Tải bản đầy đủ (.doc) (106 trang)

nâng cao chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh viên tại ngân hàng chính sách xã hội việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (624.43 KB, 106 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận Văn: “Nâng cao chất lượng cho vay đối với học
sinh, sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi.
Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn này là trung thực.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công
bố tại bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Võ Thị Lan Hương
LỜI CẢM ƠN

Để làm được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của
các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình trong suốt thời gian
qua.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới TS Lê Thị
Hương Lan, người hướng dẫn luận văn, đã định hướng, giúp tôi tiếp cận
thực tiễn và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn đến Quý Thầy, Cô trong Viện Đào tạo sau Đại học -
trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức bổ ích và
giá trị trong suốt quá trình học tập.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn những người bạn và người thân đã tận tình
hỗ trợ, góp ý và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhất luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
Xin chân thành cảm ơn! 2
MỤC LỤC 3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI
VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN TẠI NHCSXH 4
1.1. Tổng quan về NHCSXH 4
1.1.1. Khái niệm NHCSXH 4
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHCSXH 6
1.1.3. Vai trò của NHCSXH đối với nền kinh tế 11
1.1.4. Đặc trưng của NHCSXH 13
1.2. Hoạt động cho vay học sinh sinh viên của NHCSXH 15
1.2.1. Khái niệm cho vay học sinh, sinh viên 15
1.2.2. Vai trò của cho vay học sinh, sinh viên 16
1.2.3. Đặc trưng cơ bản của hoạt động cho vay đối với học sinh, sinh viên 17
1.2.4. Các hình thức cho vay học sinh, sinh viên 20
1.3. Chất lượng cho vay học sinh, sinh viên tại NHCSXH 21
1.3.1. Quan niệm chất lượng cho vay học sinh, sinh viên tại NHCSXH 21
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay HSSV tại NHCSXH 23
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay HSSV của NHCSXH 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỌC
SINH, SINH VIÊN TẠI NHCSXH VIỆT NAM 35
2.1. Giới thiệu về NHCSXH Việt Nam 35
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NHCSXH Việt Nam 35
2.1.2. Tình hình hoạt động của NHCSXH Việt Nam giai đoạn 2009-2012 39
2.2. Thực trạng cho vay đối với HSSV tại NHCSXH Việt Nam 46
2.2.1. Quá trình triển khai thực hiện cho vay đối với học sinh, sinh viên 46
2.2.2. Chính sách và qui trình cho vay đối với học sinh, sinh viên 48
2.2.3. Phân tích chất lượng cho vay HSSV của NHCSXH Việt Nam 51
2.3. Đánh giá chất lượng cho vay HSSV tại NHCSXH Việt Nam 64
2.3.1. Kết quả đạt được 64

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 66
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
HSSV TẠI NHCSXH VIỆT NAM 77
3.1. Định hướng phát triển của NHCSXH Việt Nam 77
3.1.1. Định hướng phát triển chung 77
3.1.2. Định hướng hoạt động tín dụng đối với HSSV của NHCSXH Việt Nam từ
nay đến năm 2017 80
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay học sinh, sinh viên tại NHCSXH
Việt Nam 81
3.2.1. Xây dựng quy trình kiểm tra, kiểm soát vốn vay và tăng cường công tác
kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay 81
3.2.2. Nghiên cứu điều chỉnh chính sách cho vay một cách hợp lý nhằm khuyến
khích và tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập của HSSV 82
3.2.3. Chuẩn hóa lại các quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng cho vay
đối với HSSV của NHCSXH 84
3.2.4. tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, Ngành, các tổ chức
chính trị - xã hội, chính quyền địa phương các cấp 85
3.2.5. củng cố và hoàn thiện Tổ Tiết kiệm và vay vốn 87
3.2.6. Tăng cường công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công
nhân viên và phát triển nguồn nhân lực 89
3.2.7. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về chính sách cho vay đối với
HSSV có hoàn cảnh khó khăn 91
3.2.8. Công tác nguồn vốn 91
3.3. Một số kiến nghị 93
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ, Nhà nước 93
3.3.2. Kiến nghị với NHNN 94
3.3.3. Kiến nghị với Bộ Tài chính 95
3.3.4. Kiến nghị với liên ngành Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin tuyên
truyền, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và NHCSXH 95
3.3.5. Kiến nghị với Chính quyền địa phương 96

