Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển yên bái - ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (360.82 KB, 65 trang )

TRƯờNG ĐạI HọC LƯƠNG THỊ VINH
KHOA KINH Tế
o0o
KHóA LUậN TốT NGHIệP
Đề tài:
giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư & phát triển yên bái - ngân hàng
đầu tư và phát triển việt nam
Giảng viên hướng dẫn : cao cù bốn
Sinh viên thực hiện : bùi thị thu trang
Lớp : tcnh - 1c - k5
nam định - 2012
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
MỤC LỤC
Đề tài: 1
nam định - 2012 1
MỤC LỤC 1
B.Đánh giá các mặt hoạt động 31
2.1.Tổng tài sản: 31
Tổng tài sản đạt 22.654 tỷ đồng, tăng 2198 tỷ đồng (tương đương tăng
10,7 % ) so với 2009. Các cơ cấu về Tài sản Nợ - Có đã được cải thiện tích
cực 31
2.2 Công tác huy động vốn: 31
a. Về quy mô, tăng trưởng: 31
3.3.3. Đối với Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam 60
Tín dụng: 61
Đề nghị các ban đầu mối phụ trách công tác Quản lý rủi ro tại H.O chủ động
hơn trong việc cảnh báo, hỗ trợ và phối hợp với chi nhánh để xử lý, phòng
ngừa rủi ro 61
Việc tuân thủ đầy đủ, đúng trình tự cấp tín dụng theo quy trình TA2 đã kéo
dài thời gian giao dịch với khách hàng. Đề nghị H.O nghiên cứu cải tiến mẫu


biểu, tác nghiệp khoa học, gọn mà vẫn đảm bảo an toàn hiệu quả 61
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
1
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮ
CHỮ VIẾT TẮT NGUYÊN VĂN
NHTM
CN NH ĐT&PT YB
NHĐT&PT
NHTW
BIDV
NHNN
XNK
DPRR
Ngân hàng thương mại
Chi nhánh ngân hàng đt và pt Yên Bái
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Ngân hàng trung ương
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước
Xuất nhập khẩu
Dự phòng rủi ro
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
DANH MỤC BẢNG BIỂ
Mục lục Tên bảng Trang
2.1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh 31
2.2.1 Tình hình cho vay các doanh nghiệp 37
2.2.2 Tình hình thu nợ 38

2.2.3 Tỷ lệ nợ, nợ xấu, thu nhập lợi nhuận 38
2.3 Tình hình tăng giảm nguồn vốn 40
2.3 Cơ cấu tín dụng 41
3.1.2 Một số chỉ tiêu kinh doanh 46
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
3
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
LỜI MỞ ĐẦ
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nền kinh tế
ViệtNam cũng đã phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của hệ thống
ngân hàng. Trên thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng thì hệ thống
ngân hàng luôn là trung tâm thần kinh, là hệ thống tuần hoàn của toàn bộ nền
kinh tế. Nó có ảnh hưởng rất lớn đếns ự phồn vinh của quốc gia đ
Thế kỉ XXI là thế kỉ của sự mở cửa và hội nhập, đất nước chúng ta đang ngày
một đổi mới cùng với sự phát triển chung của thế giới. Trong quá trình mở cửa
chúng ta mở rộng mối quan hệ với rất nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt vào
tháng 7/2006 nước ta đã ra nhập WTO. Đây là một cơ hội vô cùng thuận lợi cho
các NHTM có điều kiện phát triển chính mình. Trong những năm qua, hoạt động
của hệ thống NHTM Việt Nam trong đó hoạt động tín dụng đã có những đóng
góp rất tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế, kiềm chế lạm phát, huy động
đựơc nguồn vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư và tổ chức kinh tế xã hội vào
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong hoạt động của các NHTM thì hoạt động tín dụng là một trong
những nghiệp vụ quan trọng đem lại tới 80% lợi nhuận kinh doanh cho các
NHTM. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được thì hoạt động tín dụng
của NHTM cũng đã bộc lộ những yếu điểm của nó. Nền kinh tế nước ta, một
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang trong thời kì phát triển, đang đói
vốn và rất cần vốn đầu tư của tín dụng ngân hàng, thì các NHTM lại thừa vốn,
ứ đọng vốn, bên cạnh đó cơ cấu và cơ chế cho vay của nhiều NHTM còn chưa
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5

4
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
phù hợp, chất lượng tín dụng cũng chưa cao thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn đang
có xu hướng gia tăng một cách nhanh chóng.
Là một đơn vị thành viên lớn nhất trực thuộc hệ thống Ngân Hàng Đầu
Tư & Phát Triển Việt Nam, Chi nhánh ngân hàng đt và pt Yên Bái là đơn vị
anh hùng, có bề dày lịch sử trong ngành, là một chi nhánh làm ăn có hiệu quả,
với đội ngũ cán bộ nhân viên được đào tạo ở trình độ cao và hệ thống trang thiết
bị và công nghệ hiện đại. Chi nhánh ngân hàng đt và pt Yên Bái được huy động
và cho vay vốn dài hạn, trung hạn và ngắn hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
từ mọi nguồn vốn trong nước dưới nhiều hình thức, trong đó tín dụng trung và
dài hạn chiếm đa số trong hoạt động tín dụng, trong những năm gần đây tín dụng
ngắn hạn cũng đã tăng lên đáng kể so với tín dụng trung và dài hạn, nhưng hoạt
động của tín dụng ngắn hạn vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả.
Là người trực tiếp thực tập tại Chi nhánh ngân hàng đt và pt Yên Bái -
NHĐT & PT, em thấy được sự cần thiết phải có những biện pháp thiết thực và
cụ thể cho công tác này. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng
cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Chi nhánh ngân
hàng đt và pt Yên Bái - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam” để làm chuyên đề tốt nghiệp.
Chuyên đề gồm 3 phần:
Chương I: Tổng quan về tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Chi nhánh ngân
hàng đt và pt yên bái - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại
Chi nhánh ngân hàng đt và pt Yên Bái - Ngân hàng đầu tư và phát triển
Việt Nam.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song cũng không thể tránh khỏi những
khiếm khuyết trong chuyên đề của mình. Do vậy em rất mong được sự đóng
góp ý kiến của thầy cô. Và qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới GS.TS. CAO

SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
5
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
CỰ BỐN, và cán bộ phòng quan hệ khách hàng thuộc Chi nhánh ngân hàng đt
và pt Yên Bái, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, đã giúp đỡ chỉ bảo
tận tình để em hoàn thành bài chuyên đề một cách tốt nhất.
Nam Định, tháng 5/2012
SV: Bùi Thị Thu Trang
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tín dụng ngân hàng.
1.1.1.1.Khái niệm:
Thuật ngữ tín dụng ngân hàng xuất phát từ chữ la tinh “credium” có
nghĩa là lòng tin, sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Lòng tin ở đây không chỉ là
người đi vay mà cả người cho vay. Do đó, hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là
sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức
tiền tệ hay hiện vật trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người
sử dụng và khi đến hạn thì người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu
với một lượng giá trị lớn hơn mà khoản dôi ra gọi là khoản lợi tức tín dụng.
Còn hiểu theo nghĩa rộng thì tín dụng gồm hai mặt: Huy động vốn và cho vay.
Từ đó, ta có thể khái niệm về tín dụng như sau: Tín dụng là quan hệ
vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Do đó, ta có khái niệm về tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là
quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các doanh
nghiệp, các tầng lớp dân cư được thực hiện dưới hình thức vốn tín dụng bằng
tiền bao gồm tiền mặt và bút tệ.
1.1.1.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng:

SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
6
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Huy động vốn và cho vay đều được thực hiện dưới hình thức tiền tệ.
Thông qua cơ chế, chính sách thích hợp, ngân hàng huy động những khoản
nhàn rỗi để hình thành nguồn vốn cho vay nhằm bổ sung cho quá trình sản
xuất kinh doanh và đầu tư phát triển của các chủ thể trong nền kinh tế.
Các ngân hàng đóng vai trị là tổ chức trung gian trong quá trình huy
động vốn và cho vay.
Hoạt động của các ngân hàng bao gồm hai nghiệp vụ tương đối độc lập
là: Huy động vốn và cho vay, khi ngân hàng nhận tiền gửi của dân cư, doanh
nghiệp, chính phủ, thì ngân hàng là người cho vay.
Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng phù hợp với
sự vận động và phát triển của tái sản xuất xã hội.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào thì vốn cũng là yếu tố không thể thiếu
được trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh
doanh càng mở rộng thì nhu cầu cần vốn lại càng cao trong đó vốn tín dụng sẽ
cũng tăng theo. Với trường hợp này thì tín dụng ngân hàng vận động phù hợp
với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
1.1.2. Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn và vai trò của tín dụng ngắn hạn
1.1.2.1. Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn:
Tín dụng ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
1.1.2.1.1. Nghiệp vụ chiết khấu.
Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách hàng chuyển quyền sở
hữu những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng thương mại để
nhận lấy một khoản tiền bằng mệnh giá - lợi tức phí và hoa hồng phí nếu có.
Ưu điểm của nghiệp vụ chiết khấu: Đơn giản vì nó chỉ dựa trên sự tín
nhiệm giữa ngân hàng và những người kí tên trên thương phiếu. Để thuận tiện

cho khách hàng, ngân hàng thường kí với khách hàng hợp đồng chiết khấu
(cấp cho khách hàng hạn mức chiết khấu trong kì). Khi cần chiết khấu khách
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
7
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
hàng chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ
kiểm tra chất lượng thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Do tối thiểu có hai
người cam kết trả tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của thương phiếu tương
đối cao (Trừ trường hợp ngân hàng miễn truy đòi đối với khách hàng). Hơn
nữa ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại ngân hàng nhà
nước để đáp ứng nhu cầu thanh toán với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu còn
được coi là loại tài sản có khả năng chuyển nhượng - có tính thanh khoản cao).
1.1.2.1.2. Tín dụng ngân quỹ:
- Tín dụng ứng trước: Là nghiệp vụ tín dụng được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng tín dụng trong đó khách hàng được sử dụng một khoản mức cho vay
trong một thời hạn nhất định.
- Tín dụng thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng
cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của
mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn
này được coi là hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức
thấu chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng).
Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi, mua
thẻ séc Vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi).
Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và
lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Lãi suất thấu chi* thời gian thấu chi*số tiền thấu chi.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn linh hoạt, thủ tục đơn giản
phần lớn không có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài
ngày trong tháng, vài tháng trong năm dựng để trả lương, chi các khoản phải

