Tải bản đầy đủ (.pdf) (158 trang)

tự học sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm cmap tools

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 158 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM





NGUYỄN THỊ NGỌC






TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG
BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM
TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS







LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC













Thái Nguyên – Năm 2012


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




NGUYỄN THỊ NGỌC




TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG
BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM

TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS



Chuyên ngành: Lí luận và Phƣơng pháp Dạy học Sinh học
Mã số : 60-14-10




LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHÚC CHỈNH







Thái Nguyên, Năm 2012


i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


LỜI CẢM ƠN


Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS. TS
Nguyễn Phúc Chỉnh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để
tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh –
KTNN, khoa Sau Đại học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã
tạo điều kiện giúp đỡ tác giả nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 04 năm 2012
Tác giả


Nguyễn Thị Ngọc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


ii


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công
bố trong một công trình khoa học nào.


Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


iii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lược sử nghiên cứu về phương pháp tự học 7
1.2. Phương pháp tự học 9
1.3. Bản đồ khái niệm 30
1.4. Phần mềm Cmap Tools 37
Chƣơng 2. TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ
KHÁI NIỆM TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS
2.1. Các nguyên tắc đảm bảo việc tự học 39
2.2. Nội dung của quá trình tự học 40
2.3. Hướng dẫn học sinh tự học 50
2.4. Tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap
Tools 56
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích - nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 69
3.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm 69
3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm 74
3.4. Kết luận chung về thực nghiệm sư phạm 79

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận 80
2. Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Nguyên nhân học sinh chưa tiếp thu hết kiến thức 26
Bảng 1.2. Mức độ cần thiết tự học của học sinh 26
Bảng 1.3. Lý do học sinh cần phải tự học 27
Bảng 1.4. Phần trăm học sinh trong lớp có hoạt động tự học 27
Bảng 1.5. Nguyên nhân tự học chưa đạt hiệu quả 28
Bảng 1.6. Những yêu cầu cần thiết đối với phương tiện tự học 29
Bảng 3.1. Tần suất trắc nghiệm 75
Bảng 3.2. Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 76
Bảng 3.3. Kiểm định  điểm trắc nghiệm 77
Bảng 3.4. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 78

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


v

DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.1. Xuất phát từ việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Sinh học 1
1.2. Xuất phát từ sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học ở trường
phổ thông 1
1.3. Xuất phát từ vị trí, vai trò của tự học 2
1.4. Xuất phát từ ƣu điểm của bản đồ khái niệm 4
1.5. Xuất phát từ ưu điểm của phần mềm Cmap Tools 5
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
4. Giả thuyết khoa học 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6. Phương pháp nghiên cứu 6
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 6
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm có đối chứng song song ở
trường trung học phổ thông nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của luận
văn. 6
- Điều tra thăm dò trước khi thực nghiệm sư phạm. 6
6.3. Phương pháp thống kê toán học 6
7. Những đóng góp của đề tài 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


vi

Chương 1 7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1. Lược sử nghiên cứu về phương pháp tự học 7
1.1.1. Trên thế giới 7
1.1.2. Ở Việ t Nam 8
1.2. Phương pháp tự học 9
1.2.1. Khái niệm tự học 9
Bảng 1.1. Nguyên nhân học sinh chưa tiếp thu hết kiến thức 26
Bảng 1.2. Mức độ cần thiết tự học của học sinh 26
Bảng 1.3. Lý do học sinh cần phải tự học 27
Bảng 1.4. Phần trăm học sinh trong lớp có hoạt động tự học 27
Bảng 1.5. Nguyên nhân tự học chưa đạt hiệu quả 28
Bảng 1.6. Những yêu cầu cần thiết đối với phương tiện tự học 29
1.3. Bản đồ khái niệm 30
Hình 1.1. Các hệ thống bộ nhớ chủ chốt của não bộ đều tác động 33
1.4. Phần mềm Cmap Tools 37
Chương 2 39
TỰ HỌC SINH HỌC BẰNG CÁCH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM
TRÊN PHẦN MỀM CMAP TOOLS 39
2.1. Các nguyên tắc đảm bảo việc tự học 39
2.2. Nội dung của quá trình tự học 40
Hình 2.1. Bản đồ khái niệm về quy trình xây dựng bản đồ khái niệm 47
Chu trình tự nghiên cứu

tự thể hiện

tự kiểm tra - đánh giá và tự điều
chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết,
và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học [8], [9], [11], [20], [27], [32],
[33], [34], [52], [60]. 49

