Tải bản đầy đủ (.pdf) (140 trang)

UNG DUNG CNTT DE THIET KE BAI GIANG DIA LY TU NHIEN 10 ( DHSP THAI NGUYEN )

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.22 MB, 140 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




PHẠM NGỌC THƢƠNG



ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ BÀI
GIẢNG ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TRONG SÁCH GIÁO KHOA
ĐỊA LÍ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG



LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trần Viết Khanh




THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM





PHẠM NGỌC THƢƠNG



ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ BÀI
GIẢNG ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TRONG SÁCH GIÁO KHOA
ĐỊA LÍ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG


CHUYÊN NGÀNH : Lý luận và phƣơng pháp dạy học bộ môn địa lý
MÃ SỐ : 60.14.10


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trần Viết Khanh



THÁI NGUYÊN – 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các
số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và đảm bảo
tính khoa học.

Thái nguyên tháng 9 năm 2008
Tác giả




















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

CNTT : Công nghệ thông tin
SGK : Sách giáo khoa
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
TN : Thực nghiệm
ĐC : Đối chứng

Đtb : Điểm trung bình
CD : Đĩa chứa nội dung bài giảng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình, sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
5. Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Đóng góp của luận văn
8. Cấu trúc của luận văn
NỘI DUNG
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT trong thiết
kế bài giảng Địa lí tự nhiên 10 THPT
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1. Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của lứa tuổi học sinh THPT
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản trong lí luận dạy học Địa lí
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Quan điểm dạy học theo hướng tích cực

1.2.2. Tin học hóa – Nhu cầu tất yếu của thời đại mới
1.2.3. Quan niệm dạy học có sử dụng CNTT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.2.4. Ứng dụng CNTT vào giảng dạy để thực hiện tốt mục tiêu dạy học
và hiện đại hóa nền giáo dục
1.2.5. Thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng
Địa lí tự nhiên 10 THPT hiện nay
Chƣơng 2: Sử dụng CNTT và các phần mềm tin học có nội dung Địa lí
để thiết kế bài giảng Địa lí tự nhiên trong SGK Địa lí 10 THPT
2.1. Giới thiệu một số phần mềm có khả năng khai thác và thiết kế
một bài giảng Địa lí
2.1.1. Một số yêu cầu và nguyên tắc đối với việc thiết kế bài giảng
2.1.2. Một số phần mềm cơ bản được sử dụng trong thiết kế bài giảng
2.1.3. Sử dụng Power point để thết kế bài giảng
Địa lí tự nhiên 10 THPT
2.2. Thiết kế một số bài giảng Địa lí tự nhiên cụ thể trong chương trình
Địa lí 10 THPT có sử dụng Power point và các phần mềm tin học
có nội dung Địa lí
2.2.1. Chương trình và nội dung môn Địa lí ở trường phổ thông
2.2.2. Quy trình thiết kế một bài giảng có sử dụng CNTT
2.2.3. Áp dụng trực tiếp vào thiết kế mẫu bài giảng Địa lí tự nhiên
trong SGK Địa lí 10 THPT
Chƣơng 3 Thực nghiệm sƣ phạm
3.1 Mục đích thực nghiệm
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm
3.3 Nguyên tắc thực nghiệm
3.4 Tổ chức thực nghiệm
3.4.1 Chọn trường thực nghiệm
3.4.2 Chuẩn bị thực nghiệm
3.4.3 Đánh giá sau thực nghiệm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.5 Nhận xét kết quả thực nghiệm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục












Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, TRANH ẢNH
Stt
Số hiệu
Tên hình, sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh
Trang
1
Hình 1.1
Vị trí của mô hình

2
Hình 1.2
Hệ thống các phương tiện dạy học Địa lí


3
Hình 1.3
Cấu trúc bài giảng

4
Hình 2.1
Màn hình làm việc của Power point

5
Hình 2.2
Hộp thoại Autocontent Winzard

6
Hình 2.3
Danh sách tệp mẫu trong Design templates

7
Hình 2.4
Một Slide trắng với bố cục có sẵn

8
Hình 2.5
Một Slide với phần trình bày trắng

9
Hình 2.6
Thao tác đóng gói vào CD

10

Hình 2.7
Thêm các tính năng khi đóng gói vào CD

11
Hình 2.8
Cửa sổ Microsoft Organization chart

12
Hình 2.9
Một Slide trong bài các phép chiếu hình bản đồ cơ bản

13
Hình 2.10
Các kiểu chữ nghệ thuật trong WordArt

14
Hình 2.11
Chèn biểu đồ vào Slide

15
Hình 2.12
Định dạng nhanh Font chữ

16
Hình 2.13
Dùng Slide Master định dạng nhanh các Slide

17
Hình 2.14
Một Slide có Video


18
Hình 2.15
Slide xác định nhiệm vụ và là phiếu học tập

19
Hình 2.16
Slide có sơ đồ là mối quan hệ nguyên nhân - kết quả

20
Hình 2.17
Slide có bản đồ

21
Hình 2.18
Một Slide trong bài 5: Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái
Đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của
Trái Đất