nộp, mua hàng Hình thức này phần lớn chỉ sử dụng đối với các khách
hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Tín dụng bằng chữ ký: Hình thức này ngân hàng không ứng trước tiền
ra mà chỉ đưa ra một cam kết thanh toán có điều kiện, tức là cam kết sẽ trả
một khoản nợ của khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả được.
Loại tín dụng này bao gồm các loại sau:
- Tín dụng chấp nhận.
- Tín dụng chứng từ.
- Tín dụng bảo lãnh.
- Tín dụng factoring: Là loại nghiệp vụ tín dụng mà theo đó một tổ
chức tín dụng mua đứt toàn bộ các trái quyền (các phiếu nợ, các hoá đơn thu
tiền) mà doanh nghiệp là người bán hàng nắm giữ. Thực chất ngân hàng chính
là người mua các chứng từ để thu nợ.
1.1.2.2. Nguyên tắc cho vay của tín dụng ngắn hạn ngân hàng:
Câu cách ngôn: “ Vì ngân hàng mượn nóng nên không thể cho vay lâu”
phải luôn được ghi nhớ khi chúng tôi cho khách hàng vay tiền của mình Vì
nguồn tiền gửi của chúng tôi phần lớn là loại tiền không kì hạn (ngắn hạn), nên
những khoản tiền ứng trước mà chúng tôi chu cấp để tài trợ cho thương mại và
công nghiệp cũng phải phòng xa theo khả năng, chỉ giới hạn trong việc cấp vốn
lưu động hoặc tài trợ bắc cầu ngắn hạn, có như vậy chúng tôi mới có thể đối phó
kịp thời với những đòi hỏi thanh toán lại cho những người gửi tiền.
Một lý do khác cho vay ngắn hạn chứa đựng rủi ro không thu hồi được
vốn là rất cao. Cũng như khoản tiền ứng trước có kỳ hạn càng dài thì khả
năng rủi ro càng cao, bởi những biến động về tài chính của người đi vay và
bởi những sự kiện xảy ra không lường trước được. Do vậy, một tỷ lệ đáng kể
những khoản tiền ứng trước của ngân hàng thường không kéo dài hơn quá
một năm, và nếu có thì nó phải được giám sát chặt chẽ và phải được tái xét

định kỳ trong hạn mức năm hay hàng năm.
Tín dụng là khoản sinh lời chủ yếu cho NHTM song tín dụng cũng
mang lại sự rủi ro lớn, chủ yếu của NHTM. Vì vậy, để hoạt động tín dụng
trong NHTM được bảo đảm, được an toàn và cho hiệu quả cao. Thì NHTM
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
9
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cho vay, cho vay phải có kế
hoạch, mục đích và hiệu quả kinh tế. Tiền vay phải đảm bảo trả đúng hạn, cả
gốc và lãi.
1.1.2.3. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là tài trợ cho khách hàng trên
cơ sở tín nhiệm (tín dụng). Hình thức tín dụng truyền thống củạ Ngân hàng
thương mại là cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng
mua hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu, sau đó mở rộng thành nhiều hình thức
khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằng các chứng khoán,
bằng các giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp.
- Đối với chính ngân hàng:
Vì cho vay ngắn hạn nên vốn quay vòng nhanh, nó thích ứng với kết cấu
nguồn vốn huy động, do đó tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của
NHTM.
- Đối với khách hàng:
Đây là hoạt động tài trợ vốn lưu động thường xuyên của khách hàng không đủ
trang trải các nhu cầu về loại vốn này thì khách hàng đó phải xin vay tín dụng.
- Đối với nền kinh tế:
Có ý nghĩa lớn đối với chủ thể kinh tế và nền kinh tế.
1.2. Chất lượng tín dụng ngắn hạn.
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn là vốn vay ngân hàng đáp ứng kịp
thời đầy đủ cho doanh nghiệp và được doanh nghiệp đưa vào quá trình sản

xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất nhằm tạo ra một lượng tiền lớn
hơn để trang trải đủ chi phí, có lợi nhuận và hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ
gốc và lãi.
Vậy, chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách
hàng (người gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã
hội và đảm bảo sự tồn tại của ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
10
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
thành và đảm bảo từ hai phía là ngân hàng và khách hàng, bởi vậy chất lượng
hoạt động của ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân ngân hàng mà
còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,
ngoài ra tổ chức tín dụng còn chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế xã hội.
Đối với tín dụng ngắn hạn, kì hạn chỉ dưới 12 tháng nên phải phù hợp với
mục đích sử dụng, đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển
của khách hàng. Ngoài ra chất lượng tín dụng ngắn hạn thể hiện ở phạm vi, mức
độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng thực lực của ngân hàng.
Như vậy, để một khoản vay có hiệu quả thì cần phải đặt ra những tiêu
chí để giám sát, lấy đó làm nền tảng đánh giá cho các khoản vay sau này. Mỗi
khoản vay có chất lượng dẫn tới tổng hồ các khoản cho vay có chất lượng và
từ đó hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ có chất lượng. Hiếm khi tất cả các
khoản cho vay ra có thể thu hồi cả gốc và lãi đúng thời hạn quy định, sẽ có
một tỷ lệ các khoản cho vay không tuân theo quy luật thông thường đó, nhưng
tỷ lệ là bao nhiêu để không ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHTM, tỷ
lệ đó không xác định rõ trong từng thời điểm cũng như không có một quy
định chuẩn nào để quy định tỷ lệ đó. Qua mỗi năm, ngân hàng tổng kết được
một tỷ lệ các khoản vay không thu hồi đúng hạn, từ đó làm căn cứ để so sánh
với số liệu của năm trước, so sánh với số liệu của toàn ngành. Nếu tỷ lệ các
khoản vay chưa thu hồi năm nay thấp hơn năm trước chứng tỏ hoạt động tín
dụng năm nay có nhiều biến chuyển mang tính tích cực. Mặt khác, tỷ lệ này