Hình 2.2. Chu trình tự học 50
2.3. Hướng dẫn học sinh tự học 50

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


vii
2.4. Tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm
Cmap Tools 56
Hình 2.3. Bản đồ khái niệm về mã di truyền 65
Hình 2.4. Bản đồ khái niệm về quá trình nhân đôi của ADN 67
Chương 3 69
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1. Mục đích - nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 69
3.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm 69
3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm 74
Bảng 3.1. Tần suất trắc nghiệm 75
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra 75
Bảng 3.2. Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 76
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm trắc nghiệm 76
Bảng 3.3. Kiểm định  điểm trắc nghiệm 77
Bảng 3.4. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 78
3.4. Kết luận chung về thực nghiệm sư phạm 79
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
1. Kết luận 80
2. Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Phụ lục 12. Bản đồ khái niệm về đột biến số lượng NST 104Phụ lục 1 86
Phụ lục 1 87
PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN GIÁO VIÊN 87

Phụ lục 2 90
PHIẾU THU THẬP Ý KIẾN HỌC SINH 90
Phụ lục 3[10], [14], [18], [22], [23] 92
ĐỀ KIỂM TRA 92
Phụ lục 4. Bản đồ khái niệm về khái niệm và cấu trúc của gen 97

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


viii
Phụ lục 5. Bản đồ khái niệm về quá trình phiên mã 98
Phụ lục 6. Bản đồ khái niệm về mối liên hệ ADN-mARN-Protein-Tính trạng
98
Phụ lục 7. Bản đồ khái niệm về quá trình dịch mã 99
Phụ lục 8. Bản đồ khái niệm về điều hoà hoạt động của gen 100
Phụ lục 9. Bản đồ khái niệm về đột biến gen 101
Phụ lục 10. Bản đồ khái niệm về nhiễm sắc thể 102
Phụ lục 11. Bản đồ khái niệm về đột biến cấu trúc NST 103
Phụ lục 12. Bản đồ khái niệm về đột biến số lượng NST 104
Xác nhận của Trƣởng khoa chuyên môn 148
Xác nhận của cán bộ hƣớng dẫn 148


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

1.1. Xuất phát từ việc đổi mới chƣơng trình và sách giáo khoa Sinh học
Quá trình dạy học tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn. Những
thành tố cơ bản trong cấu trúc của nó bao gồm: mục đích, nhiệm vụ dạy học;
nội dung dạy học; phương pháp - phương tiện dạy học; hình thức tổ chức dạy
học; giáo viên; học sinh; kết quả dạy học. Trong cấu trúc này, mỗi thành tố có
vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, chúng có mối quan hệ qua lại với nhau.
Việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Sinh học phổ thông cũng
có nghĩa là đổi mới nội dung dạy học mà phương pháp dạy học là thành tố luôn
chịu sự quy định của nội dung dạy học, nó được xem như là một thành tố để
giáo viên chuyển tải nội dung dạy học đến học sinh, học sinh dùng nó để lĩnh
hội nội dung dạy học. Xuất phát từ thực tiễn đó, phương pháp dạy học cũng cần
phải được thay đổi nhằm thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ dạy học đề ra.
Mặt khác, hàng loạt các kiến thức mới phù hợp với thời đại đã được
đưa vào giảng dạy trong chương trình đổi mới và được thực hiện trên toàn
quốc. Kiến thức trong chương trình thường được cung cấp dưới dạng những
thông tin ngắn gọn, cô đọng hoặc thông qua các hình vẽ đòi hỏi học sinh phải
xử lí, tạo điều kiện hình thành dần thói quen tự học ở học sinh. Do đó, nếu chỉ
sử dụng phương pháp dạy học truyền thống mà không có sự đổi mới thì học
sinh khó có thể lĩnh hội được đầy đủ và sâu sắc nội dung tri thức [1], [12],
[13], [15], [29], [36], [37].
1.2. Xuất phát từ sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học ở trường
phổ thông
Phương pháp dạy học được hiểu là tổ hợp các cách thức hoạt động của
giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ
đạo của giáo viên nhằm thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ dạy học đề ra [15].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