3.3.6. Đối với tổ chức hội nhận ủy thác cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn.97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ Tiếng Việt
BĐD Ban đại diện
HĐQT Hội đồng quản trị
HSSV Học sinh sinh viên
HCKK Hoàn cảnh khó khăn
NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHCT Ngân hàng Công thương
NHCSXH Ngân hàng Chính sách xã hội
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NSNN Ngân sách Nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
TK&VV Tiết kiệm và vay vốn
UBND Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng biểu:
Bảng 2.1: Nguồn vốn và cơ cấu của NHCSXH 40
Bảng 2.2: Dư nợ cho vay các chương trình tín dụng của NHCSXH 43
Bảng 2.4: Số HSSV vay vốn tại NHCSXH 53
Bảng 2.5: Phân tích số lượng và dư nợ HSSV theo đối tượng thụ hưởng 56
Bảng 2.6: Phân tích số lượng và dư nợ HSSV theo đối tượng đào tạo 60
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp dư nợ cho vay HSSV theo khu vực đến 31/12/2012 61
Bảng 2.8: Tình hình Nợ quá hạn chương trình cho vay HSSV tại NHCSXH Việt
Nam 62
Bảng 2.9: So sánh nợ quá hạn chương trình cho vay HSSV với một số chương trình
tín dụng tại NHCSXH Việt Nam 63

Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Quy mô tín dụng HSSV 51
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay HSSV so với một số chương trình khác 64
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của NHCSXH 38
Sơ đồ 2.2: Quy trình cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn 49

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
NHCSXH được thành lập năm 2003 trên cơ sở hoàn thiện mô hình tổ chức
và hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo nhằm thống nhất các nguồn lực
tài chính, thiết lập một cơ chế tài trợ phù hợp, góp phần thực hiện mục tiêu hỗ trợ
các đối tượng chính sách xã hội. Sự ra đời của NHCSXH đã tạo cơ hội cho người
nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận với dịch vụ tín dụng Ngân
hàng, giúp các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có việc làm, tăng thu
nhập, cải thiện đời sống và từng bước quen dần với nền sản xuất hàng hóa.
Trong các hoạt động của NHCSXH, tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan
trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của NHCSXH. Tín dụng là
hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro tín
dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất mà NHCSXH cũng
như các ngân hàng khác phải đối mặt. Hậu quả của rủi ro trong hoạt động tín dụng
luôn có tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng nói riêng và
cả nền kinh tế xã hội nói chung. Do đó bất cứ lúc nào rủi ro tín dụng cũng luôn
mang tính thời sự và việc nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất
rủi ro tín dụng là vấn đề bức xúc và cần thiết đối với NHCSXH.
Trong bối cảnh Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển kinh tế, mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng tới sự nghiệp giáo dục, đào
tạo. Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn
dân. Trong đó, xác định đào tạo bậc đại học, cao đẳng và đào tạo nghề nghiệp với
chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội đang là vấn đề có tính quyết định đối

với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh. Tuy nhiên, một thực tế đáng lo ngại ở nước ta hiện nay là có một tỷ lệ không
nhỏ số HSSV đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và học nghề có hoàn cảnh khó khăn, nếu không được sự hỗ trợ của Nhà
1
nước thì bộ phận HSSV này khó có thể theo học được, Nhà nước sẽ mất đi một số
lượng lớn nhân tài, những vùng sâu, vùng xa, vùng núi hải đảo không có điều kiện
tiếp nhận được cán bộ.
Một trong những chương trình trọng điểm của NHCSXH là chương trình cho
vay đối với học sinh, sinh viên nhằm hỗ trợ và tạo cơ hội cho các em HSSV có hoàn
cảnh khó khăn tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, góp phần trang trải chi
phí cho việc học tập, sinh hoạt theo học tại trường. Từ đó có thể tiếp cận với nền
giáo dục ở cấp độ cao, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của sự nghiệp
giáo dục quốc gia.
Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Nâng cao chất lượng cho vay đối với học
sinh, sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam” được tác giả lựa
chọn nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về NHCSXH và hoạt động cho vay đối
với học sinh, sinh viên tại NHCSXH.
- Đánh giá thực trạng chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh viên tại
NHCSXH.
- Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng cho vay đối
với học sinh, sinh viên tại NHCSXH.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay đối với học sinh, sinh viên tại
NHCSXH.
- Phạm vi nghiên cứu: Chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh viên tại
NHCSXH Việt Nam từ năm 2009 – 2012.

4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, sử dụng phương pháp phân tích logic hệ thống, thống kê, so
sánh, phương pháp thực chứng dựa trên những tư liệu thực tiễn của NHCSXH để
phân tích.
2
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay đối với học sinh,
sinh viên tại NHCSXH.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh viên tại
NHCSXH Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh
viên tại NHCSXH Việt Nam.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN TẠI NHCSXH
1.1. Tổng quan về NHCSXH
1.1.1. Khái niệm NHCSXH
Trên thế giới, nhiều quốc gia có NHCSXH, nhưng nhận thức về mô hình
Ngân hàng tham gia thực hiện chính sách xã hội có nhiều quan điểm khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Để có thể chuyển tải vốn tới các đối tượng
thụ hưởng chính sách xã hội phải là một loại hình ngân hàng chính sách của Chính
phủ được thành lập chỉ để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi dành riêng cho
mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Để có thể chuyển tải vốn tới các đối tượng thụ
hưởng chính sách xã hội, Chính phủ có thể thông qua hệ thống NHTM thuộc sở hữu
Nhà nước để thực hiện các chương trình tín dụng chỉ định của Chính phủ.
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Người nghèo và các đối tượng chính sách xã