nếu được so sánh với số liệu của toàn ngành mà cao hơn cho thấy chất lượng
của các khoản cho vay của ngân hàng còn thấp hơn so với mặt bằng chung
của toàn ngành ngân hàng, ngân hàng dựa vào đó để làm cơ sở để phân tích,
đánh giá cho những chính sách tín dụng sau này của ngân hàng.
Ngoài ra, chất lượng tín dụng ngắn hạn còn thể hiện:
- Đối với NHTM: Chất lượng tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi
nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm
bảo đúng quy định và hợp lý. Nợ xấu giảm xuống
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
- Đối với khách hàng: Khách hàng là một trong những chủ thể quan
trọng tạo lên khoản vay đó có hay không có chất lượng.
- Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng phải tạo ra được các hiệu
quả xã hội, như phục vụ sản xuất kinh doanh tạo việc làm cho người lao động,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế, thu hút tối đa
vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vốn vay nước ngoài có lợi cho nền kinh tế.
Từ những lý do trên ta có thể rút ra: Chất lượng tín dụng ngắn hạn là
một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM và sự thay
đổi của môi trường bên ngoài. Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều
yếu tố như: thu hút được khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ
an toàn của vốn tín dụng
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Ngân hàng là ngành dịch vụ có lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm
năm. Hoạt động tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận cho ngành (chiếm 80% lợi
nhuận kinh doanh của ngân hàng). Song nó cũng chứa đựng sự rủi ro rất cao.
Trong thập kỷ 90 chúng ta đã chứng kiến một loạt các đợt khủng hoảng
ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân gây lên song nguyên nhân chính là từ hoạt
động tín dụng của ngân hàng. Cho tới nay chưa có một ngân hàng, một quốc
gia nào dám khẳng định họ có đủ kinh nghiệm và kiến thức để thực hiện hoạt

động tín dụng, một hoạt động sống còn của ngân hàng. Chính vì lẽ đó nâng
cao chất lượng tín dụng luôn là vấn đề được đề cập, tranh cãi lý do chính của
nó xuất phát từ vai trò then chốt không thể thiếu của chất lượng tín dụng đối
với nền kinh tế, xã hội được thể hiện dưới ba góc độ sau: Ngân hàng, nhà đầu
tư và xã hội.
* Chất lượng tín dụng đối với ngân hàng thương mại.
NHTM cũng giống như các nhà kinh doanh, bỏ vốn của mình là mong
muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn. Như thế đảm bảo chất lượng cho các
khoản tiền vay bản thân nó đối với ngân hàng đã là một nhu cầu cấp thiết.
Đặc biệt, đối với các NHTM Việt Nam hiện nay khi không còn là cái bóng
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
12
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
của NHTW mà trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập, tự kiếm lợi nhuận,
chịu trách nhiệm với khách hàng và NHTW. Do vậy, mà ngân hàng không thể
không cần đến sự an toàn với các khoản cho vay.
Trong tình hình kinh tế của nước ta hiện nay, khi mà thị trường tài
chính chưa thực sự phát triển thì danh mục tài sản có sinh lời của các ngân
hàng chưa thể phong phú, cho nên đầu tư vào danh mục cho vay vẫn là hoạt
động thiết yếu của ngân hàng. Cho vay nếu không đảm bảo chất lượng sẽ làm
cho ngân hàng không đầu tư vào các tài sản có khác. Hơn nữa, chất lượng tín
dụng làm gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng do
giảm được sự chậm trễ, chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, tạo thế mạnh cho
ngân hàng trong quá trình cạnh tranh.
Như vậy có thể thấy nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện tối ưu
cần thiết cho mỗi ngân hàng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho ngân
hàng duy trì hoạt động mà còn giúp ngân hàng phát triển, nếu đi ngược lại
mục tiêu trên, ngân hàng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình.
* Chất lượng tín dụng đối với nhà đầu tư.
Chất lượng tín dụng là mối quan tâm hàng đầu của những người khai

thác ngân hàng. Đây là một yêu cầu của người gửi tiền đối với ngân hàng. Có
thể nói chính yêu cầu an toàn các khoản tiền là tiền đề cho sự ra đời của hệ
thống ngân hàng.
Cho đến nay nhu cầu này càng cấp thiết hơn. Bởi lẽ nếu ngân hàng gặp
phải tình trạng cho vay không đòi lại được tức là bị mất vốn, điều đó cũng có
nghĩa là nhà đầu tư cho ngân hàng cũng bị mất vốn đầu tư, mất mát các khoản
tiền gửi, gây thiệt hại trực tiếp cho người gửi tiền, những người đã góp phần
tạo nên nguồn vốn để ngân hàng nhờ đó mới tiến hành được cho vay sinh lợi
nhuận.
* Chất lượng tín dụng đối với xã hội.
Các ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và để tối đa hoá lợi
nhuận ngân hàng đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cho khách hàng trong đó
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
có hoạt động tín dụng, sự phát triển của ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ vào tốc
độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Thông qua chính sách tín dụng
của mình, các ngân hàng đã góp phần vào sự phát triển của các ngành, các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh và do đó tạo ra những điều kiện và công ăn việc
làm và cải thiện mức sống cho người lao động.
Ngõn hàng có đặc thù so với các ngành kinh tế khác ở chỗ hoạt động
của nó liên quan tới nhiều đối tượng ở mọi ngành nghề. Điều này tất yếu dẫn
tới việc ngân hàng có ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế xã hội.
Tóm lại, nâng cao chất lượng cho vay tín dụng ngân hàng là vấn đề vô
cùng quan trọng, không chỉ là công việc hàng đầu của mỗi ngân hàng riêng lẻ
mà là toàn bộ hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.
Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp đang rất
cần nguồn vốn lớn để phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hoá chỉ có thể tạo vốn thông qua con đường vay ngân hàng. Thế nhưng
tồn tại nghịch lý trong khi doanh nghiệp thiếu vốn thì ngân hàng lại thừa vốn