2

Với phương pháp dạy học truyền thống - truyền thụ một chiều, thầy
giảng, trò ghi - hiện nay, chất lượng đào tạo ở các cấp học, bậc học nói chung
và ở bậc giáo dục phổ thông nói riêng còn thấp, chưa phát huy được tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. Do vậy,
đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông đang là vấn đề cấp thiết đối
với sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo nước ta. Trong “Chiến lược phát triển giáo
dục 2001- 2010” đã chỉ rõ: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp dạy học,
chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng
dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho
người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và
có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng
cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh” [3].
Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học và
công nghệ. Với những thành tựu to lớn đã đạt được, ngày nay, khoa học và
công nghệ đang xâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội. Do đó, yêu cầu
của xã hội đối với con người ngày càng cao. Trước thực tiễn đó, sự nghiệp
Giáo dục - Đào tạo nói chung, phương pháp dạy học nói riêng cần phải
được đổi mới.
1.3. Xuất phát từ vị trí, vai trò của tự học
Tự học có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành đạt của con người, là
con đường tự khẳng định của mỗi cá nhân. Tự học giúp cho con người giải
quyết mâu thuẫn giữa khát vọng về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc
sống cá nhân.
Tự học khắc phục nghịch lí : tri thức thì vô hạn mà thời gian thì có hạn.
Sự bùng nổ thông tin làm cho người giáo viên không có cách nào truyền thụ
hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi
vào tình trạng “tụt hậu”. Đối với học sinh trung học phổ thông, quỹ thời gian
3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



3
hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình. Vì vậy, tự học là một
giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ
với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường.
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập
để khẳng định năng lực, phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con người
thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bằng con đường
tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng
và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang
đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp. Nếu rèn luyện
cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng
những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết
quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.
Tóm lại, có thể nói tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng
định khả năng của mình. Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành
đạt của mỗi người. Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học
của học sinh cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng
dẫn, chỉ dạy của người giáo viên. Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu
không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo
dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp
học tập, phương pháp giải quyết vấn đề” (Thủ tướng Phạm Văn Đồng-1969).
Giáo viên cần giúp cho học sinh tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung
cấp cho học sinh những phương tiện tự học có hiệu quả. Dạy cho học sinh biết
cách tự học chính là một trong những cách giúp học sinh tìm ra chiếc chìa khóa
vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại.
Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương
pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi
dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học [8],

[11], [13], [30], [31], [32].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