hội khác không nhất thiết phải được hưởng ưu đãi về lãi suất mà điều cần thiết đối
với họ chính là được ưu đãi về các điều kiện vay vốn khác. Do đó, theo họ có thể
thành lập NHTM cổ phần để cho vay đối với người nghèo với lãi suất hoàn toàn
theo cơ chế thị trường (Ngân hàng Grameen ở Bangladesh).
Các quan điểm về mô hình Ngân hàng tham gia thực hiện chính sách xã hội
trên đây có khác nhau và sự vận dụng chúng có hiệu quả hay không còn tùy thuộc
vào việc chúng có phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước.
Trong xu thế phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, ở mỗi quốc gia
đều nảy sinh tình trạng có những ngành hàng, những khu vực kinh tế, những đối
tượng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện tiếp cận với dịch
4
vụ của các NHTM. Ví dụ, các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, vùng sâu,
vùng xa địa hình khó khăn hiểm trở, bị chia cắt, điều kiện khí hậu tự nhiên khắc
nghiệt…, chịu chi phí lớn, rủi ro cao, hơn nữa đòi hỏi vốn đầu tư lớn thời gian dài,
lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận. Tuy nhiên, những ngành hàng, những khu
vực kinh tế và những đối tượng khách hàng này không thể bị “bỏ rơi”, nó buộc phải
có sự hỗ trợ của Chính phủ để tồn tại và phát triển bởi tính xã hội của nó: nhằm đảm
bảo sự phát triển kinh tế cân bằng giữa các vùng, miền, giữa các thành phần, đảm
bảo sự chênh lệch giàu nghèo không quá lớn và nhằm giải quyết các mục tiêu chính
trị - xã hội. Để giảm thiểu những mặt trái khuyết tật của cơ chế thị trường và giải
quyết các mục tiêu nêu trên, Chính phủ đã sử dụng công cụ tín dụng chính sách.
Như vậy, tín dụng chính sách là các khoản cho vay theo chỉ định của Chính
phủ. Đây là việc cho vay có tính chất phi thương mại đối với các hoạt động bán tài
chính không đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện tiêu chí thương mại, nhưng lại có
tác động xã hội chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia.
Tùy điều kiện và nhu cầu của mỗi quốc gia, Chính phủ thiết lập các kênh tín
dụng hoặc thiết lập các Ngân hàng chuyên biệt để:
- Cho vay các khu vực kinh tế ưu tiên;
- Cho vay các ngành kinh tế có tính chất chiến lược;
- Cho vay các công trình có tính khả thi về tài chính nhưng đòi hỏi vốn lớn,

thời gian dài (công trình cơ sở hạ tầng, đường xá…);
- Cho vay xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn và các khu vực
xã hội.
Các ngân hàng được thiết lập để thực hiện các chương trình tín dụng chính
sách của Chính phủ được gọi là Ngân hàng Chính sách.
Ngân hàng Chính sách được chia làm 2 loại:
- Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách phát triển được gọi là Ngân
hàng Phát triển.
5
- Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội được gọi là Ngân
hàng Chính sách xã hội.
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm chung nhất về
NHCSXH là loại hình Ngân hàng chuyên biệt được các Chính phủ thiết lập nhằm
cung cấp các khoản cho vay ưu đãi đối với các đối tượng khách hàng, ngành nghề,
khu vực kinh tế được đặc biệt quan tâm.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHCSXH
NHCSXH là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống; tự chủ về tài chính, tự
chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng của mình trước pháp luật; thực hiện bảo tồn
và phát triển vốn; bù đắp chi phí và rủi ro hoạt động tín dụng. NHCSXH không
tham gia bảo hiểm tiền gửi, có tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, được miễn thuế và
các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.
Vốn điều lệ ban đầu là 5.000.000.000.000 đồng (Năm nghìn tỷ đồng) và
được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ. Hiện nay, vốn điều
lệ của NHCSXH là 7.988.000.000.000 đồng.
NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện cho vay với lãi
suất và các điều kiện ưu đãi, mục tiêu chủ yếu là xoá đói giảm nghèo. Lãi suất cho
vay của NHCSXH theo Quyết định của Chính phủ từng thời kỳ. Hiện nay, lãi suất
của các chương trình cho vay của NHCSXH từ 0,5%/ tháng đến 0,9%/ tháng.
Các mức lãi suất ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ,
những tổn thất trong cho vay sau khi bù đắp bằng quĩ dự phòng, chi phí hoạt động của