22
Hình 3.1
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm bài 1:Các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phép chiếu hình cơ bản
24
Hình 3.2
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm bài 5:Vũ trụ.
Hệ Mặt Trời và Trái Đất. Hệ quả chuyển động tự
quay quanh trục của Trái Đất


25
Hình 3.3
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm bài 7:Cấu trúc
của Trái Đất. Thạch quyển. Thuyết kiến tạo mảng.





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
Bảng 1.1
Cơ sở vật chất phục vụ cho việc ứng dụng CNTT vào thiết
kế bài giảng và giảng dạy môn Địa lí ở một số trường THPT

2
Bảng 3.1
Tên trường và các giáo viên tham gia thực nghiệm

3
Bảng 3.2
Lớp và số học sinh tham gia thực nghiệm

4

Bảng 3.3
Kết quả thực nghiệm bài 1: Các phép chiếu hình bản
đồ cơ bản

5
Bảng 3.4
Bảng phân bố tần số, tần suất kết quả khảo sát bài 1:
Các phép chiếu hình bản đồ cơ bản

6
Bảng 3.5
Giá trị phương sai và độ lệch chuẩn kết quả khảo sát
bài 1: Các phép chiếu hình bản đồ cơ bản

7
Bảng 3.6
Kết quả thực nghiệm bài 5: Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái
Đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất

8
Bảng 3.7
Bảng phân bố tần số, tần suất kết quả khảo sát bài 5:
Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái Đất. Hệ quả chuyển
động tự quay quanh trục của Trái Đất

9
Bảng 3.8
Giá trị phương sai và độ lệch chuẩn kết quả khảo sát
bài 5: Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái Đất. Hệ quả
chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất


10
Bảng 3.9
Kết quả thực nghiệm bài 7: Cấu trúc của Trái Đất.
Thạch quyển. Thuyết kiến tạo mảng

11
Bảng 3.10
Bảng phân bố tần số, tần suất kết quả khảo sát bài 7: Cấu
trúc của Trái Đất. Thạch quyển. Thuyết kiến tạo mảng

12
Bảng 3.11
Giá trị phương sai và độ lệch chuẩn kết quả khảo sát
Bài 7: Cấu trúc của Trái Đất. Thạch quyển. Thuyết
kiến tạo mảng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay nước ta đang đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để tiến tới hội nhập với nền kinh tế - xã
hội thế giới, nhằm tạo ra một sự phát triển vượt bậc vì mục tiêu nâng cao toàn
diện đời sống nhân dân và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Để đạt được điều đó nhất thiết phải nâng cao năng lực về mọi mặt nguồn lực
con người. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra cho ngành Giáo dục là phải đào tạo ra
những con người lao động mới, có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
thời kì đổi mới. Nghị quyết đại hội Đảng cũng đã đề ra “Phải xác định rõ mục
tiêu, nội dung đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo Từng bước áp dụng
các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học” để

