Tải bản đầy đủ (.pdf) (192 trang)

Việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở thủ đô hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.74 MB, 192 trang )

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 12
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .12
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 12
1.2. Khái quát những kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài và
những vấn đề đặt ra 31
Chương 2 34
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 34
2.1. Cơ sở lý luận việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp 34
2.2. Mối quan hệ giữa việc làm cho lao động nông nghiệp với quá trình
xây dựng nông thôn mới 58
Chương 3 69
TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ NỘI 69
3.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Nội có ảnh hướng
đến giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây
dựng nông thôn mới 69
3.2. Tác động của việc xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội tới việc
làm cho lao động nông nghiệp 75
3.3. Thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hà Nội 93
Chương 4 117
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
117


4.1. Phương hướng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong
quá trình xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội 117
4.2. Giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong
quá trình xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội 124
KẾT LUẬN 161
PHỤ LỤC 171
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
Các nước Đông Nam Á
NN-ND-NT
Nông nghiệp – Nông dân- Nông Thôn
CNH
Công nghiệp hóa
NTM
Nông thôn mới
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Thu nhập quốc dân
HĐH
Hiện đại hóa
ILO
Tổ chức lao động quốc tế
KH&CN
Khoa học và công nghệ
LLLĐ
Lực lượng lao động
UBND
Ủy ban nhân dân

USD
Đô la Mỹ
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
3
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng và đóng góp vào tăng trưởng của các ngành 72
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội giai đoạn 2011-2013 và đóng
góp của các ngành vào mức tăng trưởng chung 73
Bảng 3.3: Dân số từ 15 tuổi trở lên và dân số trong độ tuổi lao động có việc làm
chia theo huyện ở khu vực nông thôn (năm 2012) 97
Bảng 3.4: Cơ cấu lao động nông nghiệp có việc làm trong tuổi LĐ ở khu vực
nông thôn Hà Nội năm 2012 chia theo trình độ CMKT và giới tính 108
Bảng 4.1: Dự kiến tốc độ tăng trưởng dân số 119
Bảng 4.2: Dự báo dân số Thủ đô Hà Nội có tác động tới việc làm 120
Bảng 4.3: Dự báo cơ cấu sử dụng lao động nông nghiệp trong quá trình xây
dựng nông thôn mới 121
Bảng 4.4: Kế hoạch đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 121
Bảng 4.5: Kế hoạch giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 123
4
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Số cơ sở kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ huyện Từ Liêm
từ năm 2010 đến năm 2013 84
Hình 3.2. Số lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ của huyện Từ Liêm các
năm 2010 đến 2013 84
Hình 3.3. Sự thay đổi về mục đích sử dụng đất ở Huyện Từ Liêm 85
Hình 3.4. Số lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ở huyện Phúc Thọ
qua các năm 86

Hình 3.5. So sánh cơ cấu kinh tế giữa huyện Ba Vì và huyện Từ Liêm năm 2011 87
Hình 3.6. So sánh cơ cấu lao động giữa huyện Ba Vì và huyện Từ Liêm 88
Hình 3.7. So sánh về trình độ lao động giữa huyện Từ Liêm và Ba Vì năm 2011 88
Hình 3.8. So sánh thu nhập của lao động nông nghiệp giữa huyện Từ Liêm và
Ba Vì 89
Hình 3.9. Cơ cấu lao động nông nghiệp phân theo mức độ tham gia 98
Hình 3.10. Phân bổ lao động nông nghiệp ở các huyện trên địa bàn Hà Nội 99
Hình 3.11. Phân bổ lao động nông nghiệp trẻ ở các huyện trên địa bàn Hà Nội 99
Hình 3.12. Cơ cấu lao động nông nghiệp Hà Nội 2009 100
Hình 3.13. So sánh cơ cấu lao động nông nghiệp ở huyện Ba Vì và Hoài Đức101
Hình 3.14. So sánh chất lượng lao động giữa huyện Phúc Thọ và huyện Từ Liêm 103
Hình 3.15. Cơ cấu lao động nông nghiệp Hà Nội phân theo trình độ chuyên môn 104
Hình 3.16. So sánh trình độ lao động nông nghiệp huyện Từ Liêm, Sóc Sơn,
Phúc Thọ 104
Hình 3.17 . Phân bố làng nghề tại các huyện trên địa bàn Hà Nội 107
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, giải quyết việc làm đã trở thành chương trình mục tiêu quốc
gia ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nhà nước đã dành ngân
sách lập Quỹ Quốc gia hỗ trợ và giải quyết việc làm, cho vay trực tiếp với các
dự án có mục tiêu để thu hút lao động, tạo việc làm cho người lao động. Tuy
nhiên, vấn đề việc làm đang đứng trước các mâu thuẫn: Mâu thuẫn giữa nhu cầu
việc làm ngày càng lớn với khả năng giải quyết việc làm còn hạn chế; giữa nhu
cầu giải quyết việc làm với trình độ tổ chức, quản lý, trình độ, kỹ năng của
người lao động chưa theo kịp yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, sự nghiệp xây dựng nông thôn mới trong cả nước.
Trong gần 30 năm đổi mới, Hà Nội đã giành được nhiều thành tựu to lớn
trong phát triển kinh tế ngoại thành trong đó có việc giải quyết việc làm cho
người lao động theo chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là từ sau mở rộng