NHCSXH sẽ được Bộ Tài chính cấp Như vậy đây là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt
động ngân hàng (huy động và cho vay) song dựa vào nguồn chi ngân sách hàng năm,
tức là Nhà nước thực hiện bao cấp một phần cho hoạt động của NHCSXH.
Cũng như các Ngân hàng thương mại khác, hoạt động của NHCSXH bao gồm
các mảng hoạt động chính như sau:
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
6
Xuất phát từ tính chất các món vay mà ngân hàng cung ứng có tỷ lệ sinh lời
thấp (cho vay xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển vùng khó khăn…), thời
gian dài, rủi ro cao nên để đảm bảo cho hoạt động bền vững của ngân hàng, nguồn
vốn huy động của NHCSXH có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm:
a) Vốn do Ngân sách Nhà nước cấp
Nguồn vốn của NHCSXH được tạo lập chủ yếu từ nguồn ngân sách Nhà
nước dưới các hình thức như:
- Cấp vốn điều lệ: nhà nước thể hiện vai trò chủ sở hữu bằng việc cấp vốn
điều lệ cho NHCSXH. Vốn điều lệ được cấp lần đầu khi ngân hàng mới đi vào hoạt
động và có kế hoạch cấp bổ sung các năm tiếp theo. Nguồn vốn này, một phần được
sử dụng để hình thành nên các tài sản cố định của ngân hàng (trụ sở, phương tiện
làm việc, đi lại, thiết bị …), một phần hòa cùng các nguồn vốn khác để thực hiện
hoạt động cho vay.
- Vốn cấp hàng năm để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách:
Hàng năm NHCSXH được tiếp nhận một lượng tiền được trích ra từ Ngân sách Nhà
nước để thực hiện các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách xã hội.
Nguồn vốn này ổn định nhưng số lượng còn phụ thuộc vào việc phân bổ ngân sách
cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia hàng năm của Nhà nước.
b) Nguồn trái phiếu Chính phủ
Nguồn vốn của Chính phủ huy động dưới các hình thức phát hành trái phiếu
Chính phủ trong và ngoài nước để chỉ định thực hiện chương trình tín dụng chính
sách: Đây là nguồn vốn rẻ, có thời gian sử dụng dài. Tuy nhiên lượng vốn huy động
được, lại phải phân chia cho nhiều mục tiêu phát triển của đất nước nên NHCSXH

chỉ dựa vào nguồn vốn này khi mới đi vào hoạt động hoặc khi gặp khó khăn trong
thanh toán.
c) Vốn do Ngân sách các địa phương hỗ trợ
Hàng năm các địa phương đều có trích từ ngân sách của mình một lượng tiền
nhất định chuyển cho NHCSXH để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách
7
trên địa bàn. Tuy nhiên nguồn vốn này thường rất ít và phụ thuộc vào điều kiện
riêng của từng địa phương.
d) Vốn vay lãi suất thấp
- Vốn vay ODA: Là nguồn vốn của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ
trong và ngoài nước dành cho chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ. Vốn
từ nguồn này có khối lượng lớn, lãi suất tương đối thấp, thời gian sử dụng dài, có
thời gian ân hạn, kèm theo chuyển giao công nghệ, chuyên gia, cung cấp thông tin
và đào tạo. Tuy vậy, nguồn vốn này thường kèm theo các điều kiện kinh tế, chính trị
mà ngân hàng không dễ thực hiện, nhiều khi những điều kiện này làm cho vốn đắt
lên, hiệu quả sử dụng thấp đi.
- Vốn vay Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước: NHCSXH tận dụng
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức này để vay với lãi suất ưu đãi (thường
là không phải chịu lãi suất, hoặc lãi suất rất thấp so với thị trường) phục vụ cho các
chương trình cho vay của mình.
đ) Nguồn vốn huy động và vay lãi suất thị trường
Đây là nguồn vốn huy động từ vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân và các
tổ chức trong và ngoài nước dưới các hình thức như:
- Nhận tiền gửi từ các TCTD Nhà nước: NHCSXH tập trung vận động các
TCTD Nhà nước gửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi
không hưởng lãi hoặc hưởng lãi suất hợp lý.
- Vốn huy động của Tổ chức, cá nhân trên thị trường, bao gồm: tiền gửi, tiết
kiệm, đi vay các tổ chức, nhận vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng có bảo lãnh của Chính phủ…Tuy
nhiên, khối lượng nguồn vốn huy động trên thị trường của NHCSXH phụ thuộc vào