“đào tạo được những con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có
năng lực giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra, tự lo được việc làm, lập
nghiệp, và thăng tiến trong cuộc sống, qua đó góp phần xây dựng đất nước
giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Xu hướng mới hiện nay trong quá trình dạy học là “Lấy học sinh làm
trung tâm”, tức là người dạy học phải phát huy tối đa tính tích cực chủ động
của người học trong quá trình dạy học, phải đề cao vai trò chủ thể của người
học trong quá trình nhận thức. Bắt học sinh phải làm việc nhiều hơn để tự
nắm kiến thức, tự tìm ra chân lí thông qua nhiều biện pháp đổi mới về phương
pháp cũng như vận dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại.
Để phù hợp với xu thế ngày nay, việc dạy và học phải được thay đổi theo
hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học thông qua nhiều con
đường như: Đổi mới về phương pháp, phương tiện dạy học Một trong
những hướng đó là sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Do đặc trưng đối tượng nghiên cứu của khoa học Địa lí là các vấn đề về
tự nhiên và kinh tế xã hội nên lượng kiến thức này càng tăng lên nhanh chóng
hơn. Nếu không kịp thời nắm bắt các kiến thức đó thì sẽ nhanh chóng bị tụt
hậu và trở nên lạc hậu.
Bên cạnh đó trong giai đoạn bùng nổ thông tin, đất nước đã và đang hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, điều này cũng góp phần làm cho
nguồn tri thức Địa lí ngày càng trở nên phong phú, nó được giới hạn không
chỉ ở trong những phương tiện truyền thống như các loại sách báo, các tài liệu
thông thường mà nó được phổ biến rộng rãi trên nhiều các phương tiện thông
tin đại chúng và các công nghệ hiện đại khác như: đài, tivi, và nhất là trên
mạng Internet.
Sự phát triển mạnh mẽ đó đã tạo ra các điều kiện vô cùng thuận lợi cho
quá trình học tập của học sinh nhưng nó cũng đặt ra cho người giáo viên
nhiều thách thức trong quá trình giảng dạy. Điều đó được thể hiện ở việc

giảng dạy của giáo viên phải làm thế nào để vừa giải quyết được những vấn
đề cốt lõi của bài học nhưng lại phải cập nhật thông tin mới về xã hội và nội
dung khoa học của bộ môn.
Chính điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy
của giáo viên. Người giáo viên lúc này không chỉ có một nhiệm vụ duy nhất
là truyền đạt tri thức khoa học mà phải là người hướng dẫn học sinh, xây
dựng cho học sinh một phương pháp tự học, tự nghiên cứu, để tự mình nắm
bắt kiến thức, bắt kịp với sự phát triển của xã hội và có như vậy thì mới có thể
phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập. Điều này
cũng phù hợp với quy luật triết học, đó là con người phát triển trong vận động.
Chính những lí do đó mà việc đưa tin học và ứng dụng tin học như một
phương tiện vào trong giảng dạy và học tập là một nhiệm vụ quan trọng trong
giáo dục bậc phổ thông hiện nay, đồng thời đây cũng là một điều kiện thiết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
yếu để hiện đại hóa nền giáo dục nói chung, môn Địa lí nói riêng trong nhà
trường phổ thông, phù hợp với xu thế phát triển của khoa học kĩ thuật.
Tuy nhiên trong nhà trường phổ thông hiện nay việc ứng dụng CNTT và
truyền thông vào giảng dạy chưa nhiều, một số nơi còn chưa phát huy được
tính hiệu quả của phương tiện kĩ thuật hiện đại. Có nhiều nguyên nhân dẫn
đến điều này: Đó là cơ sở vật chất chưa đảm bảo, còn thiếu thốn cả về phòng
học, phương tiện; Sự chuyển biến chậm trong đổi mới phương pháp cũng như
nhiều giáo viên còn bỡ ngỡ trong việc sử dụng các thiết bị phương tiện dạy
học hiện đại.
Với mong muốn góp tiếng nói chung vào công cuộc đổi mới phương
pháp dạy học và nâng cao chất lượng thiết kế bài giảng cũng như mở rộng
thêm khả năng ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường phổ thông, tôi lựa chọn
đề tài: “Ứng dụng CNTT để thiết kế bài giảng phần địa lí tự nhiên trong
SGK Điạ lí 10 THPT” làm đề tài nghiên cứu cho mình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu sử dụng hiệu quả của một số phần mềm ứng dụng trong