địa giới hành chính Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị
lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI về xây
dựng nông thôn mới (NTM) với quan điểm chỉ đạo là: “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc
phòng, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái của đất nước. Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng nông
thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là khâu then
chốt” [22]; Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 của Thành ủy Hà Nội
về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời
sống nông dân” giai đoạn 2011-2015 [55] với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn
mới Thủ đô Hà Nội có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được
6
xây dựng đồng bộ, hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày
càng được nâng cao. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nông thôn được
bảo đảm, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại”; Thực
hiện Nghị quyết 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/4/2010 của Hội đồng nhân dân
Thành phố về xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020,
định hướng 2030 [31]. Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Hà Nội
những năm qua đã làm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động nông
nghiệp theo hướng tích cực, hiện đại; nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế
nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông
nghiệp. Xây dựng nông thôn mới tạo thêm nhiều việc làm trong khu vực phi
chính thức phù hợp với lao động nông thôn.
Xây dựng nông thôn mới thúc đẩy mở rộng không gian đô thị, cải tạo, xây
dựng phát triển hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng, tạo ra nhiều việc làm cho lao
động ở nông thôn và cơ hội cho lao động nông nghiệp chuyển dịch sang các
ngành nghề khác.
Xây dựng nông thôn mới làm thay đổi cơ cấu việc làm thúc đẩy nâng cao

chất lượng lao động, chất lượng việc làm và năng suất lao động.
Sự thay đổi cơ cấu việc làm trong quá trình xây dựng nông thôn mới làm
cho thị trường lao động nông nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Tiến trình xây
dựng nông thôn mới ngày càng cao thì tốc độ tăng trưởng việc làm ngày càng
lớn. Sự gia tăng cung – cầu lao động cùng với môi trường kinh tế năng động là
những điều kiện thuận lợi cơ bản để phát triển mạnh mẽ các hoạt động tư vấn,
giới thiệu việc làm, giáo dục, đào tạo nghề, dịch vụ thông tin thị trường lao
động, Vì vậy, lao động nông nghiệp có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ
việc làm hiện đại, thực hiện các giao dịch trên thị trường lao động.
Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới cũng có sức ép lớn đối với
vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp Hà Nội: Quá trình chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn làm một bộ phận lao động nông
7
nghiệp không đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp và phát triển kinh tế
nông thôn mới theo yêu cầu hiện đại về trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động.
Bộ phận lao động nông nghiệp này phần lớn đã lớn tuổi hoặc trình độ học vấn
thấp không còn cơ hội đào tạo nâng cao trình độ và không còn phù hợp với yêu
cầu đổi mới của doanh nghiệp, của nền kinh tế, khả năng chuyển đổi nghề
nghiệp của họ rất hạn chế. Đây là vấn đề kinh tế - xã hội khá phổ biến trong quá
trình xây dựng nông thôn mới, tạo sức ép về việc làm đối với lao động nông
nghiệp, nông thôn dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Xây dựng nông
thôn mới làm tăng lượng lao động nhập cư ngày càng cao gây sức ép lớn về việc
làm và sự quá tải về kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục, ở các khu đô thị.
Quá trình xây dựng nông thôn mới đang tạo ra những cơ hội và thách thức
về lao động và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp ở Hà Nội. Do đó
việc phân tích và chỉ ra mối quan hệ giữa việc làm cho lao động nông nghiệp với
quá trình xây dựng nông thôn mới, việc đánh giá thực trạng việc làm cho lao
động nông nghiệp và đề xuất các giải pháp để giải quyết việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn năm 2015 –
2020, định hướng đến năm 2030 là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, đề tài “Việc

làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô
Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu làm luận án tiến sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận thức cơ sở khoa học về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá, phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội
giai đoạn 2008 -2013.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để gắn giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội giai
đoạn 2015 - 2020 định hướng 2030.
8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Đề tài nghiên cứu về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội
3.2. Phạ m vi nghiên cứ u
- Phạm vi đề tài: Luận án tập trung nghiên cứu việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở một số huyện của Thủ
đô Hà Nội theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2013.
4. Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu
4.1. Phư ơ ng pháp tiế p cậ n
Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận theo vùng: Mỗi vùng có những điều
kiện tự nhiên kinh tế xã hội khác nhau, xuất phát điểm xây dựng nông thôn mới
khác nhau. Theo đó, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp cũng
không giống nhau ở mỗi địa phương về quy mô, số lượng, chất lượng, cơ cấu.
Do đó tiếp cận vùng sẽ cho phép nghiên cứu những yếu tố riêng biệt của mỗi
vùng từ đó có những giải pháp cụ thể phù hợp với mỗi vùng.
Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá tình hình lao động, việc làm và giải quyết

việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở
thủ đô Hà Nội được sử dụng trong đề tài:
- Cơ cấu lao động nông nghiệp phân loại theo trình độ văn hoá và trình
độ chuyên môn.
- Cơ cấu lao động nông nghiệp phân loại theo ngành nghề.
- Cơ cấu lao động nông nghiệp phân loại theo độ tuổi, giới tính.
- Phân bố lao động nông nghiệp phân loại theo vùng.
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp có việc làm và lao động nông nghiệp thiếu
việc làm.
9
4.2. Phư ơ ng pháp nghiên cứ u
4.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
4.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập số liệu thứ cấp được lấy từ các tài liệu chuyên ngành, từ sách
tham khảo, các nghị quyết, chương trình của trung ương, chính phủ, thành ủy,
hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; các đề án, kế hoạch, báo
cáo, tổng kết của thành phố Hà Nội. Trong đó số liệu thứ cấp chủ yếu được thu
thập và phân tích đánh giá từ đề án xây dựng nông thôn mới của thành phố Hà
Nội; đề án xây dựng nông thôn mới của 19 huyện thị xã và 401 xã trên địa bàn
thành phố Hà Nội; thu thập số liệu theo kết quả tổng điều tra nông nghiệp nông
thôn và thủy sản thành phố Hà Nội tại thời điểm ngày 01/7/2011; thu thập số
liệu về báo cáo kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành
phố Hà Nội trong các năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013; thu thập số liệu từ báo
cáo kết quả thực hiện đề án 1956 của thành phố Hà Nội về đào tạo vào giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn từ năm 2011 đến năm 2013.
4.2.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu qua chọn mẫu điều tra được thu thập thông qua chọn mẫu điều tra
phi ngẫu nhiên. Cụ thể là kết hợp giữa phương pháp điều tra phân cấp và
phương pháp điều tra theo tiêu thức kết hợp. Luận án đã có khảo sát một số
huyện trong địa bàn thành phố Hà Nội và đã điều tra theo mẫu phiếu số