4
1.4. Xuất phát từ ƣu điểm của bản đồ khái niệm
Khái niệm vừa là kết quả vừa là phương tiện của tư duy. Quá trình nhận
thức của con người thực chất là quá trình hình thành và sử dụng khái niệm. Vì
vậy, dạy và học khái niệm là vấn đề cốt lõi của quá trình dạy học [5], [7].
Trong dạy học, không thể chỉ chú ý đến hình thành và phát triển các khái
niệm riêng lẻ mà cần phải quan tâm đến cả một hệ thống khái niệm liên quan với
nhau. Chính sự xác lập các mối quan hệ logic và liên tục trong sự hình thành hệ
thống khái niệm là cơ sở của sự hình thành thế giới quan khoa học [52].
Đối với bộ môn Sinh học, hệ thống các khái niệm, các quy luật Sinh
học liên hệ chặt chẽ với nhau được hình thành và phát triển theo một trật tự
logic. Việc phân loại, sắp xếp các khái niệm Sinh học thành hệ thống là rất
quan trọng. Với khối lượng khái niệm rất lớn nếu lĩnh hội không có hệ thống
thì học sinh không thể nắm vững, nhớ lâu và vận dụng được [9].
Một trong những phương pháp để hệ thống được khái niệm là xây dựng
bản đồ khái niệm. Xây dựng bản đồ khái niệm có tác dụng kết nối các thông
tin mới và các thông tin đã có. Bản đồ khái niệm có thể được tiến hành ở
nhiều mức độ khác nhau, nhiều khâu khác nhau trong quá trình dạy học, đặc
biệt là trong khâu tự học.
Nếu sử dụng thành thạo bản đồ khái niệm trong tự học, học sinh sẽ học
được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư
duy. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ
lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của
mình. Vì vậy, sử dụng bản đồ khái niệm giúp học sinh học tập một cách tích cực,
huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Mặt khác, do tự “sáng tác” nên trên mỗi

bản đồ khái niệm thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học
sinh và do tự thiết kế nên người học sẽ yêu quý, trân trọng “tác phẩm” của mình.
Cách làm này sẽ rèn luyện cho học sinh cách suy nghĩ lôgic, mạch lạc và cũng là
cách giúp người học hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vào não chứ không phải là học
thuộc lòng, học vẹt.
Bản đồ khái niệm có thể được thiết kế trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc
cũng có thể thiết kế trên phần mềm Cmap Tools.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


5
1.5. Xuất phát từ ƣu điểm của phần mềm Cmap Tools
Cmap Tools là sự kết hợp giữa tính năng của bản đồ khái niệm với sức
mạnh của công nghệ, đặc biệt là internet và mạng toàn cầu (WWW). Phần
mềm này giúp người sử dụng không những có thể dễ dàng xây dựng và sửa
đổi các bản đồ khái niệm vào mọi lúc nhờ bộ xử lí văn bản mà còn có thể trao
đổi được với nhau trong khi xây dựng bản đồ, bất kì ai trên internet cũng có
thể truy cập vào, liên kết các tài nguyên vào để làm rõ nội dung bản đồ và tìm
kiếm những thông tin có liên quan trên WWW.
Đặc biệt, đối với những máy tính có nối mạng phần mềm cho phép
người sử dụng liên kết những tài nguyên (những hình ảnh, đồ thị, video, biểu
đồ, bảng, văn bản, trang web hoặc bản đồ khái niệm khác ) có ở bất cứ nơi
nào trên internet hoặc trong máy tới những khái niệm hoặc những từ nối trong
bản đồ khái niệm.
Khi đã xây dựng xong bản đồ khái niệm, có thể lưu giữ bản đồ trong
máy tính hoặc xuất ra dưới dạng tranh.
Sau khi một bản đồ sơ bộ được dựng lên, xem xét lại bản đồ này là việc
làm rất cần thiết. Bạn có thể thêm vào các khái niệm, cũng có thể sắp xếp lại
các khái niệm theo các cách khác để tạo nên một cấu trúc rõ nhất và đẹp nhất.

Với phần mềm này bạn có thể thay đổi kích cỡ, kiểu chữ và có thể thêm màu
cho bản đồ khái niệm [9], [52].
Từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: Tự học Sinh học
bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phương pháp tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản đồ
khái niệm trên phần mềm Cmap Tools.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp tự học, bản đồ khái niệm và phần
mềm Cmap Tools.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học ở trường phổ thông.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


6
4. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng thành thạo phần mềm Cmap Tools xây dựng bản đồ khái
niệm trong tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinh học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của tự học.
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết, cách sử dụng và quy trình xây dựng bản đồ
khái niệm trên phần mềm Cmap Tools.
- Nghiên cứu phương pháp tự học Sinh học bằng cách tạo lập bản đồ
khái niệm trên phần mềm Cmap Tools.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
- Sưu tầm, nghiên cứu và xử lí các tài liệu về phương pháp tự học, bản
đồ khái niệm và phần mềm Cmap Tools.
- Truy cập thông tin trên mạng Internet.