thiết kế bài giảng và cách thức tiến hành thiết kế một bài giảng để giáo viên
có thể ứng dụng trong giảng dạy.
- Nêu được nguyên tắc, cơ sở và quy trình thiết kế bài giảng Địa lí có sử
dụng CNTT.
- Xây dựng đĩa CD về một số dạng thiết kế bài giảng phần địa lí tự nhiên
trong SGK địa lí 10 THPT nhằm thử nghiệm việc ứng dụng CNTT trong dạy
học hiện nay.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tiến hành nghiên cứu đề tài.
- Nghiên cứu cách thức khai thác, sử dụng một số phần mềm ứng dụng để
phục vụ cho việc thiết kế một bài giảng địa lí tự nhiên trong nhà trường phổ thông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Nghiên cứu cách thức và quy trình thiết kế một bài giảng địa lí tự nhiên
để phụ vụ cho việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông.
- Thiết kế một số bài giảng cụ thể trong phần địa lí tự nhiên trong SGK
Địa lý lớp 10 THPT.
- Thực nghiệm sư phạm tại một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh
TN, Bắc Kạn, Tuyên Quang để đánh giá tính khả thi của vấn đề nghiên cứu.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn. Đưa ra một số giải pháp để tăng tính
hiệu quả trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông.
4. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Bước đầu nghiên cứu cách thức ứng dụng CNTT vào việc thiết kế bài
giảng địa lí tự nhiên trong SGK địa lí 10.
5. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA VẤN ĐỀ
- Hiện nay trên Thế giới việc sử dụng CNTT vào dạy học đã được quan
tâm và vận dụng từ lâu, nhất là các nước phát triển và ngay các nước trong
khu vực như Singapo, Thái Lan…
- Ở nước ta việc ứng dụng CNTT vào dạy học cũng đã được quan tâm.
Đã có nhiều văn bản thể hiện việc quan tâm này như: Nghị quyết 49/CP…
- Trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng

dụng CNTT vào dạy học như :
+ “Ứng dụng CNTT trong giáo dục” - Hội thảo KHCN Bộ GD - ĐT, 2001
+ “Thiết kế bài giảng địa lí ở nhà trường phổ thông”. Nguyễn Trọng
Phúc, Nxb ĐHSP Hà Nội, 2004.
+ “Thiết kế bài giảng địa lí ở nhà trường phổ thông có sử dụng Power
point và các phần mềm địa lí”. Nguyễn Trọng Phúc - Hội thảo quốc tế về
CNTT và TT, Bộ GD-ĐT, 2004.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ “Khai thác chương trình PC - Pact, Encata, World 2000 và Power point
để thiết kế và xây dựng bài giảng địa lí”. Nguyễn Trọng Phúc, Hội thảo khoa học
“Sử dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học” ĐHSP Hà Nội, 2002.
Qua các đề tài nghiên cứu trên của các nhà khoa học giáo dục cho thấy
việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã đem lại kết quả khả quan, phát huy được
vai trò chủ động của học sinh trong học tập, học sinh đã say mê và hứng thú
hơn với việc học tập địa lí.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phƣơng pháp thu thập tài liệu
- Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ của đề tài, tôi đã tiến hành thu thập,
phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như trong các sách báo, tạp chí,
các luận văn, các công trình đề tài nghiên cứu khoa học, các phần mềm
nghiên cứu ứng dụng vào học tập có liên quan.
- Để việc thiết kế bài giảng đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục, tôi
chú ý đến việc nghiên cứu tài liệu chuẩn cho việc thiết kế bài giảng là SGK
Địa lí 10 THPT hiện hành thuộc ban cơ bản, các tài liệu về tâm lí học đại
cương, tâm lí học sư phạm, tâm lí học lứa tuổi để đảm bảo cho việc thiết kế
bài giảng đạt hiệu quả cao nhất.
6.2. Phƣơng pháp phân tích hệ thống
Đây là cơ sở để nghiên cứu nội dung, chương trình, các bài học trong
SGK Địa lí 10 THPT. Để đảm bảo tính khoa học, các đối tượng nghiên cứu
phải được xem xét và phân tích trong một hệ thống hoàn chỉnh.

6.3. Phƣơng pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lí kiểm tra đánh
giá kết quả đạt được qua tìm hiểu thực tế, qua thực nghiệm các bản thiết kế
bài giảng Địa lí có sử dụng CNTT đối với lớp 10 THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6.4. Phƣơng pháp điều tra quan sát, tổng kết kinh nghiệm
- Việc áp dụng các phương pháp phương tiện dạy học cho phù hợp với
khả năng của học sinh là một quá trình thử nghiệm lâu dài, đòi hỏi người giáo
viên phải có nhiều kinh nghiệm. Để đạt hiệu quả trong việc ứng dụng CNTT
vào giảng dạy ở trường phổ thông cần phải tìm hiểu kĩ về thái độ tiếp nhận
của giáo viên và học sinh, tìm hiểu thực tế việc dạy học Địa lí và thiết kế bài
giảng Địa lí 10 THPT nói chung, phần Địa lí tự nhiên trong sách giáo khoa
Địa lí 10 THPT nói riêng, đặc biệt là những chương trình có sử dụng CNTT
trong dạy học.
- Tiến hành dự giờ một số giờ ở các trường THPT có sử dụng CNTT để
từ đó rút ra kinh nghiệm và bổ xung những vấn đề có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
6.5. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
- Tiến hành thiết kế một số bài giảng có sử dụng CNTT và bước đầu tiến
hành thực nghiệm bài giảng có ứng dụng CNTT để dạy một số tiết trong
chương trình Địa lí 10 THPT phần Địa lí tự nhiên.
- Sử dụng các phiếu thăm dò ý kiến giáo viên và các phiếu kiểm tra kết
quả học tập của học sinh để đánh giá những kết quả thu được và tính khả thi
của đề tài.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hóa và tiếp thu những cơ sở lí luận cơ
bản của việc thiết kế bài giảng nói chung và thiết kế bài giảng có sử dụng
CNTT nói riêng.
Nghiên cứu thực trạng việc thiết kế bài giảng Địa lí hiện nay nhất là việc
thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lí ở một số nhà