(thiếu vốn trung và dài hạn còn thừa vốn ngắn hạn).
Đứng trước thực trạng nền kinh tế còn nhiều khó khăn và nợ quá hạn
khó đòi ngày càng gia tăng, do vậy để đảm bảo đồng vốn cho vay của mình
mà nhiều ngân hàng đã lưỡng lự khi quyết định cho doanh nghiệp vay, điều
này đã cản trở không nhỏ đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và của xã
hội. Vì vậy, các ngân hàng phải tự tìm cho mình giải pháp phù hợp trên cơ sở
các nguyên tắc cho vay để có thể tiến hành tới hoạt động cho vay đảm bảo
đồng thời với các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Chất lượng hoạt động tín dụng là một khái niệm tương đối và không có
một chỉ tiêu tổng hợp nào để phản ánh nó một cách chính xác. Thông thường
để đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của một NHTM, người ta dựng
một tập hợp các chỉ tiêu khác nhau, nhưng về bản chất chất lượng tín dụng
của một NHTM được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
14
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
* Vòng quay vốn tín dụng.
Chỉ tiêu này đánh giá tần suất sử dụng vốn (hiệu quả sử dụng vốn) của
ngân hàng trong một thời gian nhất định.
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ/ Dư nợ bình quân
Vòng quay vốn tín dụng lớn chứng tỏ vốn ngân hàng đã luân chuyển nhanh,
tham gia nhiều vào chu kì sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá. Với số
lượng vốn nhất định nhưng do tốc độ quay vòng vốn tín dụng nhanh nên ngân
hàng không những đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp mà còn có
thêm nguồn vốn để tiếp tục đầu tư cho doanh nghiệp khác phát triển sản xuất.
Vòng quay vốn tín dụng tăng phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng tốt,
khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng có hiệu quả, thường trả nợ đúng hạn.
* Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng.
Bất kì một ngân hàng nào thì chỉ tiêu này cũng rất quan trọng, chỉ tiêu

này đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đánh giá mức độ hiệu quả sử
dụng tài sản của nhà quản lý.
Đây là lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay đối với
khách hàng. Trong hoạt động cho vay phải thực hiện đựơc lãi suất dương, có
nghĩa là lãi suất đầu ra phải cao hơn lãi suất đầu vào cộng với các chi phí
nghiệp vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể tuỳ thời gian, điều kiện kinh doanh cụ
thể để có chính sách khách hàng hợp lý, nhằm mở rộng đầu tư tín dụng thu
hút khách hàng mà vẫn đảm bảo cho hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao
nhất. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay đã thu hồi được
cả gốc và lãi, đảm bảo được an toàn đồng vốn cho vay. Bằng việc so sánh các
chỉ tiêu này giữa các ngân hàng nên có thể đánh giá, xếp loại chất lượng tín
dụng của các ngân hàng.
* Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Chỉ tiêu này có thể nói là quan trọng nhất khi xem xét chất lượng tín
dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu này được tính:
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
15
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Tỷ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ)*100
Chỉ tiêu này phản ánh rõ nét nhất về chất lượng tín dụng ngân hàng. Nếu tỷ lệ
nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng
thấp, rủi ro cao vì với một số lớn các khoản nợ không được hoàn trả đúng hạn
thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc phân phối luồng vốn vào, ra. Với
việc không thu được nợ thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc mất khả năng
thanh toán hoặc tệ hơn là phá sản. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện chất
lượng tín dụng ở ngân hàng cao, mức độ an toàn cao hay rủi ro thấp vì nó nói
lên trong các khoản cho vay của ngân hàng chỉ có một số ít các khoản vay
không hoàn trả đúng thời hạn.
* Chỉ tiêu tổng dư nợ.
Phản ánh doanh số cho vay của ngân hàng trong một kỳ (1 năm) bao

nhiêu. Tổng dư nợ thấp phản ánh chất lượng tín dụng thấp vì ngân hàng
không có khả năng mở rộng cho vay, khả năng tiếp thị khách hàng kém, trình
độ đội ngũ nhân viên không cao. Tuy nhiên, khi xét chỉ tiêu này chúng ta
không nên xem xét chúng theo từng thời kì riêng rẽ mà phải xem xét chúng
trong cả một quá trình trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động bên ngoài để
chỉ số này phản ánh một cách tốt nhất. Tuy vậy, tổng dư nợ cao chưa chắc đã
phản ánh chất lượng tín dụng cao, vì vậy chỉ tiêu này không phải là quan
trọng nhất, ta thường dùng để tính hệ số sử dụng vốn vay.
Hệ số sử dụng vốn vay = Tổng số dư nợ/ Tổng nguồn vốn huy động.
Hệ số này phản ánh kết quả sử dụng vốn để đầu tư của NHTM, hệ số luôn
nhỏ hơn 1, nếu hệ số gần bằng 1 thì NHTM phải chú ý tăng trưởng nguồn vốn
để đề phòng mất khả năng thanh toán.
1.2.4. Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn.
1.2.4.1. Môi trường kinh tế xã hội.
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
16
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng to lớn tới hoạt động của ngân
hàng, thể hiện rõ ở đường lối chủ trương phát triển kinh tế của nhà nước, mỗi
địa phương và ở mức độ phát triển của mỗi quốc gia, ở từng địa phương.
Một nền kinh tế ổn định sẽ dẫn đến một chính sách tín dụng tự do so
với một nền kinh tế lệ thuộc vào các biến động thời vụ và chu kì. Các khoản
kí thác trong nền kinh tế không ổn định thường chao đảo biến động mạnh so
với các khoản kí thác trong một nền kinh tế ổn định. Nhiều người vay đã làm
ăn phát đạt trong những giai đoạn thịnh vượng nhưng trong giai đoạn suy
thoái vốn có thể bị tiêu tan, lợi nhuận có thể giảm sút từ đó gây lên tình trạng
ngân hàng không thu hồi được vốn. Một yếu tố hiển nhiên ảnh hưởng đến
chính sách tín dụng của ngân hàng là đường lối chủ trương của quốc gia, địa
phương. Lý do chủ yếu để ngân hàng được tồn tại là nhằm phục vụ các nhu
cầu tín dụng của cộng đồng, xã hội. Về mặt lý luận của các ngân hàng chỉ cho

