Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

công tác huy động vốn tại ngân hàng tmcp bắc á – chi nhánh thăng long, thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (312.38 KB, 53 trang )

Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại cổ phần là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ, nhiệm vụ thường xuyên và chủ yếu là huy động vốn, cho vay
và cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
Đối với hoạt động ngân hàng vốn là chủ yếu quyết định mọi hoạt động kinh
doanh. Thực tế tại các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay vốn tự có chỉ
chiếm một tỷ lệ nhỏ còn lại là vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác. Trong
đó vốn huy động luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và ổn định nhất. Do vậy có thể
khẳng định vốn huy động hay công tác huy động vốn có vai trò to lớn quyết
định đến khả năng hoạt động và phát triển của ngân hàng.
Tại Việt Nam hiện nay huy động vốn hay là việc khai thác lượng tiền nhàn
rỗi trong công chúng hộ gia đình, của các tổ chức kinh tế xã hội hay tổ chức
tín dụng khác của ngân hàng thương mại còn nhiều vấn đề cần giải quyết.
Làm sao để giảm chi phí, có quy mô ổn định, phù hợp trong việc tài trợ cho
các danh mục tài sản, tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng, giúp ngân hàng
giảm thiểu rủi ro. Do đó việc tăng cường huy động vốn với chi phí hợp lý và
ổn định cao là yêu cầu ngày càng trở nên cấp thiết và quan trọng đối với ngân
hàng.
Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã và đang khẳng định vị trí và vai
trò của ngân hàng thương mại,với những nghiệp vụ không ngừng được cải
thiện và mở rộng cho phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và cung cấp các
dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư. Việc làm này của các ngân hàng
thương mại đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đẩy mạnh xuất khẩu,
đầu tư sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa công nghệ, mở rộng quy mô sản
xuất, góp phần thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa. Để có thể thực hiện
tất cả các nghiệp vụ trên ngân hàng phải có nguồn vốn. Vốn huy động trở
thành nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng. Với sự xuất hiện
của các tổ chưc tài chính nước ngoài, tổ chức tài chính mới trong nước như
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính


bảo hiểm hay chứng khoán làm cho nguồn vốn chảy và ngân hàng ngày càng
giảm dần. Chính vì thế muốn tồn tài và đứng vững trong môi trường mới, các
ngân hàng luôn luôn cần có nguồn vốn dồi dào. Khi đó huy động vốn trở
thành biện pháp hữu hiệu cho ngân hàng thương mại thực hiện chiến lược của
mình.
Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á qua 18 năm hoạt động đã đạt được
những thành tựu đáng kể cả trong công tác huy động vốn, cả trong công tác
tín dụng. Ngân hàng đã và đang không ngừng nâng cao chất lượng vốn huy
động để nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập Quốc Tế.
Chính vì thế Em đã quyết định chọn đề tài “ Công tác huy động vốn tại ngân
hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh Thăng Long, thực trạng và giải pháp” để
làm luận văn tốt nghiệp.
Kết cấu bài luận văn của Em chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về NHTM và hoạt động huy động vốn
của NHTM
Chương 2: Thực trạng của công tác huy động vốn của
NHTMCP Bắc Á - chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại
NHTMCP Bắc Á chi nhánh Thăng Long
Để hoàn thành bài luận văn này, ngoài cố gắng của bản thân, Em đã nhận
được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo là Thạc Sĩ Đặng Thị Ái,
đồng thời là sự giúp đỡ của anh chị nhân viên của ngân hàng TMCP Bắc Á –
chi nhánh Thăng Long. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo và các
anh chị nhân viên đã giúp đỡ Em trong thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Chương 1: Tổng quan về NHTM và hoạt động huy động
vốn của NHTM
1.1. Tổng quan về NHTM

1.1.1.Khái niệm về NHTM
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ, tín dụng – Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền
kinh tế. Việc tạo lập, tổ chức và quản lý vốn của NHTM là một trong những
vấn đề quan tâm hàng đầu không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các NHTM
mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế. Có nhiều khái niệm khác nhau
về Ngân Hàng Thương Mại:
Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: Ngân hàng thương
mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu
là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng l0/1998:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Nghị định của Chính phủ số 49/20001NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi
nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước ".
Theo luật Tổ Chức Tín Dụng năm 2010: Ngân hàng thương mại là loại
hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
1.1.2.Các hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.2.1. Hoạt động tạo lập vốn
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Cũng như những doanh nghiệp khác hoạt động kinh doanh phải có vốn. Tạo
lập vốn là nhiệm vụ quan trong của NHTM. Ngoài số vốn tự có được hình
thành từ vốn điều lệ, quỹ dự trữ và lợi nhuận giữ lại thì các ngân hàng thương
mại còn tạo lập vốn thôn qua việc huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi
trong xã hội.