khối lượng và kế hoạch cấp bù phần chênh lệch lãi suất từ Ngân sách Nhà nước.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động cho vay chủ yếu của NHCSXH là cho vay theo các chương trình
chính sách của Nhà nước với những điều kiện ưu đãi nhất định về thủ tục, tài sản
8
đảm bảo, thế chấp cũng như về lãi suất thấp hơn so với các NHTM; bao gồm các
khoản cho vay để hỗ trợ chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ như cho vay
các hộ gia đình nghèo để duy trì sản xuất và ổn định đời sống, cho vay hỗ trợ các
chính sách xã hội, giáo dục, y tế, giúp những đối tượng chính sách có cơ hội học
tập, học nghề, tạo công ăn việc làm nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo điều
kiện tiền đề phát triển các vùng kinh tế khó khăn… đảm bảo cho nền kinh tế phát
triển cân đối, xã hội ổn định, giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Vì vậy, tuy
các hoạt động cho vay này không đáp ứng được các tiêu chí thương mại (thường là
các khoản cho vay chỉ định của Nhà nước, mang lại rất ít hoặc không mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng) nhưng lại có tác dụng chính trị, xã hội rất quan trọng trong sự
phát triển của một quốc gia.
Hoạt động cho vay của NHCSXH chủ yếu là cho vay hộ nghèo và các đối
tượng chính sách khác, bao gồm:
(i) Hộ nghèo
Cho vay hộ nghèo là một trong những chương trình cho vay có dư nợ lớn
nhất của NHCSXH với mục đích cho vay ưu đãi nhằm phục vụ sản xuất kinh
doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa
đói giảm nghèo và việc làm, ổn định xã hội.
(ii) HSSV có hoàn cảnh khó khăn
Với mục đích hỗ trợ một phần tài chính cho những sinh viên đi học nhằm
nâng cao nhận thức và địa vị xã hội, góp phần xây dựng xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh, NHCSXH đã cho các sinh viên đang theo học hệ chính quy tập trung tại
các trường đại học, cao đẳng trung học dạy nghề công lập, bán công, dân lập vay vốn.
(iii) Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm
Vấn đề lao động việc làm luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Giải quyết việc
làm là chính sách xã hội cơ bản của đất nước nhằm mục tiêu phát triển bền vững vì
con người.
9
Nhằm góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và
nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu
lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người lao động có nhu
cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, NHCSXH thực hiện cho
vay đối với các đối tượng thuộc diện chính sách hoặc các dự án tạo việc làm mới
cho các đối tượng này.
(iv) Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
Với mục đích nhằm giải quyết việc làm tăng thu nhập, nâng cao trình độ
nghề nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu cho đất nước và mở rộng quan hệ
hợp tác với các nước trên thế giới, NHCSXH cho vay ưu đãi cho các đối tượng
chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài.
(v) Hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn
Chính sách cho vay ưu đãi đối với vùng khó khăn đã được triển khai từ khá
lâu tại các NHTM. Tuy nhiên do chưa có một chính sách nhất quán và các biện
pháp thống nhất trong công tác triển khai nên kết quả đạt được còn hạn chế, chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển.
NHCSXH ra đời phân định giữa vốn tín dụng chính sách và vốn tín dụng
thương mại thì việc hỗ trợ về lãi suất của các NHTM đối với các hộ sản xuất kinh
doanh và các đơn vị kinh tế ở vùng khó khăn không còn nữa, làm cho nhiều hộ gia
đình sản xuất kinh doanh và đơn vị kinh tế rất khó khăn về tài chính. Vì vậy
NHCSXH được giao trách nhiệm triển khai thực hiện tín dụng đối với hộ gia đình
sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn.
(vi) Đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn
NHCSXH thực hiện việc cho vay vốn đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số
đặc biệt khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định đời sống, sớm vượt qua đói nghèo.
(vii) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng người

lao động là người sau cai nghiện ma túy
10
NHCSXH cho vay đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và doanh
nghiệp sử dụng người lao động là người sau cai nghiện ma túy tại các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thí điểm
“Tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện” theo
Nghị quyết số 16/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 của Quốc hội.
Đối tượng được vay vốn bao gồm các hộ gia đình, cơ sở và doanh nghiệp sử
dụng người lao động là người sau cai nghiện ma túy thuộc đối tượng thực hiện đề án
thí điểm Tổ chức quản lý dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện
của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
(viii) Các đối tượng khác theo chỉ định của Chính phủ: Cho vay doanh
nghiệp làm nhà ở, cho vay mua nhà trả chậm, cho vay nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn,…
1.1.2.3. Các hoạt động khác
Ngoài hai mảng hoạt động chính là huy động vốn và sưr dụng vốn,
NHCSXH cũng ngày càng hoàn thiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước.
Ngân hàng Chính sách xã hội có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ
thống liên ngân hàng trong nước.
Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh
toán và ngân quỹ:
- Cung ứng các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước.
- Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt.
- Các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
1.1.3. Vai trò của NHCSXH đối với nền kinh tế
11
NHCSXH là một tổ chức tín dụng chuyên biệt thực hiện cho vay theo các