6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm có đối chứng song
song ở trường trung học phổ thông nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của
luận văn.
- Điều tra thăm dò trước khi thực nghiệm sư phạm.
6.3. Phƣơng pháp thống kê toán học
Các số liệu trong thực nghiệm sư phạm được xử lí bằng thống kê toán
học nhằm tăng độ chính xác cũng như sức thuyết phục của kết luận.
7. Những đóng góp của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí thuyết và quy trình xây dựng, sử dụng
bản đồ khái niệm.
- Góp phần hướng dẫn sử dụng phần mềm Cmap Tools.
- Góp phần làm sáng tỏ phương pháp tự học Sinh học bằng cách xây
dựng bản đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lƣợc sử nghiên cứu về phƣơng pháp tự học
1.1.1. Trên thế giới
Phương pháp tự học là một trong những phương pháp của hệ thống
phương pháp tích cực.
Phương pháp tích cực có mầm mống từ thế kỉ XIX, được phát triển từ
những năm 20 và phát triển mạnh ở những năm 60 của thế kỉ XX ở Anh, Đức,
Mỹ, Liên Xô (cũ), Pháp, Ba Lan Trong đó tập trung nghiên cứu về tính tích
cực hóa quá trình dạy học mà trọng tâm phải chú ý đến tính chủ động, độc

lập, tích cực và nhu cầu học của học sinh trong giờ học bằng nhiều phương
pháp. Một trong số những phương pháp đó là phương pháp tổ chức tự học cho
học sinh, dẫn dắt học sinh đi đến kiến thức bằng con đường độc lập, tự lực
nghiên cứu. Điển hình cho hướng nghiên cứu này là những tác giả của các
nước như:
 Tác giả người Đức G. Dietrich trong tác phẩm “Phương pháp dạy
học sinh” đã nêu: “Dạy học sinh học phải chú ý để học sinh học tập, có ý thức
và phát huy hoạt động sáng tạo của các em” và “Sự truyền thụ nội dung trong
dạy học sinh học chỉ đạt các mục đích vạch ra trong chương trình khi học sinh
phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập, tư duy và thực hành trí tuệ”.
 Tác giả N.M. Veczilin (Liên Xô cũ), trong tác phẩm “Đại cương về
phương pháp dạy học sinh học” cũng đề cập: “Tổ chức tự học cho học sinh
không chỉ chú ý đến nội dung, phương pháp mà việc tổ chức sắp xếp logic
của tài liệu cũng có ý nghĩa lớn”.
 Trong tác phẩm “Tổ chức quá trình dạy học trong trường phổ
thông”, VPXtơrôzicôzin đã viết : “ Trong dạ y h ọc phải dạy cho HS các biện
pháp hoạt động nhận thức độc lập” . Cũng trong tác phẩm của mình tác giả đã
nghiên cứ u về vai trò củ a HS trong việ c tự họ c, vị trí của tự học trong học tập,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


8
phương phá p tổ chứ c tự họ c và nh ững nguyên tắc, điề u kiệ n bả o đả m cho tự
học có hiệu quả.
Ngoài ra còn rất nhiều tác giả khác cũng đi sâu nghiên cứu vấn đề này
như: M. PĐôrôphêencô, B. Pexipôp, M. Pcasin…
Như vậ y có thể thấ y xu thể chung củ a thế giớ i là nh ấn mạnh đào tạo
phương phá p đươc coi như mụ c đí ch củ a dạ y họ c . Đặt người học vào vị trí
trọng tâm, xem cá nhân ngườ i họ c vừ a là chủ thể , vừ a là mụ c đí ch cuố i cù ng