trường phổ thông trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng các
tiến bộ khoa học kĩ thuật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Nêu được sơ sở, nguyên tắc, quy trình thiết kế bài giảng Địa lí có ứng
dụng CNTT đối với phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT.
Xây dựng một số bài giảng có ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học Địa lí 10 THPT nói chung và phần Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT nói riêng.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh
mục các sơ đồ, bảng biểu, phiếu điều tra, luận văn bao gồm các phần sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT trong
thiết kế bài giảng
Chương 2: Sử dụng CNTT và các phần mềm tin học có nội dung Địa lí
để thiết kế bài giảng Địa lí tự nhiên trong sách giáo khoa Địa lí 10 THPT.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNTT
TRONG THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN 10 THPT
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài.
1.1.1. Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của lứa tuổi học sinh THPT.
1.1.1.1. Đặc điểm học tập.
Do nội dung học tập của chương trình THPT có nhiều thay đổi so với
THCS vì thế đặc điểm học tập của các em cũng khác nhiều. Ở lứa tuổi này
các em đã có những động cơ, thái độ học tập rõ ràng, có xu hướng học tập gắn
liền với nghề nghiệp bởi các em đã có trưởng thành về mức độ nào đó về
nhận thức, tư tưởng cũng như tâm lí nhằm giúp các em định hướng việc chọn
lựa nghề nghệp và có quan điểm đúng đắn trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Đối với học sinh lớp 10 tuy vừa mới bước vào một giai đoạn mới của
quá trình học tập nhưng các em cũng đã có mục đích học tập cho bản thân cụ
thể hơn. Mức độ nhận thức, tư duy và tâm lí tuy chưa thật vững vàng song
đây là thời điểm thích hợp để giáo viên có thể giúp các em có được định
hướng đúng đắn trong việc học tập, hướng nghiệp và trong cuộc sống.
Đối với bộ môn Địa lí 10 THPT, nội dung hết sức phong phú về các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội cũng tạo ra sự hấp dẫn trong các giờ học.
Nhất là hiện nay việc tăng thêm 50% dung lượng kiến thức về khoa học tự
nhiên đầy lí thú vào nội dung SGK đã có những tác động ít nhiều tới động cơ
học tập của học sinh cũng như việc lựa chọn nghề nghiệp. Đồng thời nâng cao
sự ham mê tìm tòi và nghiên cứu về những gì các em được học.
Nếu việc thiết kế bài giảng Địa lí lớp 10 THPT được sử dụng CNTT,
nhất là đối với phần Địa lí tự nhiên vốn có rất nhiều các hiện tượng cần được
quan sát, được thể hiện, mô phỏng lại thì rõ ràng sẽ thu hút nhiều hơn sự quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tâm của các em học sinh đối với môn Địa lí, từ đó nâng cao hiệu quả của việc
dạy và học.
1.1.1.2. Đặc điểm trí tuệ của học sinh THPT
Vì các em đang ở độ tuổi chuẩn bị trở thành người lớn do đó tính tích
cực, năng động, sáng tạo được thể hiện rõ nét trong hoạt động của bản thân. Ở
lứa tuổi này, hoạt động học tập đã trở thành trách nhiệm rõ rệt, các em nhận
thức rõ ràng vai trò, nhiệm vụ của việc học tập. Tất cả mọi năng lực tư duy và
nhận thức gắn liền với mục đích mà các em đã đặt ra.
Đặc điểm nổi bật về sự phát triển trí tuệ của học sinh là tính chủ động,
tích cực, tính tự giác được thể hiện rõ nét ở tất cả các quá trình nhận thức.
Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và các khả năng khác ở lứa tuổi này
được hoàn thiện nhanh chóng và có chất lượng cao.
Ở tuổi này ghi nhớ có chủ định trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò
của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng lên rõ rệt. Đặc
biệt các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ, các em phân biệt