Nghiệp vụ tạo lập vốn là một trong những nghiệp vụ cơ bản của NHTM.
NHTM đã “góp nhặt” nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức
bằng tiền hoặc bằng vàng được huy động thông qua các hình thức: tiền gửi,
phát hành giấy tờ có giá, vốn đi vay NHNN hoặc TCTD khác.
Ngân hàng mở các dịch vụ nhận tiền gửi để đảm bảo hộ người gửi tiền với
cam kết hoàn trả đúng hạn. Để tìm và thu hút các khoản tiền gửi các ngân
hàng thương mại thường đưa ra những mức lãi suất huy động khá hấp dẫn,
kèm theo các chương trình khuyến khích gửi tiền như phần thưởng cho khách
hàng gửi tiền. Sau khi thu hút vốn ngân hàng sẽ “ gián tiếp” thu “phí” thông
qua thu nhập của việc sử dụng khoản tiền đó.
Hoạt động vốn là hoạt động cơ sở cũng như tiền đề cho hoạt động cho vay.
Bất kỳ một ngân hàng nào muốn cho vay được đều phải đi huy động vốn. Huy
động vốn vừa sinh lời cho các cá nhân, tổ chức gửi tiền cũng vừa tạo nguồn
vốn cho chính ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Cùng với huy động vốn, cho vay là hoạt động quan trọng và mang tính truyền
thống của NHTM. Theo quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN ngày
31/12/2001 của Thống Đốc NHNN: “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng
theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có
hoàn trả gốc và lãi”
Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động
cho vay, ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động từ trong xã hội để đáp ứng
nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống
Hoạt động cho vay một mặt mang lại thu nhập cho ngân hàng, mặt khác
chứa đựng rủi ro cho ngân hàng. Nếu cho vay một cách có hiệu quả sẽ bù đắp
được chi phí huy động vốn và thu được lợi nhuận. Ngược lại nếu cho vay

không hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và tính chất an
toàn của hệ thống ngân hàng. Do vậy, yêu cầu các ngân hàng thương mại phải
xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng đúng đắn và không ngừng đa dạng
hóa các loại hình cho vay.
1.1.3.3. Các dịch vụ của ngân hàng
Bên cạnh hoạt động tạo lập vốn, sử dụng vốn ngân hàng còn cung cấp nhiều
dịch vụ khác như: dịch vụ mua bán ngoại tệ, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ quản lý
ngân qũy, bảo quản vật có giá, cho thuê tài sản …
- Dịch vụ mua bán ngoại tệ:
Dịch vụ mua bán ngoại tệ được ngân hàng thực hiện, ngân hàng đứng ra
mua và bán một loại tiền này chẳng hạn VNĐ, USD để lấy một loại tiền khác
như EURO, JYP … và hưởng phí dịch vụ
Có các phương thức mua bán ngoại tệ như: hợp đồng mua bán trao ngay,
hợp đồng mua bán có kỳ hạn, hợp đồng mua bán tương lai, hợp đồng mua bán
quyền chọn,
- Dịch vụ bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD ( bên bảo lãnh) với
bên có quyền ( bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay
cho khách hàng ( bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hay
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách
hàng phải nhận nợ và trả nợ cho TCTD số tiền đã được trả thay.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Trong thương mại quốc tế, Bảo lãnh ngân hàng được xem như loại hình tài
trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo
lãnh do sự vi phạm nghĩa vụ của các bên đối tác có liên quan.
Có nhiều loại bảo lãnh được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
+ Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh, bảo lãnh được chia làm hai
loại là bảo lãnh trực tiếp và bảo lãnh gián tiếp.
+ Căn cứ vào mục đích bảo lãnh có bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán,

bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng
sản phẩm, bảo lãnh hoàn thanh toán và các loại bảo lãnh khác.
- Dịch vụ kinh doanh vàng, bạc, đá quý:
Các ngân hàng thương mại thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh về vàng bạc,
đá quý theo quy định của ngân hàng trung ương. Do đặc thù riêng của nghiệp
vụ này, NHTM phải tổ chức bộ phận kinh doanh riêng. Các nghiệp vụ kinh
doanh như:
+ Gia công chế tác vàng, bạc, đá quý
+ Mua bán vàng, bạc, đá quý
+ Cho vay kim loại quý
- Dịch vụ kinh doanh chứng khoán
Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng phải tổ chức bộ phận kinh doanh riêng
hoặc có thể thành lập công ty chứng khoán phụ thuộc. Các công ty chứng
khoán có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau về chứng khoán như: Môi
giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục vốn đầu tư, tư vấn đầu
tư chứng khoán.
Khi thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán, ngân hàng phải tuân theo
những quy định của ngân hàng nhà nước
Ngoài ra ngân hàng thương mại còn có những dịch vụ khác như: dịch vụ
ngân quỹ, dịch vụ quản lý tài sản có giá, dịch vụ thông tin tư vấn…
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.2. Hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1. Các hình thức huy động vốn của NHTM
Vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền ( nội tệ và ngoại tệ) và
bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận: Vốn huy động từ tiền gửi và vốn
huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá.
1.2.1.1. Vốn huy động từ tiền gửi
Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khác nhau
cho khách hàng lựa chọn. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân hàng

đưa ra đều có đặc điểm riêng làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu của
khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Căn cứ vào nguồn
hình thành, vốn tiền gửi của các NHTM bao gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế,
tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác.
- Tiền gửi của tổ chức kinh tế:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ
phận vốn nhàn rỗi tạm thời như: Khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử
dụng; Tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên liệu, trả lương; Các quỹ
đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến
… Để đảm bảo an toàn tài sản và đồng vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh
tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho quá trình sử
dụng vốn đơn vị có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các
dịch vụ khác của ngân hàng. Khi đó, họ cần phải gửi vốn vào ngân hàng.
Tổ chức kinh tế có thể gửi vốn vào ngân hàng dưới các hình thức: Tiền gửi
không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau. Đồng thời
ngân hàng sẽ mở cho đơn vị các tài khoản tương ứng để thuận tiện trong
việc sử dụng.
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là tiền gửi mà người gửi
có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng có nghĩa vụ phải thỏa mãn nhu
cầu đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính

Đối với tiền gửi không kỳ hạn, mặc dù việc gửi và rút tiền có thể thực hiện
bất cứ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước, nhưng trên thực tế luôn có
sự chênh lệch về thời gian và số lượng giữa việc gửi tiền và rút tiền, cho
nên tại mỗi ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi không kỳ hạn và
ngân hàng có thể sử dụng để cho vay. Lãi suất loại tiền gửi này thường
thấp, thậm chí có những khoản tiền ngân hàng không phải trả lãi. Cho nên
nguồn vốn này giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả

năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi có sự thỏa thuận về
thời gian rút tiền. Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút theo thời
hạn đã thỏa thuận, song trên thực tế để thu hút khoản tiền gửi này với kỳ
hạn dài các ngân hàng thường cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng
khách hàng chỉ được hưởng lãi suất theo lãi suất không kỳ hạn hoặc hưởng
mức lãi suất tương ứng theo kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định.
Nguồn vốn này có độ ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình
sử dụng. Vì vậy, để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân
hàng thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian
nhàn rỗi vốn của mỗi đơn vị, mỗi kỳ hạn có mức lãi suất tương ứng theo
nguyên tắc kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao.
- Tiền gửi của dân cư: Tiền gửi của dân cư là bộ phận thu nhập bằng tiền
của tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết
kiệm, kiếm lời và để thanh toán. Tiền gửi của dân cư bao gồm hai loại:
Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán
+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân
hàng. Với loại tiền này, người gửi được ngân hàng giao cho một sổ tiết
kiệm, trong thời gian gửi tiền, sổ tiết kiệm đó có thể dùng làm vật cầm cố
hoặc được chiết khấu để vay vốn ngân hàng.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau.
+ Tiền gửi thanh toán: Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được
pháp luật cho phép thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Khi đó họ cũng
mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại các ngân hàng và gửi tiền vào đó để
đáp ứng nhu cầu thanh toán cũng như để sử dụng các tiện ích khách có liên
quan của ngân hàng
Giống như tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi

thanh toán của dân cư tạo nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương
mại
Trên thực tế tiền gửi của dân cư luôn chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng
vốn huy động của ngân hàng. Để khai thác nguồn vốn này, các ngân hàng
luôn chú trọng trong việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như:
Huy động bằng vàng, tiết kiệm xât dựng nhà ở, tiết kiệm một nơi nhưng
lĩnh nhiều nơi với lãi suất hợp lý …
- Tiền gửi khác: Ngoài hai loại tiền gửi trên tại các ngân hàng thương mại
còn có thêm các loại tiền gửi khác như:
+ Tiền gửi của TCTD khác
+ Tiền gửi của kho bạc nhà nước
+Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội
1.2.1.2. Vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá
Đây là nguồn vốn mà NHTM có được thông qua phát hành giấy tờ có giá
như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi …
Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi là các
tổ chức, cá nhân. Ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập tạm
thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây là một kênh đầu tư của
người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng hay cơ hội đầu tư trực
tiếp. Các giấy tờ này có khả năng chuyển đổi dễ đàng sang tiền khi cần
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
thiết bằng cách bán, chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại
ngân hàng.
Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có
khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn
toàn chủ động trong sử dụng vốn. Hình thức này thường được thực hiện
khi ngân hàng tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải
ngân nhanh của khách hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử
dụng vốn trong toàn hệ thống mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của

Thống Đốc ngân hàng trung ương.
1.2.1.3. Vốn đi vay
Trong quá trình kinh doanh của NHTM luôn có tình trạng thừa hoặc thiếu
vốn, đó là khi huy động nhưng chưa cho vay hết, hay khi khách hàng có
nhu cầu vay lớn nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoặc người gửi tiền rút
tiền trước thời hạn trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi. Khi đó
các NHTM có thể gửi các TCTD để hưởng lãi, hya đi vay để tận dụng cơ
hội kinh doanh hoắc đảm bảo khả năng thanh toán. NHTM có thể vay vốn
ở các TCTD khác hoặc vay vốn ở NHTW
- Vốn vay của TCTD khác
Hầu hết các NHTM được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều chi nhánh và
hạch toán toàn ngành, thực hiện điều chuyển giữa các chi nhánh qua hội sở
chính, khi thừa vốn các chi nhánh về hội sở chính, khi thiếu vốn các chi
nhánh được nhậ vốn điều chuyển từ hội sở chính. Vì vậy việc vay vốn của
TCTD khác trong và ngoài nước thường chỉ thực hiện ở ngân hàng trung
ương của từng hệ thống.
- Vốn vay của NHTW
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, và là ngân hàng
cho vay cuối cung của các ngân hàng trong nền kinh tế. Vì vậy, các
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
NHTM có thể được NHTW cho vay vốn khi cần thiết. Ở Viết Nam hiện
nay NHNN cho các NHTM vay vốn ngắn hạn dưới các hình thức:
+ Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác
+ Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn
hạn khác
Ngoài ra NHNN còn cho NHTM vay bổ sung thiếu hụt trong thanh toán
bù trừ. Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ Tướng chính phủ chấp
thuận, NHNN còn cho vay đối với những ngân hàng tạm thời mất khả

năng chi trả có nguy cơ gấy mất an toàn cho toàn hệ thống.
Vốn vay từ TCTG khác và vay từ NHTW thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng vốn kinh doanh của NHTM, cho nên ngoài tác dụng góp phần gia
tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng, nó còn có ý nghĩa
trong việc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu
suất sử dụng vốn của NHTM.
Bên cạnh những nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động NHTM
còn có thể tạo lập vốn của mình từ nhiều nguồn khác nhau:
+ Vốn trong thanh toán
+ Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hay của các tổ chức trong
nước hay ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội.
Các nguồn vốn này của ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử dụng
đôi khi rất ngắn, nhưng điều đáng quan tâm là nguồn vốn này ngân hàng
không phải tố kém chi phí huy động, nhưng lại có điều kiện phát triển các
nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng khác, phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách
hàng.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.2.2. Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh
của NHTM
Trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có
vốn, Vốn là nhân tố chủ yếu quyết định đến khả năng; quy mô hoạt động
của ngân hàng.
Ngân hàng có nguồn vốn kinh doanh lớn cho phép mở rộng các hình thức
kinh doanh hay giúp cho các ngân hàng giảm thiểu rủi ro, gia tăng lợi
nhuận. Vốn kinh doanh của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động.
Vốn huy động có vai trò hết sức to lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Vốn huy động quy định đến phạm vi, quy mô và khả năng mở rộng hoạt