chính sách của Nhà nước vì vậy NHCSXH đóng một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế, xã hội:
Thứ nhất, là công cụ để Nhà nước thực hiện các chương trình tín dụng chính
sách. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng hoàn chỉnh thì khoảng cách giàu
nghèo càng lớn, do đó mỗi quốc gia cần phải có chính sách hợp lý để quan tâm và bảo
đảm cho vấn đề con người, an sinh xã hội cho người nghèo, vùng nghèo … đó là vấn đề
sống còn của chế độ, công bằng và tiến bộ xã hội. Với mục đích hướng sự giúp đỡ đến
các đối tượng, khu vực trên, NHCSXH đã góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì
sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh,
được thể hiện qua việc:
- Đối với các đối tượng chính sách: Đã tạo ra một kênh tín dụng được sử
dụng một cách hiệu quả cho những đối tượng, khu vực chính sách hơn các loại hình
cấp phát vốn hỗ trợ khác do:
+ Việc chuyển tải vốn được thực hiện theo phương thức cho vay có hoàn trả
nên nguồn vốn được người sử dụng vốn tính toán hiệu quả; vốn được sử dụng quay
vòng nhiều lần, giúp nhiều người được hưởng lợi từ nguốn tín dụng ưu đãi này. Mặt
khác, người vay vốn tìm cách sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh, tạo ra
thu nhập để cải thiện đời sống và trả được nợ.
+ Vốn cho vay giúp người vay vốn khắc phục tư tưởng tự ti, ỷ lại, tự nâng
cao năng lực sản xuất kinh doanh của mình tạo tiền đề hòa nhập sản xuất hàng hóa.
Từng bước giúp người dân nghèo tự vươn lên, nâng cao chất lượng cuộc sống của
mình, giảm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
- Đối với khu vực khó khăn, những ngành nghề, những doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực công cộng mà bản thân hoạt động đó không có lãi nhưng lại
rất cần cho sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có sự trợ giúp
thông qua việc cho vay vốn với điều kiện ưu đãi, tạo tiền đề cho các vùng kinh tế
kém phát triển do môi trường và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt có điều kiện tiếp
12
cận với nền kinh tế thị trường, rút ngắn khoảng cách lạc hậu với các ngành, vùng
kinh tế phát triển khác.

Thứ hai, làm lành mạnh hóa hệ thống tài chính – ngân hàng khi tách rời tín
dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại. Với xu thế cải tổ hệ thống NHTM
thuộc sở hữu Nhà nước theo hướng cổ phần hóa thì việc tách bạch tín dụng chính
sách ra khỏi tín dụng thương mại là một việc làm tất yếu vì bản thân các NHTM
không thể giành nổi chi phí để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính
sách khác. Việc tách bạch này sẽ trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các
ngân hàng, giúp các NHTM không còn phải chịu áp lực từ những khoản vay theo
chỉ định có rủi ro cao và chi phí lớn. Từ đó giúp các NHTM phát triển cả về chất
lượng cũng như quy mô, đồng thời việc sử dụng nguốn vốn của Nhà nước cho tín
dụng chính sách ngày càng có tính chuyện biệt, minh bạch và hiệu quả hơn.
1.1.4. Đặc trưng của NHCSXH
1.1.4.1. Về mục tiêu hoạt động
Khách hàng của NHCSXH phần lớn là những đối tượng hầu như không thể tiếp
cận được với vốn tín dụng thông thường của các NHTM. Do đó khả năng sinh lời từ
hoạt động cho vay những đối tượng khách hàng này của NHCSXH là rất thấp, thậm
chí không thể có được. Chính vì lẽ đó, các NHCSXH thường hoạt động không vì mục
tiêu lợi nhuận mà mục tiêu hoạt động của NHCSXH là nhằm xóa đói giảm nghèo:
- Đối với khu vực kinh tế nông thôn: hỗ trợ kinh tế hộ gia đình từng bước cải
thiện cuộc sống.
- Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã, các cơ sở sản xuất
kinh doanh của người tàn tật: cho vay để tạo việc làm.
- Đối với các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh thuộc những khu vực
kinh tế kém phát triển, vùng sâu, vùng xa: cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản
xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống.
- Đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn: cho vay trang trải các chi phí học tập.
Đây là điểm khác biệt rõ nét đối với hoạt động của các NHTM. Hoạt động
của NHTM là kinh doanh tiền tệ; Ngân hàng tồn tại và phát triển vì tạo ra một mức
13
chênh lệch dương giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Lợi nhuận được hình
thành từ nghiệp vụ này. Trong hoạt động của mình, các NHTM luôn quan tâm tới