được tài liệu nào nên ghi nhớ từng câu chữ, tài liệu nào chỉ cần đọc hiểu mà
không cần nghi nhớ. Tuy nhiên vẫn có những em ghi nhớ đại khái, mang tính
chất chung chung, còn đánh giá thấp việc ôn tập tài liệu dẫn đến kết quả ghi
nhớ chưa cao.
Qua khảo sát thực tế ở một số trường phổ thông cho thấy khả năng nhận
thức của học sinh ở từng trường, từng khu vực khác nhau có trình độ nhận
thức khác nhau. Học sinh ở các trường thành phố, thị xã nhìn chung có trình
độ nhận thức cao hơn học sinh ở những trường miền núi và vùng nông thôn.
Điều này cũng dễ hiểu vì ở khu vực thành phố, thị xã các điều kiện phục vụ
cho việc dạy và học tốt hơn, cơ sở vật chất được trang bị tốt và đầy đủ hơn.
Còn đối với học sinh vùng miền núi và nông thôn thời gian dành cho việc học
tập ít hơn, cuộc sống vật chất nhìn chung khó khăn hơn. Bên cạnh đó còn do
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tâm lí dè dặt trong giao tiếp, ngại nêu ý kiến bản thân… cũng là những
nguyên nhân làm hạn chế khả năng nhận thức của học sinh ở đây.
Chính vì vậy, việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là một
nhiệm vụ quan trọng của giáo viên, vấn đề đặt ra ở đây là để nâng cao chất
lượng học tập của học sinh thì điều kiện tiên quyết là cần phải đổi mới
phương pháp dạy học nói chung và việc thiết kế bài giảng nói riêng, nó sẽ là
đòn bẩy thúc đẩy quá trình dạy học.
1.1.1.3. Đặc điểm nhân cách của học sinh lứa tuổi THPT.
Học sinh THPT là lứa tuổi đang trong độ tuổi nhạy cảm nhất, các em
chưa trưởng thành nhưng cũng không còn nhỏ. Do hoàn cảnh thực tế của lứa
tuổi đã thức đẩy thế giới quan của thanh niên học sinh hoàn thành nhanh
chóng và ngày càng có chất lượng cao, thế giới quan đóng vai trò thống trị ở
giai đoạn này là thế giới quan duy vật biện chứng. Sự phát triển của sự tự ý
thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của nhân cách học sinh lứa
tuổi THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của lứa tuổi thanh niên.
Quá trình này diễn ra một cách phong phú, phức tạp, thể hiện đa dạng ở các
mức độ từ thấp đến mức độ cao.

Việc hình thành sự tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu
dài, trải qua nhiều mức độ khác nhau. Ở lứa tuổi này quá trình tự ý thức diễn
ra mạnh mẽ, sôi nổi, có các đặc thù riêng. Các em có nhu cầu tìm hiểu và
đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm riêng về mục đích
cuộc sống và hoài bão của mình. Chính điều này khiến các em quan tâm hơn
đến đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng. Nội dung của sự
tự ý thức cũng diễn ra phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái tôi của
mình trong hiện tại như tuổi thiếu niên mà còn nhận thức về vị trí của mình
trong xã hội, trong tương lai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Thanh niên không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá
một cách sâu sắc, tốt hơn lứa tuổi thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh,
mặt yếu của những người sống xung quanh mình, của chính bản thân mình.
Mặt khác đây là lứa tuổi quyết định sự hình thành của thế giới quan, hệ thống
quan điểm về xã hội, tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc giao tiếp, ứng xử.
Do đó việc khai thác các phần mềm và ứng dụng CNTT để dạy học Địa lí sẽ
cung cấp và giúp các em chiếm lĩnh một cách độc lập một khối lượng kiến
thức phong phú, trực quan, kích thích sự phát triển hứng thú nhận thức và xây
dựng thế giới quan tích cực về tự nhiên và xã hội.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản trong lí luận dạy học địa lí
1.1.2.1. Phƣơng pháp dạy học và phƣơng pháp dạy học Địa lí
* Khái niệm về phương pháp dạy học
Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất và rộng nhất là hành vi có mục
đích nhất định. Đó cũng là những cách thức, con đường mà người ta cần đi
theo để đạt được mục đích. Theo cách hiểu như vậy thì phương pháp dạy học
là những cách thức tương tác giữa giáo viên với học sinh có liên quan đến các
hoạt động dạy và học nhằm mục đích trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ. Trong
mấy chục năm gần đây, nhiều cuộc tranh luận sôi nổi đã nổ ra xung quanh các
vấn đề: dạy học là một hoạt động duy nhất hay hai hoạt động riêng rẽ, hay kết
hợp chặt chẽ với nhau? Nếu là hai hoạt động thì hoạt động nào có tính chất