01/TĐTNN-HO của Ban chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp, thủy sản
trung ương trong đó tác giả luận án là trưởng ban chỉ đạo điều tra của toàn bộ
các hộ thường trú ở khu vực nông thôn tại huyện Từ Liêm. Số liệu được thu thập
và tổng hợp bằng công nghệ quét (scanning): phiếu mẫu số 01/TĐTNN-HO của
Ban chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp, thủy sản trung ương được ghi
chép, bảo quản, vận chuyển cẩn thận theo đúng quy trình tránh bị quăn, rách,
ẩm… và được bảo quản theo đúng quy trình trách nhiệm từ điều tra viên, tổ
trưởng đến ban chỉ đạo các xã và huyện.
10
4.2.2. Phương pháp xử lý số liệu
4.2.2.1. Với số liệu thứ cấp
Với số liệu thứ cấp được sử dụng phân nhóm theo nội dung của đề tài
nhằm chứng minh làm rõ những nội dung mà đề tài yêu cầu. Các số liệu thứ cấp
này đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
4.2.2.2. Với số liệu sơ cấp
Với số liệu sơ cấp luận án đã phân nhóm theo các tiêu thức phân tổ và tính
các chỉ tiêu phân tích trên bảng tính excel.
4.2.3. Phương pháp khác
Đề tài sử dụng và tuân theo cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử để luận giải phân tích các vấn đề. Cụ thể:
Trong đó luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu: trừu tượng hóa khoa
học; phương pháp nghiên cứu hệ thống tổng hợp phân tích thống kê so sánh,
phương pháp phân tích thực chứng và chuẩn tắc; phương pháp định tính và định
lượng… đồng thời sử dụng phương pháp tổng kết tình hình thực tiễn để tìm ra
những đặc trưng của vấn đề nghiên cứu và tính quy luật của đối tượng nghiên cứu
Chương 1: Luận án đã tổng hợp và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về
các phạm trù lao động và lực lượng lao động, việc làm, thất nghiệp, trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của các học giả ngoài nước và trong nước. Đề tài cũng
đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu từ đó phân tích đánh giá tìm ra các vấn đề có
tính kế thừa bổ sung và hoàn thiện, đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề còn chưa

đầy đủ trong nghiên cứu về việc làm cho lao động nông nghiệp ở Thủ đô.
Chương 2: Luận án sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút
ra những khái niệm cơ bản và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về giải
quyết việc làm, lao động và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nông thôn mới, đồng thời đề tài cũng sử
dụng phương pháp nghiên cứu đánh giá thực tiễn các vấn đề lao động giải quyết
việc làm kinh nghiệm của một số nước và một số địa phương trong nước để từ
đó rút ra bài học cho Hà Nội.
11
Chương 3: Luận án sử dụng các phương pháp phân tích định tính và định
lượng; phương pháp phân tích thực chứng và chuẩn tắc; phương pháp thống kê;
phương pháp so sánh, tổng hợp theo logic kết hợp và sử dụng một số sơ đồ, biểu
đồ, đồ thị nhằm đánh giá thực trạng việc làm cho lao động nông nghiệp trong
quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội. Các số liệu được tác giả thu
thập từ các nguồn tài liệu và dữ liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm
Microsoft Excel để đưa ra cái nhìn trực quan hơn về tình hình việc làm và giải
quyết việc làm của lao động nông nghiệp ở Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ xây
dựng nông thôn mới.
Chương 4: Luận án sử dụng phương pháp tổng hợp khái quát hóa nhưng
vấn đề đã nghiên cứu ở chương 2 và chương 3 để rút ra phương hướng và giải
pháp có tính khả thi giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình xây dựng nông thôn mới đến năm 2020, định hướng 2030.
5. Đóng góp của luận án
- Về lý luận: luận án hệ thống lại lý luận về vấn đề việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
- Về thực tiễn: luận án đã phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc
làm cho lao động nông nghiệp ở Thủ đô Hà Nội gắn với thời kỳ xây dựng nông
thôn mới. Đưa ra một cái nhìn tổng thể nhất về thực trạng việc làm và giải quyết
việc làm cho lao động nông nghiệp gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới ở
Thủ đô giai đoạn 2008 – 2013. Luận án chỉ ra những tác động qua lại giữa quá

trình thực hiện xây dựng nông thôn mới tới việc làm cho lao động nông nghiệp
trong điều kiện đặc thù của Thủ đô Hà Nội. Trên cơ sở phân tích thực trạng việc
làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới và dự
báo tình hình phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030,
luận án đã đưa ra các phương hướng, giải pháp để giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội.
12
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
Việc làm cho người lao động là một vấn đề luôn được quan tâm. Bởi lẽ,
đây không chỉ là vấn đề có liên quan đến cuộc sống của người lao động, mà còn
liên quan đến tất cả các quá trình phát triển xã hội. Đây là một vấn đề có liên hệ,
liên kết giữa các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu. Quá trình đó diễn ra
trong mỗi quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong
đó có liên quan đến các lợi ích kinh tế và luật pháp. Đây là vấn đề chủ yếu của
toàn bộ đời sống xã hội. Nhưng vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giải quyết
việc làm cho người lao động cũng có những đặc điểm khác nhau.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về việc làm cho người lao động được nhiều
nhà khoa học, nhà quản lý cả trong và ngoài nước quan tâm. Trong phạm vi của
luận án, chương tổng quan tình hình nghiên cứu chỉ tập trung giới thiệu một số
công trình tiêu biểu liên quan đến việc làm cho người lao động, trong đó có lao
động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội.
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Tài liệ u chuyên khả o và tham khả o nư ớ c ngoài
1.1.1.1 Sách tham khảo và bài báo khoa học
* Các Mác (1818-1883) - nhà kinh tế học và triết học người Đức có công
trình vĩ đại “Tư bản” được phát hành vào năm 1867 [5]. Sự xuất hiện của công
trình này đã đưa ông trở thành nhà khoa học kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ XIX.
Trong tác phẩm nổi tiếng này, Ông đã đưa ra lý thuyết giá trị thặng dư và