người nào vay tiền nếu đưa ra được yêu cầu xin vay hợp lệ, hợp pháp và lành
mạnh về kinh tế, như theo chủ trương của nhà nước.
Tóm lại hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói
riêng đạt hiệu quả cao hay thấp, rủi ro nhiều hay ít có quan hệ hữu cơ với sự
phát triển kinh tế của quốc gia.
1.2.4.2. Môi trường pháp lý.
Nhân tố pháp lý có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng hoạt
động tín dụng nó tạo môi trường hành lang pháp lý cho hoạt động của ngân
hàng. Nhân tố pháp luật ở đây bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật,
tính đầy đủ, tính thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời với quá trình
chấp hành luật pháp và trình độ dân trí.
Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể lệ tín dụng của ngành đúng với luật ngân
hàng, phù hợp với thực tiễn là một điều kiện quan trọng để nâng cao chất
lượng tín dụng. Bất kì một điều khoản nào, một quy định nào chưa phù hợp
với thực tiễn đều ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Hiện nay nước ta có nhiều bộ luật tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập chưa
sát với thực tế gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội nói chung và hoạt
động tín dụng ngân hàng nói riêng. Trong điều kiện như vậy việc vận dụng
thực thi các bộ luật đã có như thế nào để tạo được hành lang pháp lý đầy đủ
cho hoạt động ngân hàng là vấn đề có nhiều ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
tín dụng của ngân hàng.
1.2.4.3. Về phía của khách hàng vay vốn.
Trong khi doanh nghiệp ở các ngành kinh tế khác trực tiếp sử dụng
quản lý vốn của mình thì ngân hàng sử dụng vốn của mình dưới hình thức
gián tiếp: Đó là giao vốn cho doanh nghiệp không được trực tiếp quản lý vốn
của mình mà thông qua hình thức giám sát doanh nghiệp vay vốn.
Do vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng chịu nhiều chi phối rất lớn từ

bản thân hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn. Các yếu tố của khách
hàng có ảnh hưởng chính đến chất lượng tín dụng đó là:
Năng lực về vốn và tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đủ vốn
cố định và vốn lưu động để thực hiện nhiệm vụ của mình không, một doanh
nghiệp có nguồn vốn dồi dào, ít bị phụ thuộc vào ngân hàng hay các chủ nợ
khác thì khả năng hoàn trả vốn cho ngân hàng là cao hơn so với doanh
nghiệp đi vay vốn là chủ yếu. Giá trị thực của một doanh nghiệp là một vài
tiêu chuẩn đo lường sức mạnh tài chính của chính họ, thường là một trong các
yếu tố quyết định khối lượng tín dụng mà một ngân hàng sẵn lòng cho doanh
nghiệp đó vay vốn.
Khối lượng và chất lượng tài sản của doanh nghiệp nói lên sự thận
trọng và tháo vát của nhà quản lý doanh nghiệp đồng thời một số hoặc tất cả
tài sản có thể đảm bảo cho khoản vay. Điều đó có ý nghĩa các khoản vay sẽ
được hoàn trả. Tuy nhiên, các tài sản đó giảm bớt rủi ro cho ngân hàng,
nhưng các ngân hàng vẫn mong muốn vốn vay sẽ được trả từ lợi nhuận. Vì
điều đó chứng minh rằng vốn của ngân hàng đã được sử dụng có hiệu quả.
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
18
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay
xấu, tương lai của doanh nghiệp phát triển ở mức độ nào, dự án, phương án
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có đủ khả năng tồn tại và phát triển
được trong cuộc cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường hay không. Điều
này cổ phần hoá ý nghĩa quyết định cho số phận món tiền ngân hàng cho vay,
nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên đà phát triển có hiệu quả thì vốn
của ngân hàng chắc chắn sẽ được hoàn trả.
Mức độ chuyển biến nhận thức, quan điểm tâm lý của ban lãnh đạo
doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ra sao. Họ đã có đầy đủ ý
thức và trách nhiệm trả nợ đối với khoản vay hay vẫn mang nặng tư tưởng
bao cấp trông chờ nguồn vốn được cấp, được vay ưu đãi. Trình độ doanh

nghiệp ở mức độ nào, đã đáp ứng được mức độ nào trong điều kiện kinh tế
hiện thời. Một doanh nghiệp trở nên hưng thịnh, phát triển trong khi một
doanh nghiệp khác bị thua lỗ, suy sụp. Sự khác biệt này có nguyên nhân chính
xuất phát từ trình độ chất lượng quản lý và đây cũng là yếu tố quyết định
khiến cho doanh nghiệp có được vay vốn ngân hàng hay không và qua đó để
đánh giá phần nào chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Như vậy, có thể nói việc quản lý sử dụng vốn vay sao cho có hiệu quả,
đảm bảo trả nợ ngân hàng và có lợi nhuận cho người vay các doanh nghiệp có
trình độ quản lý tốt, năng lực sản xuất kinh doanh tốt, bảo tồn và phát triển
được vốn vay thì chất lượng đầu tư tín dụng của ngân hàng sẽ cao và ngược lại.
1.2.4.4. Nhân tố chủ quan của ngân hàng.
Năng lực, trình độ hiểu biết của đội ngũ cán bộ ngõn hàng trong cơ chế
thị trường có ảnh hưởng to lớn tới chất lượng món vay của ngân hàng.
Chúng ta đang đứng trước một thực trạng chung là xu thế toàn cầu hoá
nền kinh tế thế giới. Xu thế này ngày càng hình thành rõ rệt mà nét nổi bật là
nền kinh tế quốc tế thị trường đang trở thành một không gian chung cho tất cả
các nước, các thị trường tài chính mở rộng phạm vi hoạt động dường như
không biên giới, vừa tạo điều kiện có cơ hội mới cho ngân hàng vừa làm sâu
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
sắc thêm quá trình cạnh tranh, đặt ngân hàng trước những thử thách mới. Bởi
vậy nếu ngân hàng nào không nhận thức được vấn đề này, không tự đổi mới,
tìm cách tạo dựng và phát triển thế mạnh của riêng mình, có hướng đi vào
chính sách tín dụng thích hợp thì sẽ khó lòng tồn tại và phát triển trong đó
chiến lựơc con người giữ vai trò chỉ đạo.
Thực tế, cho thấy nếu ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhanh nhạy sáng
tạo trong công việc, có tinh thần tập thể vì lợi ích của ngân hàng thì ngân
hàng đó có thể đứng vững và phát triển, ngày nay có uy tín. Trong khi đó có
những cán bộ tín dụng gian dối trong thẩm định tín dụng của ngân hàng, đánh