quyết định, hoạt động học quyết định hoạt động dạy hay hoạt động dạy quyết
định hoạt động học? Nói khác đi, đây là vấn đề phương pháp dạy của giáo
viên quyết định phương pháp học của học sinh hay phương pháp học của học
sinh quyết định phương pháp dạy của giáo viên. Những quan niệm khác nhau
này đã được phản ánh khá rõ vào trong các định nghĩa về phương pháp dạy
học. Hiện nay chúng ta thường gặp ba cách định nghĩa như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của người giáo viên để
truyền thụ kiến thức, rèn luyện kĩ năng và giáo dục học sinh theo mục tiêu của
nhà trường
- Phương pháp dạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làm
việc của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, nhằm đạt tới những
mục đích giáo dục.
- Phương pháp dạy học là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên
nhằm tổ chức các hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh
dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới
quan và phát triển năng lực nhận thức.
Định nghĩa thứ nhất phản ánh một quan niệm cũ về vai trò của người
giáo viên trong quá trình dạy học. Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân
vật trung tâm, giữ vai trò chỉ đạo, hoạt động tích cực, còn học sinh thì thụ
động học những điều thầy dạy. Quan niệm đó cũng dẫn đến chỗ coi các
phương pháp dạy học đều là các phương pháp của thầy.
Định nghĩa thứ hai dung hòa hơn, coi phương pháp dạy học là một sự
kết hợp, ngang hàng của hai hoạt động dạy và học. Nhiệm vụ truyền đạt tri
thức của thầy cũng quan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của trò.
Định nghĩa thứ ba thể hiện quan niệm mới, gần đây nhất từ sau khi xuất
hiện lí thuyết về sự lĩnh hội tri thức. Theo quan niệm này thì dạy học chính là
quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức. Vai trò của học sinh trong quá
trình dạy học là chủ động. Nói cách khác đi thì các phương pháp học tập, xuất
phát từ các quy luật của sự lĩnh hội tri thức quyết định hoạt động của giáo

viên, phương pháp dạy của giáo viên.
* Một số phương pháp dạy học Địa lí cụ thể
Trong dạy học Địa lí người ta chia phương pháp dạy học thành ba nhóm
cụ thể như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Nhóm phương pháp truyền thống lấy thầy làm trung tâm.
Trong quá trình dạy học đặc biệt là ở những tiết học nắm tri thức mới,
giáo viên thường dùng nhiều phương pháp khác nhau nhưng cho đến nay thì
phương pháp dùng lời truyền thống vẫn được sử dụng rộng rãi.
Phương pháp này có những ưu điểm nhất định. Trước hết nó có khả năng
cung cấp một lượng lớn thông tin trong một thời gian ngắn. Nếu lời lẽ trình
bày của giáo viên trong sáng, truyền cảm, có nội dung khoa học chính xác, có
logic chặt chẽ thì bài giảng sẽ có sức hấp dẫn rất lớn đối với học sinh, làm cho
học sinh tiếp thu bài học một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Tuy nhiên nó có
những nhược điểm như kém tác dụng trong việc phát huy trí lực của học sinh,
hạn chế năng lực chủ động sáng tạo của học sinh trong việc lĩnh hội tri thức.
Trong nhóm phương pháp này gồm phương pháp diễn giải, giảng thuật,
giảng giải đàm thoại.
- Nhóm các phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan truyền thống
trong việc dạy học Địa lí.
Trong nhóm phương pháp dạy học truyền thống, lấy thầy làm trung tâm,
ngoài các phương pháp như đã nêu trên, còn có nhóm phương pháp trực quan
hay nói một cách chính xác hơn là nhóm phương pháp sử dụng các phương
tiện trực quan. Đây là nhóm phương pháp có ý nghĩa quan trọng giúp cho học
sinh nắm được những khái niệm, hình thành nên những biểu tượng. Điều này
rất quan trọng đối với môn Địa lí khi mà học sinh chỉ có thể quan sát được
một phần nhỏ các đối tượng xung quanh, còn phần lớn các đối tượng khác thì
không có điều kiện quan sát trực tiếp. Đối với các hiện tượng như núi lửa,
băng hà, động đất hay những cảnh quan không có ở nước ta như hoang mạc,
thảo nguyên ôn đới… thì học sinh chỉ có thể hình dung ra được nhờ vào các