phân tích bản chất và những thành tố đặc biệt của hàng hoá sức lao động - một
loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Trong quá trình nghiên cứu,
Các Mác đã phát hiện ra rằng, cái giá trị tăng thêm mà các ông chủ tư bản có
được sau khi bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh chính là do lao động không
13
công của người công nhân làm thuê tạo ra. Song để có những giá trị thặng dư ấy,
nhà tư bản phải tạo ra một chỗ làm việc cụ thể trong chuỗi kế hoạch sản xuất
kinh doanh của họ bằng cách đầu tư tư bản vào sản xuất, kinh doanh. Và hơn
nữa, người lao động nếu không thể kết hợp sức lao động sống của mình với chỗ
làm việc cụ thể do nhà tư bản tạo ra, thì bản thân họ cũng không thể chuyển sức
lao động thành việc làm, và do đó cũng không thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.
Vấn đề việc làm được ông nghiên cứu chi tiết ở chương XXIII, tập 23
C.Mác - Ăngghen toàn tập về “Quy luật phổ biến của tích luỹ tư bản chủ nghĩa”
[4], trong đó ông phân tích sự tăng thêm của tư bản đến vị trí của giai cấp công
nhân và việc làm. Luận cứ quan trọng nhất của công trình này là sự biến đổi cấu
tạo hữu cơ của tư bản trong quá trình tích luỹ. C.Mác cho rằng, cùng với những
điều kiện khác không thay đổi, kết cấu của tư bản cũng vẫn không thay đổi -
nghĩa là để vận dụng một khối lượng tư liệu sản xuất hay tư bản bất biến nhất
định, bao giờ cũng cần một khối lượng sức lao động như trước. Rõ ràng là lượng
cầu về sức lao động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tăng lên một cách tỷ lệ
với tư bản, và tư bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thì lượng cầu đó cũng càng
tăng lên nhanh bấy nhiêu. Theo ông, đầu tư tăng (tăng tư bản) sẽ làm gia tăng
cầu sức lao động, do đó, khả năng có việc làm của người lao động sẽ được gia
tăng. Tuy nhiên, với mục đích có được càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, việc gia
tăng tư bản của nhà tư bản luôn được tính toán làm sao tốc độ gia tăng tư bản bất
biến nhanh hơn tốc độ gia tăng tư bản khả biến. Đầu tư cải tiến kỹ thuật công nghệ
là biện pháp tốt nhất để tăng năng suất lao động, gia tăng sản xuất giá trị thặng dư.
Do đó, sự gia tăng việc làm trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa không tăng
cùng tỷ lệ với sự gia tăng đầu tư tư bản, mà có xu hướng giảm tương đối.
Như vậy, xét trên tổng thể, tư bản khả biến và cầu sức lao động giảm

tương đối, số lượng việc làm tăng chậm hơn toàn bộ vốn của nền sản xuất xã
hội. Từ đó Mác đưa ra nhận định về nạn nhân khẩu thừa tương đối trong phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định, sự tăng lên của bộ phận tư bản
khả biến bao giờ cũng gắn liền với những biến động mạnh mẽ của việc sản xuất
14
ra số nhân khẩu thừa tạm thời. Và cùng với sự tích luỹ tư bản do bản thân nó đẻ
ra, nhân khẩu công nhân cũng sản xuất ra với một quy mô ngày càng lớn những
phương tiện làm cho họ trở thành nhân khẩu thừa tương đối. Dân cư dôi dư này
có ý nghĩa rất quan trọng để phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo lao
động thường xuyên cần thiết cho xã hội và cũng là đòn bẩy quan trọng cho việc
đẩy mạnh sản xuất giá trị thặng dư [dẫn theo 24].
Những nghiên cứu của C.Mác về hàng hoá sức lao động, về sự sản xuất ra
giá trị thặng dư, về ngày lao động, sự phân công lao động, sự thay đổi trong đại
lượng giá cả sức lao động và của giá trị thặng dư, sự chuyển hoá giá trị sức lao
động hay giá cả sức lao động thành tiền công, quá trình tích luỹ tư bản, nhất là
lý luận của ông về tích luỹ tư bản được chuyển tải trong tập 23 đã cung cấp
những cơ sở khoa học cơ bản, trong đó có quan niệm về lao động, việc làm cho
các nhà kinh tế Mác-xít, các nhà nghiên cứu về các nền kinh tế trên thế giới
cũng như các vấn đề phát sinh trong xây dựng và phát triển kinh tế của các quốc
gia [14]. Đồng thời, đây cũng là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta xây dựng
đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới cũng như
giải quyết việc làm cho người lao động trong đó có lao động nông nghiệp.
* John Maynard Keynes trong cuốn Lý luận chung về việc làm, lãi suất và
tiền tệ [32] đã xem việc làm trong mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng - thu nhập
- tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm. Vị trí trung tâm trong lý thuyết của ông là việc
làm. J.M.Keynes cho rằng, tình trạng việc làm được xác định trong mối quan hệ
giữa tác động các yếu tố thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp, tình
trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập, ông khẳng định: khi việc
làm tăng lên thì tổng thu nhập tăng lên. Cùng với sự tăng lên của thu nhập, ông

cho rằng, khi thu nhập tăng thì tiêu dùng cũng tăng lên, nhưng do tâm lý của
quần chúng, tốc độ tăng tiêu dùng luôn thấp hơn tốc độ tăng thu nhập, làm cho
cầu tiêu dùng thực tế giảm tương đối so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng
hoá không bán được. Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng đến
15
sản xuất chu kỳ sau, do đó làm giảm việc làm, gia tăng thất nghiệp. Muốn khắc
phục tình trạng đó, cần phải có một khối lượng đầu tư nhằm kích thích quần
chúng tiêu dùng phần tiết kiệm của họ. Do vậy, theo ông, để tăng việc làm, giảm
thất nghiệp phải tăng tổng cầu nền kinh tế, gồm cả cầu tiêu dùng và cầu đầu tư.
Ông chỉ ra rằng, việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi
hỏi phải sử dụng các công cụ chính sách kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư và
giảm tiết kiệm. Có như vậy mới giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thất
nghiệp. Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng để tăng tổng cầu thông qua các
khoản chi tiêu chính phủ, hoặc thông qua các chính sách đầu tư.
Ông phê phán lý thuyết thất nghiệp của A.Pigou và cho rằng, trong nền
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không tồn tại cơ chế nào có thể đảm bảo
được việc làm đầy đủ, nguyên nhân của thất nghiệp và lạm phát không phải du
nhập từ bên ngoài, mà chính ở trong hệ thống kinh tế đó, chứ không thể và cũng
không phải là một hệ thống tự điều tiết.
Như vậy, theo J.M.Keynes, để tạo việc làm, hạn chế thất nghiệp, cần gia
tăng cầu tiêu dùng và đầu tư. Tăng cầu tiêu dùng và đầu tư nhằm kích thích
lượng tiền cất trữ đưa vào lưu thông, từ đó sẽ giúp mở rộng quy mô nền kinh tế,
làm tăng thu nhập. Và đến lượt nó, thu nhập tăng sẽ làm gia tăng đầu tư, tăng
việc làm và tăng tiêu dùng [30].
* Nolwen Heraff - Jean Yves Martin trong cuốn Lao động, việc làm và
nguồn nhân lực ở Việt Nam sau 15 năm đổi mới [29] đã nghiên cứu khái quát về
tình hình lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 1986-2000.
Theo đó cho thấy, bắt đầu sự nghiệp đổi mới, Việt Nam có một ưu thế lớn là có
nguồn nhân lực dồi dào, khả năng mở rộng việc làm trong quá trình đổi mới,
phát triển nền kinh tế thị trường rất lớn, song do chất lượng nguồn nhân lực