của quá trình đó . Trong đó coi trọ ng rè n luyệ n cho HS p hương phá p tự họ c ,
phát huy sự suy nghĩ, đầ u tư độ c lậ p hoặ c theo nhó m nhỏ thông qua thả o luậ n,
thí nghiệm, thự c hà nh hay thâm nhậ p thự c tế .
1.1.2. Ở Việ t Nam
Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan
tâm, quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua. Nghị quyết Trung ương V khóa 8
từng nêu rõ: “ Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực
tự học, tự sáng tạo của học sinh, bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học
cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên
và rộng khắp trong toàn dân”. Trên tinh thần ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự
học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí cực kì quan trọng trong chiến lược
giáo dục - đào tạo của đất nước.
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự
học. Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ
những tri thức có sẵn, chỉ cần học sinh ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải
định hướng, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá ra những quy luật, thuộc
tính mới của vấn đề, giúp học sinh không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn
biết cách tìm đến những tri thức ấy. Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học
hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng,
nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học. Muốn thành công

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


9
trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự
giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra.
Ngay từ nhữ ng năm 60 của thế kỉ XX , vớ i khẩ u hiệ u : “Biế n quá trì nh
đà o tạ o thà nh quá trì nh tự đà o tạ o” và sau đó là cả i tiế n phương phá p dạ y họ c
theo hướ ng tí ch cự c hoá hoạ t độ ng ngườ i họ c, lí luận về phương pháp dạy học

đã chuyể n sang mộ t bướ c ngoặ t mớ i . Đế n nhữ ng năm 70, vai trò của phương
pháp tổ chức tự học bắt đầu được quan tâm nghiên cứu khi vấn đề phát huy
tính tích cực được nhiề u tá c giả đề cậ p đế n : Nguyễ n Cả nh Toà n vớ i “Luậ n
bàn về tự học” đã đưa ra vài trò của người học , người dạy và mô hình tự học;
Tác giả Nguyễn K với “ Mô hì nh dạ y họ c lấ y HS là m trung tâm”.
Ở bộ môn Sinh họ c có các tác giả: Trầ n Bá Hoà nh vớ i “ Kỹ thuậ t dạ y
học sinh học” trong đó tác giả đã đề cập đến phải chú rèn luyện phương phá p
tự họ c. Nguyễ n Văn Duệ vớ i “ Dạ y họ c giả i quyế t vấ n đề trong bộ môn sinh
học”. Cùng nhiều tác giả khác nhau như : Đinh Quang Bá o , Nguyễ n Quang
Vinh, Trầ n Doã n Bá ch, Nguyễ n Đứ c Thà nh…
Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và sử dụng thành công phương
pháp tự học trong dạy học các bộ môn, trong đó có bộ môn Sinh học. Tuy
nhiên việc nghiên cứu phương pháp tự học Sinh học bằng cách xây dựng bản
đồ khái niệm trên phần mềm Cmap Tools chưa có tác giả nào nghiên cứu [2].
1.2. Phƣơng pháp tự học
1.2.1. Khái niệm tự học
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà
trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy
Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so
sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm
lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã
hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân học sinh”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


10
Tác giả Nguyễn Kì cũng bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học
tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của

mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí
nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải
pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
Trong bài phát biểu tại hội thảo “Nâng cao chất lượng dạy học” tổ chức
vào tháng 11 năm 2005 tại trường Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng:
“Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa
học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo
tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học
luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kĩ
năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả
thông qua các hoạt động tự thân ấy. Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi
học sinh phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các
kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc.
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các
loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo
tàng, triển lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các
chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác
nhau. Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm
chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách
ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách
tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối
với học sinh, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn,
các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác.
Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao [8], [17],
[20], [24], [26], [27], [29], [30], [34].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