giá sai tài sản thế chấp, lơ là sự giám sát của mình đối với các doanh nghiệp
để rồi dẫn đến ngân hàng chịu toàn bộ rủi ro.
Bên cạnh đó còn có các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch hoạ, cơ
chế chính sách, khách hàng gặp khó khăn dẫn đến thua lỗ thì bản thân
ngân hàng phải chịu trách nhiệm chính cho hiện tượng chất lượng tín dụng bị
giảm sút. Trong đó cán bộ tín dụng có vai trò và ảnh hưởng lớn đến chất
lượng các món vay, bởi chính họ là người trực tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, đề
suất cho vay và theo dõi quản lý dư nợ của khách hàng. Chính vì vậy mà cán
bộ tín dụng chính là mẫu số chung nhỏ nhất của các ngân hàng khi tìm ra
nguyên nhân của nợ quá hạn, các khoản vay không thu hồi được.
Như vậy, để có một khoản vay tốt thì cần phải có nhiều điều. Ngoài
một báo cáo tài chính vững mạnh cần có một đội ngũ cán bộ tín dụng vững về
kỹ thuật, có trực giác nhạy bén, sắc sảo. Thông qua việc đào tạo và lựa chọn
những cán bộ có năng lực, thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp thì các ngân
hàng có thể bắt đầu một quá trình cải thiện chất lượng tín dụng, giảm thiểu
các rủi ro để lấy lại và nâng cao uy tín của mình trong xã hội.
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
20
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT VÀ PT YÊN BÁI– NGÂN HÀNG
ĐT VÀ PT VIỆT NAM.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh ngân hàng đt và pt
Yên Bái - BIDV.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo
của Chính Phủ và NHNN, CN ngân hàng đt và pt Yên Bái đã được thành lập
và đi vào hoạt động từ những năm đầu Ngân hàng ĐT&PT VN được xác định
là ngân hàng kinh doanh cấp tiền tệ. CN ngân hàng đt và pt Yên Bái ngân
hàng ĐT&PT VN được thành lập ngày 28/3/1991 theo quyết định số 76

QĐ/TCCB của Tổng giám đốc Ngân hàng ĐT&PT VN, có trụ sở chính tại tổ
48,phường Minh Tân, đường Điện Biên, thanh phố Yên Bái. Đây là đơn vị
chủ lực trong việc xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác với khách hàng Tập
đoàn, Tổng công ty, thực hiện phục vụ đầu tư phát triển các dự án lớn và
trọng điểm của đất nước. Trong mô hình Tổng công ty Nhà nước hạng đặc
biệt, CN ngân hàng đt và pt Yên Bái đã trưởng thành vượt bậc, đóng góp quan
trọng vào thành quả chung của toàn hệ thống BIDV. Đó là về tăng trưởng
toàn diện, chất lượng và hiệu quả kinh doanh cao. CN ngân hàng đt và pt Yên
Bái luôn chiếm tỷ trọng trên 10% về tổng tài sản và về lợi nhuận của toàn hệ
thống BIDV, đóng góp nhiều nhất vào kết quả hoạt động kinh doanh của toàn
ngành.
Nét nổi bật trong những năm đầu gắn liền với cơ chế mới về tín dụng đầu tư
và quá trình chuyển ngân hàng sang kinh doanh, CN ngân hàng đt và pt Yên
Bái đã đi đầu thử nghiệm và thực thi có hiệu quả nhiều hình thức huy động
vốn mới như: kỳ phiếu VND và USD, kỳ phiếu bảo đảm giá trị theo giá vàng,
tiết kiệm xây dựng nhà ở, trái phiếu BIDV bằng VND và USD… Cùng với
việc đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế, vay hợp vốn, vay song phương, vay
tài trợ XNK…kết quả huy động vốn trong nước với sự đóng góp tích cực của
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
21
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
CN ngân hàng đt và pt Yên Bái đã giúp BIDV giải được bài toán vốn để cho
vay và kinh doanh, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đầu tư phát triển, xây dựng
và phát triển kinh tế- xã hội, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, ngân hàng
kinh doanh có lãi.
* Từ ngày đầu thành lập, CN ngân hàng đt và pt Yên Bái có 2 phòng và
1 tổ nghiệp vụ, chủ yếu làm nghiệp vụ cấp phát vốn ngân sách đầu tư cho các
dự án.
* Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000: với 167 cán bộ nhân viên, CN
ngân hàng đt và pt Yên Bái đã có 12 phòng nghiệp vụ, 1 chi nhánh khu vực, 2