thấp, đa số là lao động chưa qua đào tạo nghề nên khả năng đáp ứng yêu cầu
phát triển rất hạn chế.
Điểm đáng chú ý nhất ở tác phẩm này là đã chỉ ra những hạn chế của
nguồn nhân lực và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề
giải quyết việc làm ở nước ta giai đoạn 1986-2000. Những kết quả nghiên cứu
16
của công trình này, cũng như nghiên cứu của Slandes [49] đã cung cấp cho
người đọc có một cái nhìn tương đối khách quan, khoa học về lao động, việc
làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi
từ mô hình kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đó là những tư liệu giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về lao động, việc
làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
* Tuan Francis, Somwaru Agapi, Diao Xinshen trong cuốn Lao động
nông thôn di cư, đặc điểm và mô hình việc làm - Nghiên cứu dựa trên điều tra
nông nghiệp Trung Quốc [28] cho rằng quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh
mẽ ở Trung Quốc và sự gia tăng năng suất trong nông nghiệp hàm ý rằng những
lao động nông thôn sẽ được thu hút vào các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp.
Kết quả là họ sẽ có nhiều cơ hội để tăng thu nhập phi nông nghiệp. Công trình
này tập trung nghiên cứu cấu trúc lực lượng lao động nông thôn và những đặc
điểm của lao động nông thôn để đánh giá tiềm năng di cư lao động nông thôn
vào các lĩnh vực phi nông nghiệp. Công trình phân tích thị trường lao động nông
thôn Trung Quốc dựa trên điều tra dân số nông nghiệp Trung Quốc lần thứ nhất,
với những đặc điểm nhân khẩu học của lực lượng lao động nông thôn, tính liên
kết giữa các loại công việc, nơi làm việc và di cư lao động của lao động nông
thôn. Dựa trên sự phân bổ nhân khẩu học của lực lượng lao động nông thôn, các
tác giả đã tìm ra được mối liên hệ giữa lao động nông thôn với việc phân bổ các
nguồn lực khác, đặc biệt là quỹ đất đai ngày càng hạn chế, từ đó áp dụng kỹ
thuật logit polytomous tổng quát để phân tích các mô hình sử dụng lao động
nông thôn và dự báo quá trình di cư lao động nông thôn.Tác phẩm này cung cấp
cho các nhà nghiên cứu cơ cấu của lao động nông thôn có khả năng chuyển đổi

theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và cơ cấu lao động và việc làm của lao động nông nghiệp trong quá trình
xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.
* Ren Mu, Dominique van de Walle trong cuốn Left Behind to Farm? -
Women’s Labor Re-Allocation in Rural China [34] chứng minh rằng sự chuyển
đổi công việc và di cư lao động trong quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng
17
của Trung Quốc diễn ra rất mạnh mẽ, song có vấn đề tồn tại là sự phân bổ lại lao
động nông nghiệp truyền thống đối với những người phụ nữ nông thôn. Báo cáo
nghiên cứu phương thức làm việc và phân bổ thời gian của những người phụ nữ
không di cư nhưng chịu ảnh hưởng bởi sự di cư của những người thân trong gia
đình. Thực tế cho thấy, những người phụ nữ bị bỏ lại ở nông thôn đang phải làm
nhiều công việc đồng áng hơn trước, và điều này diễn ra trong thời gian dài chứ
không chỉ là tạm thời đảm nhiệm. Trong khi đó, đối với những người đàn ông bị
bỏ lại ở nông thôn thì không gặp phải trường hợp này. Các chuyên gia kinh tế đã
đặt câu hỏi về mô hình thu nhập tổng hợp của hộ gia đình dựa trên những bằng
chứng thực nghiệm, những khả năng phát sinh có thể đi kèm với các hiệu ứng
phân phối trong các hộ gia đình trong quá trình phát triển kinh tế tổng thể.
Đối tượng nghiên cứu của công trình này là những phụ nữ nông thôn
không di cư, phương cách làm việc, phân bổ thời gian lao động và sức khỏe của
họ bị ảnh hưởng khi sống trong những gia đình có người di cư. Những vấn đề về
bình đẳng giới thường chỉ chú ý đến việc trao quyền cho người phụ nữ mà bỏ
quên các khía cạnh khác của họ về phúc lợi, như các loại công việc và thời gian
để giải trí. Phụ nữ có thể được trao quyền nhiều hơn nhưng họ phải làm việc
nhiều hơn, ít có thời gian giải trí và ít chăm sóc sức khỏe bản thân hơn. Thu
nhập hộ gia đình có thể gia tăng cùng với lượng kiều hối của người di cư, nhưng
hạnh phúc của người phụ nữ có thể không tăng lên.
Tìm hiểu lợi ích của những người phụ nữ bị bỏ lại ở nông thôn có ý nghĩa
quan trọng đối với tăng trưởng chung và các chính sách phát triển kinh tế - xã
hội. Những cải thiện hay hỗ trợ người phụ nữ trong việc cung cấp các dịch vụ