lợi nhuận, tạo sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường đối với tất cả các dịch vụ mà
NHTM cung ứng.
1.1.4.2. Về đối tượng vay vốn
NHCSXH thực hiện cho vay các đối tượng khách hàng, các dự án phát triển,
các đối tượng đầu tư theo chỉ định của Chính phủ.
Đối tượng khách hàng của NHCSXH có thể là: hộ gia đình nghèo, hộ sản
xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nghèo và các đối tượng thụ hưởng chính sách
xã hội khác. Đây là những khách hàng rất ít có các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ
tín dụng của các NHTM; là các khách hàng dễ bị tổn thương, cần có sự hỗ trợ tài
chính từ Chính phủ và cộng đồng để vươn lên tự cải thiện điều kiện sống của chính
họ.
1.1.4.3. Về nguồn vốn
Trong khi hoạt động đặc trưng của các NHTM là huy động các nguồn vốn
nhàn rỗi để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế, thì nguồn vốn
của NHCSXH được tạo lập theo các hình thức như:
- Cấp vốn điều lệ và hàng năm được Ngân sách Trung ương, địa phương cấp
để thực hiện các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách theo vùng,
theo đối tượng.
- Nguồn vốn ODA dành cho chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ.
- Nguồn vốn của Chính phủ vay dân dưới các hình thức phát hành trái phiếu,
công trái hoặc từ Quỹ tiết kiệm bưu điện của Chính phủ để chỉ định thực hiện
chương trình tín dụng chính sách.
Do đặc điểm cơ cấu nguồn vốn có nguồn gốc hoặc phục thuộc vào Ngân
sách Nhà nước nên khối lượng nguồn vốn của NHCSXH tăng trưởng thường được
xác định theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt.
1.1.4.4. Về sử dụng vốn
14
Xuất phát từ đặc thù về đối tượng khách hàng vay vốn thường là những đối
tượng dễ bị tổn thương, gặp khó khăn, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém
phát triển, ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các NHTM … nên

NHCSCH cũng có những đặc thù về sử dụng vốn như:
- Món vay nhỏ, chi phí quản lý cao.
- Vốn tín dụng đầu tư mang tính rủi ro cao, chẳng hạn các hộ gia đình nghèo
thiếu vốn sản xuất, chủ yếu sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi môi
trường thiên nhiên bị tàn phá, thường xuyên xảy ra bão lụt, hạn hán. Mặc khác, bản
thân họ dân trí thấp, thiếu kiến thức làm ăn, trong sản xuất kinh doanh dễ bị thua lỗ.
Vì vậy, việc sử dụng vốn tín dụng dễ gặp rủi ro.
- Các quy định về đảm bảo tiền vay, các quy trình về thẩm định dự án, các
thủ tục và quy trình vay vốn, quy định mức đầu tư tối đa, thời hạn vay vốn, quy
định về trích lập và xử lý rủi ro, quy trình xử lý nghiệp vụ có những khác biệt so với
các quy định của NHTM.
- Thực thi các chính sách cho vay có ưu đãi như: ưu đãi về các điều kiện vay
vốn, ưu đãi về lãi suất cho vay…
- Thường áp dụng phương thức giải ngân ủy thác qua các tổ chức trung gian
như: các tổ chức tín dụng, các tổ chức chính trị - xã hội …
1.2. Hoạt động cho vay học sinh sinh viên của NHCSXH
1.2.1. Khái niệm cho vay học sinh, sinh viên
Theo lý thuyết kinh tế tiền tệ, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó
tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
(Điều 3 – Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam).
Cho vay là một hoạt động thường xuyên và chủ yếu của những tổ chức tín
dụng, nghiệp vụ cho vay đem lại phần lớn thu lãi cho tổ chức tín dụng.
15
Cho vay thể hiện ba mặt cơ bản:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang
người khác.
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.
- Khi hoàn trả lại giá trị đã chuyển giao phải bao gồm cả vốn gốc lẫn lãi.

Đối tượng cho vay rất đa dạng từ cá nhân, doanh nghiệp đến các tổ chức.
Từ quan điểm trên, khái niệm về cho vay HSSV được tổng kết lại như sau:
Cho vay HSSV là loại hình cho vay đối với đối tượng đặc biệt là HSSV có hoàn
cảnh khó khăn. Cho vay HSSV là việc NHCSXH sử dụng các nguồn lực tài chính do
Nhà nước huy động để cho vay HSSV đang học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên
nghiệp và học nghề vay nhằm mua sắm phương tiện học tập và các chi phí khác phục
vụ cho việc học tập tại trường.
1.2.2. Vai trò của cho vay học sinh, sinh viên
1.2.2.1. Đối với học sinh, sinh viên
- Cho vay HSSV giúp HSSV giải quyết những khó khăn trong thời gian học
tập tại trường để tiếp tục theo học, giải quyết những khó khăn cho cha mẹ HSSV
không phải đi vay nặng lãi để cho con em mình ăn học.
- Giúp HSSV xác định rõ trách nhiệm của mình trong quan hệ vay mượn,
khuyến khích người vay sử dụng vốn vào mục đích học tập tốt để sau này ra trường
có việc làm tạo thu nhập trả nợ ngân hàng.
1.2.2.2. Đối với xã hội
- Tín dụng đào tạo cho HSSV góp phần giảm tỷ lệ thất học, phục vụ cho sự
phát triển nền kinh tế tri thức, đào tạo những tài năng cho đất nước, tạo điều kiện phát
triển giáo dục đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Góp phần cân đối đào tạo cho các vùng miền và các đối tượng là người
vươn lên; giảm bớt dần sự thiếu hụt cán bộ, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về
dân trí, về kinh tế giữa các vùng miền, tạo ra khả năng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
16
xây dựng bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới, cải tạo đời sống của một bộ phận
HSSV, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, hạn chế được những mặt tiêu cực.
- Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường, Ngân hàng và HSSV. Nêu
cao tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong sinh hoạt và học tập, tạo
niềm tin của thế hệ trí thức trẻ vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
1.2.2.3. Đối với Ngân hàng
Trong quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo và thực hiện mục tiêu kinh tế -

