách hàng: là một phần của công ty, sự trung thành của khách hàng là
một lợi thế lớn của công ty, sự trung thành của khách hàng được xây dựng bởi
sự thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng và mong muốn được phục vụ một
cách tốt nhất.
- Nhà cung cấp: doanh nghiệp luôn phải liên kết với nhà cung cấp để

được cung cấp những nguồn lực khác nhau như nguyên vật liệu, thiết bị, nhân
công, vốn… Các nhà cung cấp có thể gây áp lực trong hoạt động của doanh
nghiệp, cho nên việc nghiên cứu để hiểu biết về các nhà cung cấp các nguồn lực
cho doanh nghiệp là không thể bỏ qua trong quá trình đề ra các chiến lược trong
doanh nghiệp.
- Đối thủ tiềm ẩn mới : Là những đối thủ cạnh tranh có thể tham gia thị
trường trong thời gian tới và hình thành đối thủ cạnh tranh mới, từ đó thị phần bị
chia xẻ, lợi nhuận doanh nghiệp bị giảm xuống, sự xuất hiện đối thủ cạnh tranh
mới sẽ ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy phải
phân tích các đối thủ tiềm ẩn để đánh giá nguy cơ mà họ có thể gây ra cho doanh
nghiệp.
13
- Sản phẩm thay thế: Là những sản phẩm khác về tên gọi, khác về thành
phần nhưng đem lại cho khách hàng những lợi ích tương đương nhu sản phẩm
của doanh nghiệp. Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế sẽ dẫn đến nguy cơ
làm giảm giá bán và sụt giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp
cần phải dự báo và phân tích khuynh hướng phát triển của sản phẩm thay thế để
có được những chiến lược hợp lí.
2.2 Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp
Bất kì doanh nghiệp nào cũng có những mặt mạnh, mặt yếu trong lĩnh vực
kinh doanh. Những mặt mạnh, mặt yếu trong doanh nghiệp cùng với những cơ
hội, nguy cơ bên ngoài là những điểm cơ bản cần quan tâm khi thiết lập chiến
lược cho doanh nghiệp. Việc đánh giá tình hình bên trong chính là việc kiểm tra
lại năng lực của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát huy những điểm mạnh và
hạn chế những điểm yếu trong doanh nghiệp.
Với việc phân tích tình hình nội bộ của doanh nghiệp, các mặt mạnh của
doanh nghiệp có thế là các kĩ năng, nguồn lực và các lợi thế của doanh nghiệp
có được hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh như có công nghệ hiện đại, có thương
hiệu uy tín, nguồn vốn dồi dào, doanh nghiệp có hình ảnh tốt trong mắt khách
hàng hay nắm thị phần lớn trong thị trường truyền thống. Những mặt yếu của

doanh nghiệp thể hiện ở những thiếu sót hoặc nhược điểm về nguồn nhân lực
hoặc những yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, mạng lưới
phân phối kém hiệu quả, quan hệ với người lao động không tốt, sản phẩm lạc
hậu so với đối thủ cạnh tranh.
Nắm rõ tình hình của hoạt động của doanh nghiệp là mục tiêu của việc
phân tích nội bộ doanh nghiệp phục vụ cho việc ra các chiến lược cho doanh
nghiệp, sự phân tích này dựa vào nguồn lực và khả năng của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình ( nhãn hiệu, uy tín, thương hiệu,
sở hữu công nghệ, khách hàng truyền thống ….) hiệu quả để ra năng lực đặc
biệt, với năng lực đặc biệt này doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản
phẩm của mình hay tính khác biệt của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, đây
cũng là lợi ích mà các chiến lược hiệu quả của doanh nghiệp.
14
KẾT LUẬN
Như vậy chúng ta có thể rút ra được: công ty nhỏ phải có chiến lược của
công ty nhỏ, công ty vừa phải có chiến lược của công ty vừa. Để hoạt động kinh
doanh đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên hiểu và chú trọng từ
triết lý kinh doanh đến chiến lược kinh doanh. Trong đó, triết lý kinh doanh
chính là lý do, mục đích tồn tại của doanh nghiệp, xuất phát điểm của hoạt động
kinh doanh, chiến lược kinh doanh là lĩnh vực kinh doanh, mục tiêu dài hạn, lộ
trình để đạt được mục tiêu, phương châm điều hành công ty, chiến lược của bộ
phận, chức năng bao gồm cách ứng phó, xúc tiến hoạt động kinh doanh như tìm
hiểu rõ thế mạnh tạo nên cốt lõi của hoạt động kinh doanh, làm thế nào để xúc
tiến kinh doanh như phân bổ nguồn lực kinh doanh có hạn vào đâu như là vào
kỹ thuật, kinh doanh, dịch vụ… Cuối cùng là kế hoạch kinh doanh giống như kế
hoạch dài hạn từ 10 năm trở lên, trung hạn 3 đến 5 năm, kế hoạch năm, tháng và
từ đó có những hành động cụ thể. Muốn xây dựng chiến lược kinh doanh, thì
bên cạnh đó lãnh đạo doanh nghiệp cũng cần phải có mục tiêu lớn, năng lực
nhìn thấu phương hướng tương lai, năng lực phân tích, thu thập thông tin, đưa ra
chiến lược và năng lực thực hiện chiến lược.

15
MỤC LỤC
1.6 Quá trình xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp 7
16

×