công cho trẻ em và chăm sóc người cao tuổi có thể giúp làm giảm bớt gánh nặng
của công việc đồng áng đối với những người phụ nữ này. Dịch vụ khuyến nông
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ có học vấn và kiến thức về nông
nghiệp thấp trong các gia đình có người di cư. Ngoài ra những chính sách xóa
đói giảm nghèo thông qua các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tín dụng, việc làm phi
18
nông nghiệp và mạng lưới an sinh xã hội an toàn cũng sẽ giúp những phụ nữ này
có cuộc sống tốt hơn. Từ đó, nghiên cứu đã đề nghị những chính sách nhằm tạo
việc làm, nâng cao thu nhập và chăm sóc toàn diện đối với người phụ nữ bị bỏ
lại ở nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc trong quá trình di cư lao động từ nông
thôn ra thành thị. Nội dung nghiên cứu của công trình sẽ giúp cho chúng ta có
cái nhìn thực tế, quan tâm nhiều hơn đến lao động nông nghiệp trong quá trình
xây dựng nông thôn mới trong đó có lao động nữ tại nông thôn Việt Nam.
* Li Luping trong báo cáo Biến đổi thu nhập hộ gia đình ở nông thôn
Trung Quốc [33] đã nghiên cứu những thay đổi trong sản xuất nông nghiệp và
hệ thống sinh kế của bốn khu vực nông thôn Trung Quốc trên cơ sở hai đợt khảo
sát các hộ gia đình trong giai đoạn 1999-2009. Kết quả cho thấy, trong các yếu
tố quan trọng giải thích cho sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình thì giáo dục là
yếu tố chính ảnh hưởng đến tăng trưởng thu nhập của các hộ gia đình. Thời gian
đi học của người dân càng tăng lên thì thu nhập bình quân đầu người của họ
càng tăng lên nhiều hơn. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra nhiều
việc làm phi nông nghiệp hơn cho các hộ gia đình ở nông thôn, đồng thời quá
trình đô thị hóa lại hấp thụ một lượng lớn lao động nông thôn trong lĩnh vực
dịch vụ. Kết quả của phân tích những biến động thu nhập của hộ gia đình nông
thôn Trung Quốc cho thấy nông dân nghèo là những người có thu nhập bình
quân đầu người tăng nhiều nhất trong một thập kỷ qua. Như vậy có thể thấy
công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn đã và đang cung cấp nhiều hơn những
cơ hội cho người nghèo thoát nghèo và tăng thu nhập bình quân đầu người cho
họ. Vấn đề còn lại là ở chính những người nông dân đó, tự họ có đủ năng động
để tranh thủ những cơ hội thoát nghèo đó hay không. Những nội dung này cũng

được đề cập trong cuốn Vấn đề tam nông ở Trung Quốc: Thực trạng và giải
pháp” [25].
19
1.1.1.2. Tạp chí khoa học nước ngoài
* Jennifer Cheung trong bài viết China's Inland Growth Gives Rural
Laborers More Opportunities Near Home [6] khẳng định rằng các khu vực kinh
tế nội địa Trung Quốc đang trên đà phát triển trong khi các vùng duyên hải có
xu hướng bão hòa khiến cho lao động di cư của Trung Quốc có xu hướng tính
đến những cơ hội việc làm ở gần nhà hơn.
Tứ Xuyên, một tỉnh của Trung Quốc vốn được mệnh danh là nơi xuất
khẩu lao động nông thôn đã có tình trạng người lao động nông thôn làm việc ở
nhà ngày càng nhiều hơn. Sáu tháng đầu năm 2012, đã có 10,9 triệu lao động
nông thôn Tứ Xuyên làm việc ở trong tỉnh, tăng 23,7% so với năm trước và 10,1
triệu lao động nông thôn di cư khỏi tỉnh, giảm 4,1% so với cùng kỳ. Điều này đã
trở thành một xu hướng mới của người lao động, “ly nông bất ly hương”.
Bài báo phân tích quan điểm của những người lao động nông thôn đã trở
về nhà sau nhiều năm di cư cho rằng hiện nay, với sự phát triển kinh tế của
những khu vực nội địa Trung Quốc đã làm giảm đáng kể khoảng cách thu nhập
của lao động di cư với lao động làm việc gần nhà. Thêm nữa, với việc làm gần
nhà, các lao động nông thôn có nhiều thời gian để chăm sóc gia đình của mình.
Sự trở về của các lao động di cư cũng khiến cho những người lao động ở lại các
khu vực thành thị và các khu công nghiệp có nhiều lợi thế hơn khi thương lượng
về mức lương với những ông chủ sử dụng lao động. Trong nửa đầu năm 2012,
tiền lương công nhân nhập cư đã tăng 15%, nhanh hơn so với lao động thành thị.
Không chỉ lao động di cư bị thu hút bởi cơ hội việc làm gần nhà, mà ngay
chính họ - những người lao động đã từng di cư cũng có thể thành lập các doanh
nghiệp mới trên địa bàn tỉnh với các kỹ năng và kinh nghiệm thu được từ nhiều
năm làm việc tại các tỉnh ven biển. Đây là triển vọng cho các chính sách giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn nhưng không làm gia tăng sức ép lên các
đô thị lớn ở Trung Quốc.