11
1.2.2. Các hình thức tự học
1.2.2.1.Tự học hoàn toàn (không có giáo viên)
Là sự học tập thông qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người
khác. Học sinh gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, học sinh
khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học
của mình
1.2.2.2.Tự học qua phƣơng tiện truyền thông (học từ xa)
Học sinh được nghe giáo viên giảng giải minh họa, nhưng không được
tiếp xúc với giáo viên, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi
gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, học sinh cũng không đánh giá được
kết quả học tập của mình.
1.2.2.3.Tự học qua tài liệu hƣớng dẫn (E-Book)
Học sinh tự học qua E-book. Trong tài liệu E-book trình bày cả nội
dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa
đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học
theo các phần mềm trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học học sinh
cũng có thể gặp khó khăn vì không có sự trợ giúp của giáo viên.
1.2.2.4. Tự thực hiện một số hoạt động học ở lớp dƣới sự hƣớng dẫn của
giáo viên
Học sinh tự thực hiện một số hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn,
giám sát và kiểm tra của giáo viên. Ví dụ: giáo viên ra câu hỏi hoặc đề tài cho
học sinh về nhà chuẩn bị bài mới, hoặc khi dạy học giáo viên nêu tình huống
hay nêu vấn đề rồi hướng dẫn học sinh tự giải quyết, hoặc giáo viên giao bài
tập rồi hướng dẫn học sinh tự làm Hình thức này cũng đem lại kết quả nhất
định nếu được tiến hành hợp lý [30], [31], [32], [33], [34], [35], [36].
Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên chúng ta thấy rằng mỗi
hình thức tự học có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Nhằm khắc phục
được những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm đa
số học sinh khi học môn Sinh học chúng tôi đề xuất một hình thức tự học mới:

tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


12
1.2.2.5. Tự học dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ
thông tin
Tự học là một hình thức học. Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục
đích, nội dung và phương pháp phù hợp. Hình thức tự học dưới sự hướng dẫn
của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin vừa phải đảm bảo thực hiện đúng
quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh.
Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên
ngoài và hoạt động bên trong. Tác động dạy của giáo viên là bên ngoài hỗ trợ
cho học sinh tự phát triển, còn tự học của học sinh là nhân tố quyết định sự
phát triển của bản thân học sinh. Trong tự học dưới sự hướng dẫn của giáo
viên và sử dụng công nghệ thông tin, học sinh nhận được thông tin từ hai
nguồn: trực tiếp từ giáo viên và từ việc khai thác công nghệ thông tin.
Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài
hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức). Giáo viên cần hướng học
sinh tự bổ sung kiến thức qua sách báo, truyền hình, internet… nhất là những
kiến thức khoa học, đời sống, xã hội liên quan đến chương trình mình đang
học. Giáo viên nên giao những bài tập về nhà mà học sinh phải tự tìm tòi qua
các thông tin đại chúng để kích thích các em tự tìm hiểu. Từ đó, các em sẽ hết
sức vui và tự hào cũng như càng muốn tự học hơn nếu bài tự làm của mình
được thầy cô khen ngợi. Để giúp học sinh có thể tự học ở nhà, giáo viên cung
cấp phương pháp tự học phù hợp, sau đó giáo viên cần tăng cường kiểm tra -
đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của học sinh, cuối cùng giải đáp
thắc mắc của học sinh.
 Nguồn thông tin trực tiếp từ giáo viên

Hiện nay theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn Sinh học
trong các trường trung học phổ thông có thời gian từ 1 - 2 tiết/ tuần, thời gian
đó nếu để giảng giải kiến thức và luyện tập cho học sinh thì không đủ; nhưng
nếu để học sinh hoàn toàn tự học thì cũng không được. Chúng tôi cho rằng có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


13
thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh để giáo viên tổ
chức, hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng tự học cụ thể. Rất
nhiều học sinh từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học
thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của giáo viên, hầu như không
có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong sách giáo khoa, không
thể tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp
chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó. Rèn luyện kĩ năng tự học cho
học sinh là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng
cao và bổ sung thêm, do đó tốt nhất là nên dành thời gian tiếp xúc giữa giáo
viên và học sinh để thực hiện công việc đó.
Hoạt động tự học của học sinh có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến
hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ. Đây là quá trình
tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của
chính mình hướng tới những mục đích nhất định. Vì vậy, quá trình tổ chức
dạy học phải làm cho hoạt động học của học sinh chuyển từ trạng thái bị động
sang chủ động. Học sinh biết tự sắp xếp, bố trí các công việc sẽ tiến hành
trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để
hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự
học của chính mình.
 Nguồn thông tin từ việc khai thác công nghệ thông tin
Sử dụng công nghệ thông tin trong học tập giúp người học tự do khai