phòng giao dịch và 7 quỹ tiết kiệm. Thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của ngân
hàng thương mại, phục vụ đông đảo khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế
và dân cư.
* Giai đoạn từ 2001-2005 Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái đã
thực hiện tách nâng cấp mở 4 chi nhánh cấp 1 trên địa bàn Yên Bái. Cơ cấu
lại Sở giao dịch theo mô hình phục vụ giao dịch một cửa thuận lợi cho khách
hàng và quản lý thông tin, thanh toán trực tuyến Chi nhánh ngân hàng dt và
pt yên bái đã có 15 phòng nghiệp vụ, 15 điểm giao dịch với gần 300 cán bộ
nhân viên.
* Ngày 1/10/2009 đã được đổi tên thành Chi nhánh ngân hàng dt và pt
yên bái
Và hiện nay có gần 300 cán bộ được bố trí tại 20 phòng nghiệp vụ, đơn vị
trực thuộc 5 khối chức năng trong đó có trên 94% số cán bộ có trình độ đại
học và trên đại học được đào tạo cơ bản với tuổi đời bình quân là 27 tuổi.
Đây là nguồn lực tiềm năng thúc đẩy phát huy sức sáng tạo, năng động, nhiệt
huyết gắn bó và cống hiến với ngành nghề. Mô hình tổ chức của Chi nhánh
ngân hàng dt và pt yên bái đang tiếp tục được hoàn thiện hướng theo các
ngân hàng hiện đại trên cơ sở áp dụng thông tin để hình thành các kênh phân
phối sản phẩm tín dụng huy động vốn. dịch vu…
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
22
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Trong điều kiện hội nhập kinh tế sâu sắc thì vấn đề mấu chốt là nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp để đứng vững và phát triển mạnh mẽ
trên thương trường. Vì vậy hơn lúc nào hết, Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên
bái đang cố gắng khai thác và phát huy đầy đủ nhất các lợi thế của mô hình
ngân hàng dt và pt yên bái - Hội sở chính trực tiếp kinh doanh, để đào tạo,
xây dựng được đội ngũ cán bộ nhân viên có đủ “ Tâm và Tầm”, ứng dụng,
phát triển mạnh mẽ công nghệ hiện đại để tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng
cao, đáp ứng nhu cầu khách hàng, chi phí hợp lý và có sức cạnh tranh cao.

2.1.1 Mô hình cơ cấu tổ chức trong ngân hàng.
Mô hình tổ chức của Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái Ngân hàng
ĐT&PT Việt Nam gồm có các phòng ban, nghiệp vụ như sau:
* Phòng tài chính kế toán.
Đây là phòng tổ chức thực hiện và kiểm tra công tác kế toán chi tiết, kế
toán tổng hợp và chế độ báo cáo kế toán, theo dõi quản lý tài sản (giá trị) vốn,
quỹ, thực hiện công tác hậu kiểm, thực hiện quản lý tài chính, đề xuất tham
mưu với giám đốc Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái về việc hướng dẫn
thực hiện chế độ kế toán, xây dựng chế độ quản lý tài sản, định mức và quản
lý tài chính, nộp thuế…
Các đơn vị này trực tiếp thực hiện một số hoạt động ngân hàng gồm hoạt
động huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán và các hoạt động khác có liên
quan trong phạm vi uỷ quyền của chi nhánh phù hợp với các quy định của
pháp luật, của BIDV.
* Phòng kế hoạch tổng hợp.
Thực hiện công tác kế hoạch tổng hợp: thu nhập thông tin phục vụ công
tác kế hoạch tổng hợp, tổ chức và thực hiện điều hành nguồn vốn, chính sách,
biện pháp, giải pháp phát triển nguồn vốn, xây dựng kế hoạch kinh doanh
dịch vụ của chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái , đề xuất các biện pháp, các
chính sách phát triển dịch vụ của Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái; tiến
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
23
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, phân tích mức độ cạnh tranh trong
thị trường dịch vụ Ngân hàng; xây dựng chính sách Marketing, chính sách
phát triển khách hàng của chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái; xây dựng,
triển khai các chương trình quảng bá, xúc tiến kinh doanh các sản phẩm dịch
vụ mới
* Phòng tổ chức nhân sự.
Đề xuất, tham mưu, giúp việc Giám đốc về triển khai thực hiện công tác

tổ chức – nhân sự và phát triển nguồn nhân lực tại chi nhánh ngân hàng dt và
pt yên bái.
* Phòng điện toán.
Thực hiện các nhiệm vụ về công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động
của chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái như đào tạo, hỗ trợ các phòng, các
cán bộ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hỗ trợ khách hàng sử dụng các
dịch vụ tiện ích và ứng dụng công nghệ cao, tham mưu, đề xuất với giám đốc
về kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
* Văn phòng
Thực hiện công tác hành chính như: công tác văn thư; kiểm tra, giám
sát việc thực hiện các nội quy, quy định thuộc lĩnh vực văn phòng thuộc chi
nhánh ngân hàng dt và pt yên bái và công tác quản trị hậu cần như: quản lý,
khai thác các tài sản cố định, công cụ lao động, trang thiết bị, phương tiện
vận tải,đảm bảo các công tác hậu cần, lễ tân,tiếp khách
* Phòng quản trị tín dụng.
Trực tiếp thực hiện tác nghiệp và quản trị cho vay, bảo lãnh đối với
khách hàng theo quy định, quy trình của BIDV và của Chi nhánh ngân hàng
dt và pt yên bái; Thực hiện tính toán trích lập dự phòng rủi ro theo kết quả
phân loại rủi ro của phòng quan hệ khách hàng, gửi kết quả cho phòng quản lí
rủi ro để thực hiện rà soát, trình cấp có thẩm quyền quyết định
* Phòng giao dịch khách hàng cá nhân.
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
24

×