động kinh doanh của NHTM
Vốn huy động của ngân hàng càng lớn thì khả năng mở rộng mạng lưới chi
nhánh, địa bàn hoạt động càng lớn. Khi có vốn trong tay, việc đa dạng hóa
các sản phẩm dịch vụ, tìm kiếm các sản phẩm dịch vụ mới cũng trở nên dễ
dàng. Còn riêng đối với hoạt động tín dụng và đầu tư nói riêng thì vốn lại
càng đặc biệt có ý nghĩa. So với ngân hàng lớn thì ngân hàng nhỏ có khoản
mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng của các
ngân hàng này cũng hạn chế hơn. Thêm vào đó là khả năng vốn hạn hẹp
nên ngân hàng không phản ứng nhạy bén với biến động lãi suất, gây ảnh
hưởng đến khả năng hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế, đồng thời
khó có thể mở rộng được cơ sở vật chất hạ tầng, công nghệ để tăng khả
năng cạnh tranh, cũng như việc đầu tư vào các danh mục dài hạn, tham gia
thị trường chứng khoán trong điều kiện như hiện nay.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn
của ngân hàng thương mại.
1.3.1. Nhân tố khách quan
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.3.1.1. Môi trường pháp luật – chính trị
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sự giám
sát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng của Chính Phủ. Môi
trường pháp lý sẽ đem đến cho ngân hàng một loạt các cơ hội mới và thách
thức mới cho hoạt động ngân hàng. Cụ thể như việc Nhà nước ban hành
những chính sách liên quan đến hoạt động ngân hàng như quy định chính sách
tiết kiệm, chính sách lãi suất, chính sách thu hút vốn. Khi những chính sách
này có thay đổi nó ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của NHTM
Không một quốc gia nào phát triển mà môi trường chính trị không ổn định.
Sự ổn định chính trị có tác động mạnh mẽ đến quan hệ vốn của các ngân hàng
với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Ổn định chính trị tạo
điều kiện thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, từ đó tạo điều kiện

cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Điều này càng quan trọng hơn
khi Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO.
1.3.1.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế cóa tác động mạnh mẽ đến công tác huy động vốn của
NHTM. Trong nền kinh tế tăng trưởng cao mới có tích lũy trong doanh
nghiệp và dân cư. Do đó tiền gửi vào các NHTM mới gia tăng. Ngoài ra trong
một nền kinh tế tăng trưởng thì công nghệ ngân hàng được hiện đại hóa,
người dân có thói quen sử dụng những tiện ích do ngân hàng cung ứng.
Nghiệp vụ thanh toán chủ yếu thực hiện thông qua ngân hàng, từ đó ngân
hàng thu được nhiều khoản vốn
Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát thất nghiệp
tăng. Hoạt động của các doanh nghiệp giảm sút. Từ đó thu hút vốn không
thuận lợi ảnh hưởng đến cơ cấu và chất lượng vốn của ngân hàng.
Lạm phát cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác huy động
vốn của ngân hàng. Lạm phát cao hay biến động cao làm cho đồn tiền mất
giá. Người dân không gửi tiền vào ngân hàng mà đổi sang dữ trữ bằng hình
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
thức khác. Điều này làm giảm khoản mục tiền gửi của NHTM, NHTM phải
bỏ chi phí cao hơn trong khi nguồn huy động không ổn định làm cho chất
lượng nguồn vốn của ngân hàng giảm sút.
1.3.1.3. Môi trường văn hóa – xã hội
Đây cũng là một nhân tố khách quan ảnh hưởng đến huy động vốn của ngân
hàng. Một môi trường văn hóa – xã hội tốt con người có xu hướng gửi tiền
vào ngân hàng nhiều hơn
Ngoài ba nhân tố trên môi trường công nghệ cũng tác động đến hoạt động huy
động vốn. Những thay đổi và tiến bộ trong công nghệ ứng dụng vào ngân
hàng cho phép ngân hàng đổi mới lớn trong hoạt động chung và đặc biệt là
hoạt động huy động vốn. Công nghệ tiên tiến mang lại tiện ích thiết thức cho
hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ khách hàng.