thác và sử dụng các nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng. Công nghệ
thông tin còn giúp người học có thể giao lưu và tương tác với nhiều người
cùng lúc. Người học cũng có thể hợp tác với bạn bè trong nhóm học trực
tuyế n để thả o luậ n và là m bà i tậ p về nhà . Ngày nay, việ c tương tác và hợp tác
trên Internet là phổ biế n qua forum, blog, Facebook… và người học có thể tận
dụng Internet để “vừa làm vừa học vừa chơi” . Sử dụng công nghệ thông tin
trong học tập còn có tác dụng kích thích ý thức tự học của học sinh, hỗ trợ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


14
học sinh tiếp cận với nguồn thông tin phong phú hơn rất nhiều so với bài
giảng trên lớp của giáo viên.
Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của học
sinh để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được quy định thành kiến thức học tập
trong chương trình và sách giáo khoa với sự hướng dẫn của giáo viên thông
qua các phương tiện học tập như công nghệ thông tin, tài liệu tự học có hướng
dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,
Học sinh tự học bằng cách sử dụng phần mềm Cmap Tools xây dựng
bản đồ khái niệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên là một dạng của hình thức
tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sử dụng công nghệ thông tin. Để
giúp học sinh tự học có hiệu quả, giáo viên hướng dẫn học sinh phương pháp
tự học bằng cách xây dựng bản đồ khái niệm và cách thức sử dụng phần mềm
Cmap Tools tạo lập bản đồ khái niệm. Học sinh sử dụng phần mềm Cmap
Tools xây dựng bản đồ khái niệm trong quá trình tự học. Với phần mềm này,
học sinh có thể khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên phong phú và đa
dạng, giao lưu và tương tác với những người khác trong khi xây dựng bản đồ
khái niệm. Giáo viên tăng cường tiếp xúc với học sinh để tổ chức, hướng dẫn
và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng tự học cụ thể, kiểm tra đánh giá kết

quả học tập của học sinh và giải đáp những thắc mắc của học sinh.
1.2.3. Năng lực tự học
1.2.3.1.Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào thế
giới hiện đại và văn minh - thế giới của trí thức. Năng lực tự học là khả năng
tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc
tương tự với chất lượng cao. Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, tự
nghiên cứu, giáo viên cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi
cho học sinh hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó [17].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


15
1.2.3.2.Các năng lực tự học cần bồi dƣỡng và phát triển cho học sinh
 Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với
con người. Nhờ năng lực này học sinh vừa tự làm giàu kiến thức của mình,
vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi,…Năng lực này đòi hỏi
học sinh phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng
được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận
và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột,
các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần
phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,… Để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi
người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên
tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương
ứng. Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện “linh cảm”, và từ đó mạch suy luận
được hình thành. Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện
được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường
và hướng đi để giải quyết.

 Năng lực giải quyết vấn đề
Trong cuộc sống của mỗi người bao gồm một chuỗi các vấn đề khác
nhau được giải quyết. Nhờ vào việc đối mặt và giải quyết các vấn đề, mỗi
người ngày càng trưởng thành và thích nghi hơn với cuộc sống, xây dựng cho
mình cuộc sống có chất lượng ngày càng phát triển. Năng lực giải quyết vấn
đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và
lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông
tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận. Kinh nghiệm thực tế cho thấy
nhiều học sinh thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng
không biết cách xử lí để tìm ra con đường đạt được mục tiêu. Điều này đòi
hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các giáo viên ngay từ những hoạt
động đầu của giải quyết vấn đề.

×