phương tiện trực quan.
Những phương tiện trực quan thường được dùng trong việc dạy học Địa lí là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Các tranh ảnh giáo khoa về Địa lí, các tranh ảnh minh họa trong SGK
+ Các mô hình, mẫu vật, các bộ sưu tập phục vụ cho các chủ đề Địa lí.
+ Các phim ảnh, phim đèn chiếu, băng video…
+ Các loại bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, các hình vẽ của giáo viên trên bảng…
- Nhóm các phương pháp lấy học sinh làm trung tâm.
Nhóm này bao gồm nhiều phương pháp trong đó học sinh thể hiện rõ
vai trò chủ thể trong việc lĩnh hội tri thức, tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập
của mình bằng cách phát huy năng lực của bản thân dưới sự chỉ đạo của giáo
viên. Với các phương tiện này học sinh phải tự lực tới mức tối đa để khai thác
tri thức qua sự hướng dẫn của giáo viên, qua các bài viết trong SGK, qua các
nguồn tri thức khác như các biểu đồ, bảng số liệu, các tranh ảnh địa lí…
Trong quá trình khai thác tri thức, học sinh không những có điều kiện thuận
lợi để vận dụng các thao tác tư duy một cách tích cực mà còn có điều kiện vận
dụng củng cố các tri thức đã được học một cách sáng tạo vào trong những
trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên để làm được điều đó, học sinh trước hết phải biết cách làm
việc với các nguồn tri thức, hay nói khác đi là phải nắm được một số kỹ năng
cơ bản trong việc khai thác chúng, có thế các em mới tìm ra được tri thức ẩn
chứa bên trong các phương tiện đó và rút ra được những khẳng định mới.
Trong nhóm phương pháp này có một số các phương pháp sau:
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức Địa lí từ bản đồ.
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức Địa lí từ các nguồn
số liệu thống kê kinh tế và biểu đồ.
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức Địa lí qua băng hình.
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh quan sát.
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh thảo luận.
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh sử dụng SGK Địa lí.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh sử dụng các phương tiện hiện đại.
Theo hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay thì tất cả các nhóm
phương pháp trên đều được cải tiến theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động trong hoạt động nhận thức của học sinh.
1.1.2.2. Phƣơng tiện thiết bị dạy học Địa lí trong nhà trƣờng phổ thông
* Khái niệm về phương tiện dạy học
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phương tiện dạy học nói chung và
phương tiện dạy học Địa lí nói riêng.
Các tài liệu về lí luận dạy học đã trình bày phương tiện dạy học đồng
nghĩa với phương tiện trực quan, đó là các vật thật, vật tượng trưng và các vật
tạo hình được sử dụng để dạy học.
- Các vật thật như động vật, thực vật sống trong môi trường tự nhiên, các loại
khoáng vật…giúp cho học sinh tiếp thu tri thức gây hứng thú tìm tòi, học tập.
- Các vật tượng trưng: Giúp cho học sinh thấy được một cách trực quan
các sự vật hiện tượng được biểu diễn dưới dạng khái quát, hoặc đơn giản gồm
các loại sơ đồ, lược đồ, bản đồ giáo khoa.
- Các vật tạo hình kể cả phương tiện hiện đại như tranh ảnh, mô hình,
hình vẽ, băng video, phim đèn chiếu thay cho các sự vật hiện tượng khó trông
thấy trực tiếp (biển, đại dương ) và các sự vật hiện tượng không thể trông
thấy (cấu tạo của Trái Đất).
Song cũng có tác giả coi phương tiện dạy học là những đồ dùng trực
quan được khái quát bằng những mô hình vật chất được dựng lên một cách
nhân tạo, tương tự như đối với vật gốc về một số mặt nhất định nào đó. Nó
giúp ta nghiên cứu đối tượng gốc khi không có điều kiện tri giác trực tiếp đối
tượng này. Nói cách khác, mô hình là vật đại diện hay thay thế cho vật gốc,
nó có những tính chất tương tự vật gốc, nhờ đó mà khi nghiên cứu mô hình
người ta sẽ nhận được những thông tin về tính chất hay quy luật của vật gốc.

×