Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

cá nhân luật hành chính 2 phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (128.24 KB, 5 trang )

A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tiễn, ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó xác
định. Vì vậy, nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề phân biệt vi phạm hành chính với
tội phạm thì sẽ rất dễ để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm hay xử lí oan cho người vi
phạm chưa đến mức bị xử lý hình sự.
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm chung:
Trước khi đưa ra những dấu hiệu để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm hình
sự, ta cần hiểu rõ khái niệm vi phạm hành chính cũng như khái niệm tội phạm.
1. Khái niệm vi phạm hành chính:
Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm hành
chính được định nghĩa một cách gián tiếp: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng
đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý
hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải là tội
phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Trên cơ sở đó, có thể
đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi do cá
nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về
quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt
hành chính.
2. Khái niệm tội phạm:
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy
định khái niệm về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ
quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Từ định nghĩa đầy đủ trên, có thể định nghĩa tội phạm một cách khái quát như sau: Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình
phạt.


II. Các dấu hiệu phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm hình sự:
1. Dấu hiệu thứ nhất: Căn cứ vào cơ sở pháp lý
Tội phạm là loại vi phạm được quy định trong BLHS và chỉ có Quốc hội mới có quyền
đặt ra các quy định về tội phạm và hình phạt.
Vi phạm hành chính không được quy định cụ thể trong bộ luật cụ thể nào mà được quy
định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
như luật, pháp lệnh hoặc nghị định ví dụ như Nghị định 175/ 2004 NĐ-CP về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm
2002…
2. Dấu hiệu thứ hai: Căn cứ vào các dấu hiệu cấu thành
a. Về chủ thể :
Căn cứ vào dấu hiệu chủ thể, ta cũng có thể phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm
như sau:
1
Theo quy định của BLHS Việt Nam chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân (Điều 2
BLHS: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ Luật hình sự quy định mới phải chịu
trách nhiệm hình sự”). Cụ thể hơn, chủ thể của tội phạm phải có năng lực trách nhiệm
hình sự và đạt đổ tuổi quy định. Độ tuổi đó là phải từ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi đối với
tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng hay từ đủ 16 tuổi trở lên đối với
mọi tội phạm.
Theo khoản 1, Điều 6 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính, chủ thể của vi phạm hành
chính có thể là cá nhân, trong đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành
chính về vi phạm hành chính do cố ý, người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về
mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Ngoài ra, chủ thể của vi phạm hành chính không
chỉ là cá nhân như tội phạm mà còn có thể là tổ chức, có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức có tư cách pháp nhân khác theo quy
định của pháp luật. Như vậy, phạm vi chủ thể của vi phạm hành chính rộng hơn.
b. Về mặt khách quan:
 Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm:
Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm là dấu hiệu căn bản để phân biệt vi

phạm hành chính với tội phạm hình sự. Về tổng quát, vi phạm hành chính có mức độ
nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm hình sự. Mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố này thường
được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chế tài
của Luật hành chính chủ yếu là phạt tiền không có hình phạt tù, còn chế tài của luật hình
sự chủ yếu là phạt tù có thời hạn. Cụ thể như quy định về môi trường: Khoản 1, Điều 182
Bộ Luật hình sự quy định: “Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây
ô nhiễm môi trường…thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng,
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Còn ở Luật
hành chính, tại khoản 1, Điều 10 Nghị định 81/2006/NĐ-CP: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt
tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quá tiêu chuẩn
cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50m
3
/ngày (24
giờ) ”.
Trong BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, các nhà làm luật đã quy định
tương đối cụ thể những dấu hiệu xác định các loại tội phạm cụ thể và những dấu hiệu này
có thể giúp chúng ta xác định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính. Căn cứ vào
các quy định hiện hành, việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm
thường dựa vào những căn cứ sau đây:


Mức độ gây thiệt hại cho xã hội:
Đối với nhiều loại tội phạm, nhà làm luật thường mô tả một cách cụ thể mức độ gây
thiệt hại cho xã hội của tội phạm trong BLHS. Dựa vào dấu hiệu này, ta có thể phân biệt
ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự. Mức độ gây thiệt hại có thể biểu
hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mức độ gây thương tật, giá trị tài sản bị xâm
hại, giá trị hàng hóa phạm pháp
Với biểu hiện mức độ gây thương tật, ta có thể lấy ví dụ như sau: A và B cùng là sinh
viên trường Đại học Luật Hà Nội, do mâu thuẫn nên A đã đánh B. Trong trường hợp này

nếu tỉ lệ thương tật A gây cho B từ 11% trở lên thì A sẽ bị xử lý theo Bộ Luật hình sự, quy
định tại Khoản 1 Điều 104 BLHS. Nếu tỉ lệ thương tật của B dưới 11%, chưa đến mức
2
truy cứu trách nhiệm hình sự thì A sẽ bị xử lý theo Luật hành chính. Như vậy, trong
trường hợp mức độ gây thương tích cho nạn nhân dưới mức 11% và không thuộc một
trong các hành vi tăng nặng định khung quy định tại khoản 1 Điều 104 BLHS nêu trên,
thì người vi phạm bị xử phạt hành chính (phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng)
về hành vi “đánh nhau” theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 7 Nghị định của Chính phủ
số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010.
 Mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần:
Với hành vi trộm cắp, ở Luật hành chính quy định phạt từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng
đối với hành vi trộm cắp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (giá trị tài sản dưới
2 triệu đồng). Trong Bộ Luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người
khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng
nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị
phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.Như vậy,
cùng là trộm cắp nhưng dựa vào giá trị của tài sản để quyết định hình phạt. Luật hình sự
còn quy định số lần vi phạm và bị xử phạt hành chính, lúc này thì quy định hình phạt
không phụ thuộc vào giá trị tài sản nữa.

Công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm:
Công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm cũng là một căn cứ để đánh
giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm.
Ví dụ: 8 giờ tối ngày 20 tháng 3 năm 2012, C đang uống trà đá tại công viên cùng bạn
bỗng nhiên có một đám thanh niên đi tới gây sự có mang theo gậy và côn. Sau đó hai bên
xô sát rồi đánh nhau gây mất trật tự nơi công cộng. Nếu hậu quả không đáng kể thì theo
Luật hành chính bị phạt từ 1 triệu đồng tới 2 triệu đồng. Còn nếu hậu quả nghiêm trọng
(C bị thương tật từ 11% trở lên) và đám thanh niên đó tới gây sự với A là có âm mưu, có
tổ chức hoặc thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy

năm. Ở Luật hình sự mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn nên hình phạt cũng nghiêm
khắc hơn và các tình tiết đòi hỏi đầy đủ, thể hiện đúng sự nguy hiểm của hành vi buộc
người phạm tội chịu chế tài đúng với mức độ họ gây thiệt hại cho xã hội.
c. Về mặt chủ quan :
Trong BLHS, các nhà làm luật quy định 4 hình thức lỗi được quy định cụ thể tại điều
9,10 BLHS bao gồm: lỗi cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp; lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu
thả. Vi phạm hành chính chỉ quy định 2 hình thức lỗi là lỗi cố ý và vô ý. Các trường hợp
vi phạm mà lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp hoặc vô ý vì quá tự tin hay do cẩu thả đều xử
lý như nhau.
d. Hậu quả pháp lý:
Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật nặng nhất và phải chịu hình phạt. Còn vi phạm
hành chính có mức độ nhẹ hơn, cũng phải chịu cưỡng chế của nhà nước nhưng ở mức độ
ít nghiêm khắc hơn. Người vi phạm hành chính có thể bị xử phạt hành chính.
C. KẾT LUẬN
Ngoài những đặc điểm chung là vi phạm pháp luật cả tội phạm và vi phạm hành
chính đều có những dấu hiệu riêng biệt. Vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó
phân biệt bởi ranh giới giữa chúng khá gần nhau và dễ gây nhầm lẫn trong xét xử. Tuy
3
nhiên, việc phân tách cụ thể, riêng rẽ hai phạm trù này là cần thiết và có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc xử lý vi phạm.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
1. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb CAND, Hà
Nội – 2008.
2. Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình luật hành chính và tài phán hành chính, Nxb
Giáo dục, Hà Nội – 2005;
3. Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 ;
4. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008);
5. Nghị định của Chính phủ số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 về quy định xử phạt
hành chính trong lĩnh vực an ninh và an toàn trật tự xã hội.

5

×