chính trị - xã hội, nhận thấy việc cung cấp tài chính đối với HSSV thông qua hình
thức tín dụng là rất hiệu quả. Quá trình tập trung các nguồn vốn và chu chuyển qua
hình thức tín dụng đã tạo được một khối lượng vốn gấp nhiều lần để hỗ trợ HSSV,
đồng thời thông qua việc cung cấp vốn bằng hình thức tín dụng đã giúp HSSV
nghèo có điều kiện vươn lên học tập tốt, nhằm nâng cao địa vị xã hội.
1.2.3. Đặc trưng cơ bản của hoạt động cho vay đối với học sinh, sinh viên
Hoạt động cho vay đối với HSSV không thể giống như hoạt động tín dụng
thông thường mà nó phải chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:
Một là, đây là tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận.
Xuất phát từ mục tiêu của tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận
mà là góp phần thực hiện chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh
tế - chính trị - xã hội, thể hiện như sau:
- Về nguồn vốn: được Nhà nước hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn
hoạt động cho vay đối với HSSV.
- Về tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với HSSV: được Nhà nước chỉ
định hoặc do Nhà nước thành lập.
- Về mục tiêu của cho vay đối với HSSV: Giúp HSSV đóng học phí và các
chi phí liên quan đến học tập từ đó HSSV có điều kiện vươn lên trong học tập.
Hai là, tín dụng theo hướng thương mại nhưng không phải là thương mại
thuần túy.
17
Vì tín dụng đối với HSSV cũng cần tồn tại lâu dài và phát triển bền vững,
điều đó chỉ có thể thực hiện được khi nó tuân theo tính quy luật vốn có của nó và có
cơ chế để hướng tới tự chủ về nguồn vốn, bảo toàn vốn và phát triển được vốn.
Tín dụng chỉ định và bao cấp nặng nề tự nó sẽ không tồn tại và phát triển
được mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn và tài trợ từ bên ngoài dẫn đến sẽ
gặp khó khăn trong hoạt động.
Bao cấp tín dụng tự nó đã làm méo nó các cơ chế tín dụng như cho vay chỉ
định do vay cần phải qua nhiều cấp xét duyệt, quyết định cho vay chủ yếu dựa vào
chính quyền các cấp, sự luân chuyển vốn và huy động vốn là không thường xuyên.

Chính vì những lý do như trên mà tín dụng Ngân hàng đối với HSSV cũng
phải theo hướng thương mại nhưng không phải là thương mại thuần túy mà phải có
lộ trình cho từng giai đoạn theo sự phát triển chung của xã hội.
Ba là, người vay vốn không phải là người trực tiếp sử dụng vốn vay.
Trong các chương trình tín dụng thông thường, người vay vốn sẽ là người
trực tiếp điều hành nhận nợ và sử dụng vốn đã vay. Khác với các chương trình tín
dụng thông thường, NHCSXH cho HSSV vay vốn thông qua hộ gia đình, người
đứng ra vay vốn và trực tiếp nhận nợ là hộ gia đình, nhưng hộ gia đình không phải
là người trực tiếp sử dụng đồng vốn đã vay, mà hộ gia đình lại chuyển số tiền vốn
vay này cho con, em mình sử dụng phục vụ cho việc học tập như nộp học phí, ăn ở,
đi lại và chi phí học tập cho HSSV trong thời gian học tập tại trường.
Người trực tiếp vay vốn và trả nợ cho ngân hàng là cha mẹ HSSV, nhưng
nguồn thu nhập chính để trả nợ là nguồn thu nhập của HSSV sau khi ra trường có
việc làm.
Tuy nhiên, đối tượng vay vốn chương trình tín dụng HSSV là những hộ
nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy, ngoài vay vốn từ chương trình tín dụng
HSSV, các hộ gia đình còn có thể đủ điều kiện và được vay vốn để sản xuất kinh
doanh từ các chương trình tín dụng khác như chương trình cho vay hộ nghèo,
18

×