20
* Arnab K. Basu trong Impact of Rural Employment Guarantee Schemes
on Seasonal Labor Markets: Optimum Compensation and Workers' Welfare [1]
cho rằng việc ban hành Đạo luật quốc gia về Bảo lãnh việc làm nông thôn ở Ấn
Độ được ca ngợi như một chính sách cung cấp một mạng lưới an sinh xã hội cho
người nghèo nông thôn để tăng thu nhập, ổn định sản xuất nông nghiệp và làm
giảm tốc độ di cư từ nông thôn ra đô thị. Bài báo phân tích tác động của Chương
trình đảm bảo việc làm trong bối cảnh của một nền kinh tế nông nghiệp đặc
trưng bởi lao động thất nghiệp theo mùa vụ như một hệ quả của hợp đồng ràng
buộc lao động. Dựa trên những kết quả kiểm tra lao động và sản lượng đáp ứng
thị trường để có thể thực hiện đề án “Bảo lãnh việc làm cho lao động nông thôn
và xác định việc bồi thường cho người lao động phù hợp với các mục tiêu”: (i)
hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp và (ii) phúc lợi tối đa hóa của người lao
động. Từ đó, tác giả cung cấp khung lý thuyết cho việc đánh giá những quan sát
và kết quả thực nghiệm về tác động của đề án: bảo lãnh việc làm cho lao động
nông thôn với tiền lương nông nghiệp, việc làm, đầu ra của nông nghiệp và nhấn
mạnh tầm quan trọng của năng suất tương đối của người lao động trong các
chương trình này với đối tác của họ khi tham gia sản xuất nông nghiệp.
* Jonna Estudillo và các cộng sự trong Labor markets, occupational choice,
and rural poverty in four Asian countries [26] đã khám phá những cơ chế cơ bản
trong thị trường lao động nông thôn dẫn đến tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo
ở các vùng nông thôn của Philippines, Việt Nam, Bangladesh và Sri Lanka. Việc
gia tăng thu nhập phi nông nghiệp, trong đó tăng thu nhập từ việc làm chính thức,
được xem là một động lực quan trọng của tăng trưởng thu nhập và giảm nghèo. Vì
vậy, để giảm đói nghèo ở nông thôn, các chính phủ cần phải có chính sách nhằm
tạo ra nhiều việc làm chính thức, vì vấn đề chất lượng công việc có tác động lớn
trong việc cải thiện mức sống của người lao động nông thôn.
Từ một số công trình nêu trên của các tác giả nước ngoài, có thể thấy, vấn
đề việc làm cho lao động nông thôn, lao động nông nghiệp có mối quan hệ hữu
21

cơ với các yếu tố khối lượng đầu tư, khối lượng sản phẩm được tạo ra và chất
lượng của nguồn nhân lực [27]. Các nhân tố có những quan hệ luôn luôn biến
động, và sự điều chỉnh của nó không dễ dàng. Các chính sách điều chỉnh của
nhà nước chỉ có tác dụng khi có sự tác động đến tổng thể các yếu tố của quá
trình kinh tế xã hội.
1.1.2. Tài liệ u chuyên khả o, tham khả o trong nư ớ c
1.1.2.1. Đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ
* Đề tài KX.04 Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết
việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần do
Nguyễn Hữu Dũng làm chủ nhiệm [35] đã nghiên cứu các nội dung sau: Xây
dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách giải quyết việc làm của
Việt Nam trong điều kiện chuyển đổi cấu trúc nền kinh tế và đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế; Khuyến nghị một số chính sách quan trọng nhất trong lĩnh vực
việc làm; Đề xuất mô hình tổng quát và hệ thống biện pháp nhằm đảm bảo thực
hiện chính sách quốc gia xúc tiến việc làm. Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã
đóng góp một số luận cứ, cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước ta trong việc
hình thành các chủ trương, chính sách về giải quyết vấn đề việc làm thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong quá trình xây dựng nông
thôn mới ở Việt Nam
* Đề tài cấp Bộ Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009
(Lao động và việc làm nông thôn) do Bùi Quang Dũng làm chủ nhiệm [3] tập
trung nghiên cứu một số vấn đề trong quá trình phát triển xã hội nông thôn năm
2009 như tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, đào tạo nghề cho lao động, tình
trạng di dân đô thị và nghèo đói của người lao động ở nông thôn Việt Nam,
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông
thôn, tình trạng thất nghiệp mùa vụ ở nông thôn là nguyên nhân cơ bản dẫn đến
sự di dân như một chiến lược kinh tế của người nông dân. Đô thị trở thành “cái
túi” chứa lao động nông thôn, với sức ép gia tăng ngày càng lớn về việc làm, y
22
tế, giáo dục, ổn định xã hội, Người lao động di cư đang phải đối mặt với nhiều

khó khăn khi mưu sinh ở thành thị dẫn đến hiện tượng dòng di cư “đảo chiều”
về nông thôn, gây nên tình trạng thiếu việc làm cho lao động nông thôn không di
cư. Phân tích các chính sách giảm nghèo, hỗ trợ sản xuất và tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản ở nông thôn, tác giả cũng chỉ ra những bất cập trong xây dựng và
thực hiện chính sách của Nhà nước.
Ngoài ra, đề tài cấp Bộ Hiện trạng cung - cầu nguồn lao động kỹ thuật
thành phố Hồ Chí Minh và định hướng giải pháp đào tạo, sử dụng cho giai đoạn
tới 2010 do Nguyễn Trần Dương làm chủ nhiệm [45] cũng đề cập đến rất nhiều
vấn đề quan trọng liên quan đến chủ đề nghiên cứu này. Đặc biệt, đề tài đã cung
cấp một hệ thống giải pháp đào tạo, sử dụng lao động kỹ thuật cho thành phố Hồ
Chí Minh. Các kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo rất tốt khi tìm
kiếm các giải pháp về lao động, việc làm cho thủ đô Hà Nội.
1.1.2.2. Luận án Tiến sỹ
* Luận án của Trần Thị Bích Hạnh [57] đã nghiên cứu để tìm kiếm các
giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lao động, xem đây là những vấn đề có
tính chủ yếu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của khu vực. Tuy
vậy, luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu, tìm kiếm các biện pháp, các cách
thức dưới góc độ quản lý, gợi mở các phương án có tính kỹ thuật, luận án chưa
đi sâu nghiên cứu về bản chất của tình hình lao động, việc làm để từ đó có thể đề
ra những giải pháp mang tính bền vững, lâu dài, có thể dẫn dắt các biện pháp có
tính tình thế trong việc xử lý các vấn đề lao động, việc làm khi có phát sinh. Bên
cạnh đó, công trình trên chưa phát hiện được những vấn đề có tính quy luật của
sự vận động về việc làm và chất lượng nguồn lao động, nên các giải pháp đưa ra
mang đậm tính kỹ thuật, thiếu một sự khái quát có tính nguyên lý, giúp cho
chúng ta có thể kế thừa nó trong việc nhận diện các hiện tượng nảy sinh về vấn
đề việc làm, lao động trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung, tiến trình đẩy mạnh công nghiệp,
hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới nói riêng.
23
* Luận án của Phạm Đức Chính [47] với mục tiêu cải thiện việc sử dụng

nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng làm việc sau khi xuất khẩu
lao động ở nước ngoài trở về, đã nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách về sử
dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động, phân tích thực trạng và đề xuất các
nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách nói trên ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay. Luận án đã xác định những đặc trưng, đặc điểm nổi bật của nguồn
nhân lực sau xuất khẩu lao động với ưu thế là sự thích ứng cao với nền kinh tế
thị trường, làm rõ vai trò của nhà nước cùng với những nhân tố ảnh hưởng đến xây
dựng và thực thi chính sách, hệ thống các lĩnh vực liên quan đến điều kiện tái hòa
nhập và lập nghiệp, tạo việc làm cho người lao động sau khi trở về nước trên cơ sở
các tiêu chí đánh giá phù hợp trong điều kiện quản lý ở nước ta hiện nay.
Phân tích thực trạng chính sách của nhà nước đối với nguồn nhân lực sau
xuất khẩu lao động trong thời gian qua, luận án đã nghiên cứu, làm rõ những nội
dung của chính sách cần được điều chỉnh như: Các đối tượng thực thi chính sách
cần nắm bắt được kế hoạch nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động về nước
hàng năm, vì nhu cầu sử dụng trong nước là không nhỏ nhằm bảo đảm sự tác
động, tính đáp ứng của chính sách cũng như hiệu lực của chính sách; Khắc phục
tình trạng chỉ có khoảng 20% số lao động trở về được sử dụng. Nhà nước cần bổ
sung những nội dung cụ thể nhất là sự đồng bộ của hệ thống chính sách để tăng
tính hiệu quả và tính phù hợp, thích đáng của chính sách. Trên cơ sở phân tích,
đánh giá chính sách thời gian qua và định hướng phát triển kinh tế-xã hội giai
đoạn tới trong đó có mục tiêu của hoạt động xuất khẩu lao động, luận án đã đề
xuất 6 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau
xuất khẩu lao động, nhưng chưa có giải pháp cụ thể để sử dụng nguồn nhân lực
này đưa về nông thôn bổ sung cho lực lượng lao động trong quá trình xây dựng
nông thôn mới. Đây cũng là những vấn đề được tác giả Nguyễn Lương Trào nghiên
cứu khá kỹ trong luận án tiến sỹ của mình nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả của
việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài [40].
24
1.1.2.3. Một số sách tham khảo, chuyên khảo liên quan đến đề tài
* Cuốn Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu

Dũng và Trần Hữu Trung [37] nghiên cứu về chính sách việc làm ở Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nội dung công
trình có thể khái quát trên một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
chính sách việc làm. Các tác giả cho rằng: “vấn đề cốt lõi, bao trùm nhất là phải
tạo ra điều kiện và cơ hội để người lao động có việc làm, thu nhập đảm bảo cuộc
sống của bản thân và gia đình, đồng thời góp phần cho xã hội. Đó là nội dung cơ
bản của chính sách việc làm”.
Thứ hai, tiếp cận phương pháp nghiên cứu chính sách việc làm. Các tác
giả cho rằng, chính sách việc làm phải được đặt trong hoàn cảnh của quá trình
chuyển đổi nền kinh tế cũng như chủ trương đa phương hoá các quan hệ quốc tế.
Đồng thời, chính sách việc làm cũng phải dựa trên sự sáng tạo của quần chúng
nhân dân, nhằm phát huy tối đa sức sáng tạo của nhân dân, phục vụ hiệu quả
công cuộc đổi mới phát triển đất nước.
Thứ ba, công trình đã hệ thống khái niệm về lao động, việc làm. Các tác
giả đã nghiên cứu và đề cấp đến các nội dung chủ yếu như: quan niệm cơ bản về
lao động và việc làm; hệ thống khái niệm cơ bản về lao động và việc làm được
vận dụng ở nước ta. Ở những nội dung này, trên cơ sở kế thừa các công trình
nghiên cứu có trước, các phạm trù: việc làm, lực lượng lao động, người có việc
làm, người thất nghiệp, những người không thuộc lực lượng lao động được tác
giả giới thiệu một cách khái quát, nhằm phục vụ cho mục tiêu làm rõ những vấn
đề có liên quan đến chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam.
Thứ tư, công trình phân tích làm rõ nguyên nhân và những mâu thuẫn chủ
yếu của vấn đề thị trường lao động và việc làm ở Việt Nam trong những năm
đầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thứ năm, công trình đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng giải
quyết việc làm phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam.
25
Và cho rằng: một trong những vấn đề cơ bản nhất của sự thay đổi trong nhận
thức về việc làm là coi trọng yếu tố tự tạo việc làm của người lao động trong các

thành phần kinh tế. Điều đó sẽ tạo thuận lợi cho việc giải phóng tiềm năng lao
động của đất nước một cách hiệu quả nhất. Đây là một trong những thay đổi có
tính căn bản của nhận thức về vấn đề tìm kiếm việc làm của người lao động,
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay.
Với những nội dung chính vừa nêu, công trình này đã đề cập đến rất nhiều
khía cạnh khác nhau liên quan đến vấn đề việc làm-cho người lao động. Song do
được nghiên cứu ở những năm trước 1997, nên các lập luận, kiến giải có những
hạn chế nhất định. Tuy nhiên, công trình đã mang đến người đọc những kiến
thức bổ ích, nhất là phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về chính sách giải
quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn
mới ở Việt Nam.
* Cuốn Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hóa
trên địa bàn thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Tiệp [43] đã nêu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Những
đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình đô thị hóa tác
động chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, chuyển lao động nông thôn sang
làm các công việc công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, quá trình đô thị hóa và hội
nhập toàn cầu hóa kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công
nghiệp dịch vụ. Sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới đòi hỏi nguồn nhân lực
nông thôn phải có sự đổi mới nâng cao chất lượng để thích ứng, đáp ứng nhu
cầu của thị trường lao động. Đô thị hóa và di chuyển lao động nông thôn ra
thành thị trở thành xu thế không thể cưỡng nổi, nó có tác dụng giảm sức ép căng
thẳng về việc làm ở các vùng nông thôn và cung ứng lao động cho thị trường lao
động ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu du

×