1.3.2. Nhân tố chủ quan
1.3.2.1. Từ phía khách hàng
Yếu tố liên quan đến khách hành là những yếu tố về tâm lý của người dân
trong việc sử dụng tiện ích của ngân hàng, độ tín nhiệm của người dân vào
ngân hàng, thói quen gửi tiền, thói quen tiết kiệm, sở thích về tiêu dùng …
Điều này có thể thấy qua việc so sánh giữa các nước khác nhau.
Những nước có nền kinh tế hàng hóa phát triển thì ngân hàng trở nên gần gũi
hơn với công chúng và việc sử dụng những tiện ích ngân hàng mang lại trở
nên thường xuyên hơn.
1.3.2.2. Từ phía ngân hàng
* Chính sách lãi suất huy động vốn và các dịch vụ đi kèm
Lãi suất là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn của ngân
hàng thương mại. Khi người dân gửi tiền vào ngân hàng hy vọng tiền được an
toàn và thu được khoản lãi nhất định. Vì thế ngân hàng phải có mức lãi suất
hợp lý nhằm thu hút khách hàng gửi tiền. Hiện nay hầu hết các ngân hàng để
thu hút tiền gửi đều có mức lãi suất linh hoạt, chia nhỏ lãi suất theo nhũng kỳ
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
hạn khác nhau. Ngoài ra, khách hàng còn quan tâm đến những lợi ích của
mình khi gửi tiền như các quà tặng, được tham gia bốc thăm trúng thưởng …
* Chính sách, chiến lược trong huy động vốn
Chính sách chiến lược này được ngân hàng xác định dựa trên việc xác định vị
trí của mình trong hệ thống. Thấy được điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức
mình đang gặp phải. Từ đó dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh
doanh và các nguồn được khai thác tối đa. Giúp cho hoạt động huy động vốn
phát huy tối đa hiệu quả
* Trình độ quản lý và đội ngũ cán bộ nhân viên
Nếu ngân hàng có đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực quản lý về mặt nhân
sự thì trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Ngân hàng dự đoán
được rủi ro xảy ra, dự đoán được một môi trường đầu tư của mình có hiệu quả

hay không, nắm bắt được những biến động của thị trường một cách nhanh
chóng để có thể tư vấn cho khách hàng của mình nên đầu tư vào đâu hiệu quả
nhất. Mặt khác, do quản lý tốt nên trong quá trình hoạt động ngân hàng đảm
bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, từ đó có điều kiện thu hút khách hàng gửi
tiền cũng như vay vốn.
* Mạng lưới phục vụ
Mạng lưới hoạt động rộng rãi và phù hợp với điều kiện kinh tế sẽ thuận lợi
hơn trong huy động vốn
* Các hình thức huy động
Để thu hút tối đa các nguồn vốn trong nền kinh tế thì NHTM đac đa dạng hóa
các hình thức huy động và các nguồn huy động phong phú hơn.
Ngoài những yếu tố nêu trên con có nhưng yếu tố liên quan đến thông tin, uy
tín của ngân hàng, những tiện ích trong thanh toán …
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Chương 2: Thực trạng của công tác huy động vốn của
ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh Thăng Long
2.1. Tổng quan về ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh
Thăng Long
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP – chi nhánh
Thăng Long
Ngân hàng TMCP Bắc Á chi nhánh Thăng Long là một chi nhánh cấp 1
của ngân hàng TMCP Bắc Á. Được thành lập năm 2005, ban đầu thành lập là
một chi nhánh cấp 2 trực thuộc ngân hàng TMCP chi nhánh Hà Nội. Và đến
năm 2008 được nâng cấp thành chi nhánh cấp 1 của ngân hàng TMCP Bắc Á.
Ngân hàng TMCP Bắc Á - chi nhánh Thăng Long( gọi tắt là chi nhánh
Thăng Long) có trụ sở đặt tại 337 đường Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội.
Chi nhánh Thăng Long có 2 phòng giao dịch và 2 quỹ tiết kiệm: Bao
gồm
+ Phòng giao dịch Cát Linh: Địa chỉ 10A Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội

+ Phòng giao dịch Hào Nam: Địa chỉ 139 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
+ Quỹ tiết kiệm Trường Chinh: Địa chỉ 22 Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà
Nội
+ Quỹ tiết kiệm Đền Lừ: Địa chỉ 382 lô 6, Đền Lừ II, Hoàng Văn Thụ,
Hoàng Mai, Hà Nội.
Chi nhánh Thăng Long có khoảng 52 nhân viên, bao gồm cả ban quản lý,
các nhân viên đều có trình độ đại học và trên đại học.
Chi nhánh Thăng Long là chi nhánh cấp 1 của Ngân Hàng TMCP Bắc Á.
Thực hiện các chức năng chính là huy động vốn và cho vay. Là một tổ chức
trung gian tài chính kinh tế. Thực hiện nhiệm vụ thu hút vốn bằng các loại
tiền gửi, sau đó dùng vốn này để cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, đầu
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
tư, thực hiện các hoạt động dịch vụ như thanh toán, bảo lãnh,… nhằm thu
được chênh lệch và hoạt động có hiệu quả.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh Thăng
Long
 Chức năng nhiệm vụ của các phòng:
• Phòng tín dụng:
– Thực hiện nghiệp vụ về cho vay, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu,
thanh toán L/C …
– Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề
xuất chính sách ưu đãi với từng loại khách hàng nhằm mở rộng đầu tư và tín
dụng.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01

GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG GIAO DỊCH
QUỸ TIẾT

KIỆMCHI NHÁNH
PHÒNG
KIỂM
SOÁT
PHÒNG
TỔ CHỨC
HÀNH
CHÍNH
PHÒNG
NGUỒN
VỐN VÀ
NGÂN QUỸ
PHÒNG
KẾ
TOÁN
PHÒNG
TÍN
DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
– Xây dựng kế hoạch cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng VNĐ,
ngoại tệ theo từng tháng, từng quỹ, từng năm theo quy định.
– Có nhiệm vụ đôn đốc khách hàng khi đến hạn trả lãi, nói chuyện trực tiếp
với khách hàng thậm chí đưa ra các phương pháp giúp khách hàng kinh doanh
có hiệu quả
– Tiếp nhận các dự án đồng tài trợ và các dự án ủy thác đầu tư của ngân
hàng. Triển khai các dự án đầu tư bằng vốn chỉ định, ủy thác của Chính Phủ,
của tổ chức tài chính, của cá nhân trong và ngoài nước.
– Tổng hợp, phân tích thong tin kinh tế, quản lý danh mục, phân loại khách
hàng co quan hệ tín dụng
– Tổ chức thực hiện về rủi ro tín dụng

– Chấp nhận các báo cáo thống kê, kiểm tra nghiệp vụ theo quy định
– Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc giao
• Phòng nguồn vốn và ngân quỹ
– Thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu là tiếp nhận khách hàng, hướng dẫn
khách hàng làm thủ tục gửi tiền tiết kiệm hay thực hiện các chương trình
khuyến mãi, dự thưởng của ngân hàng đề ra.
– Trực tiếp nhận tiền mặt, kiểm tra tiền mặt, phân loại mệnh giá tiền mặt
đồng thời xuất tiền mặt ra theo yêu cầu
– Chủ động khắc phục sự cố nếu có xảy ra
– Thực hiện trích nộp ngân sách theo luật thuế hiện hành của nhà nước
– Thực hiện các nghiệp vụ về kho quỹ
• Phòng hành chính
– Công tác tổ chức cán bộ
+ Tham mưu cho ban giám đốc về việc tiếp nhận, tuyển dụng, bổ nhiệm,
miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật …
+ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hàng năm và thực hiện triển
khai kế hoạch đó
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
– Công tác hành chính và quản trị
+ Xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác hành chính, quản trị, xây dựng
cơ bản, ,mua sắm tài sản, công cụ,vật liệu, thực hiện về điện nước, điện thoại

+ Thực hiện quản lý con dấu của cơ quan, thực hiện công tác văn thư, lưu
trữ, sao chụp tài liệu, chuyển nhận telex … quản lý tài liệu theo quy định của
nhà nước và bảo quản tài liệu dự trữ tại kho
• Phòng kiểm soát
– Giám sát việc chấp hành thực hiện các nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, như thực hiện công việc trong quá trình làm thủ tục để giải
ngân các khoản tín dụng đã được yêu cầu phê duyệt cho khách hàng

– Là đầu mối phối hợp với các đoàn thanh tra, cơ quan thanh tra, cơ quan
pháp luật, cơ quan kiểm toán trong việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với
hoạt động của chi nhánh
• Phòng kế toán
– Thực hiện việc thanh toán giao dịch với khách hàng, quản lý các tài khoản
của khách hàng, hạch toán kế toán các hoạt động thu chi của khách hàng và
ngân hàng.
– Tổ chưc hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như cho vay, nhận tiền
gửi, bảo lãnh hay chiết khấu các giấy tờ có giá … và theo dõi các nghiệp vụ
kinh doanh khác của ngân hàng theo quy đinh hiện hành.
– Tổ chức quản lý hệ thống máy chủ, hệ thống truyền tin giữa ngân hàng và
phòng ban nội bộ trong ngân hàng, các chi nhánh ngân hàng khác cùng hệ
thống
– Thực hiện công tác thanh toán điện tủ trong nội bộ ngân hàng, thanh toán
bù trừ điện tử với NHNN và NHTM trên địa bàn, thanh toán nối mạng với
khách hàng
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
– Xây dựng kế hoạch tài chính, quyết toán thu chi theo chế độ kế toán của
ngân hàng thương mại cổ phần BẮC Á
– Bảo quản chứng từ kế toán chưa đến hạn vào kho lưu trữ
– Thực hiện các lệnh do ngân hàng chuyển đến. Và thực hiện các nhiệm vụ
khác theo quy định
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Bắc Á – chi
nhánh Thăng Long trong năm 2009 – 2011
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh Thăng
Long đã không gặp ít khó khăn nhưng bên cạnh cũng có nhiêu thuận lợi nhất
định. Cùng với việc khắc phục những khó khăn và nắm bắt những cơ hội để
từ đó đề ra những mục tiêu, bước đi và giải pháp phù hợp Ngân Hàng đã có
những kết quả nhất định sau:

+ Trong công tác huy động vốn:
Bảng 1: Tình hình nguồn vốn huy động
( Đơn vị tính: Triệu đồng)
Chỉ Tiêu Năm
2009
Năm
2010
2010/2009 Năm
2011
2011/2010
Số tiền
( +/-)
% Số tiền
( +/-)
%
Tổng Nguồn Vốn
huy động
603.837 681.194 77.357 12,81 784.374 103.180 15,15
Nguồn nội tệ 525.338 588.180 62.842 11,96 682.405 94.225 16.02
Nguồn ngoại tệ 78.499 93.014 14.515 18,49 101.969 8.955 9,63
( Nguồn: Báo cáo huy động vốn ngân hàng TMCP Bắc Á Thăng
Long năm 2009-2011)
Nhận xét: Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy Tổng nguồn vốn huy động
năm 2010 so với năm 2010 tăng 77.357 triệu đồng tuơng ứng với 12,81%.
Trong đó nguồn vốn nội tệ tăng 62.842 triệu đồng tương ứng 11,96 %,
nguồn vốn ngoại tệ tăng 14.515.triệu đồng tương ứng 18,49 %. Tổng
nguồn vốn huy động năm 2011 so với năm 2010 tăng 103.180 triệu đồng
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
tương ứng 15,15%, Trong đó nguồn vốn nội tệ tăng 94.225 triệu đồng

tương ứng với 16,02 %, nguồn vốn ngoại tệ tăng 8.955 triệu đồng tương
ứng 9,63%. Cả nguồn vốn huy động bằng nội tệ( VNĐ) và ngoại tệ đều
tăng nhưng ở các năm nguồn huy động bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng cao
đều hơn 80% so với tổng nguồn vốn huy động. Điều này là do ngân hàng
nằm ở địa bàn là nội địa nên nguồn vốn bằng VNĐ vẫn chiếm ưu thế hơn.
+ Công tác tín dụng:
Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ Tiêu Năm
2009
Năm
2010
2010/2009 Năm
2011
2011/2010
Số tiền
( +/-)
% Số tiền
( +/-)
%
Tổng dư nợ 115.045 127.147 12.102 10,52 140.356 13.209 10,39
Dư nợ ngắn hạn 90.531 101.446 10.915 12,06 113.689 12.243 12,07
Dư nợ trung hạn 14.955 16.129 1.174 7,85 16.815 686 4,25
Dư nợ Dài hạn 9.559 9.572 13 0,135 9.852 280 2,92
(Nguồn: Báo cáo tín dụng ngân hàng TMCP Bắc Á Thăng Long 2009-2011)
Nhận xét: Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy Tổng dư nợ cho vay năm
2010 so với năm 2009 là 12.102 triệu đồng tuơng ứng với 10,52%. Trong
đó dư nợ cho vay ngắn hạn tăng 10.915 triệu đồng tương ứng với 12,0%,
dư nợ cho vay trung hạn tăng 1.174 triệu đồng tương ứng 7,85%, dư nợ
cho vay dài hạn tăng 13 triệu đồng tương ứng 0,135%. Tổng dư nợ cho

vay năm 2011 so với năm 2010 tăng 13.209 triệu đồng tuơng ứng với
10,39 %. Trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn tăng 12.243.triệu đồng tương
ứng 12,07 %, dư nợ cho vay trung hạn tăng 686 triệu đồng tương ứng với
4,25%, dư nợ cho vay dài hạn tăng 280 triệu đồng tương ứng với 2,92 %.
Nhìn chung dư nợ cho vay ở các thời hạn đều tăng nhưng dư nợ trung hạn,
dư nợ dài hạn tăng mức độ thấp hơn. Và ở cả 3 năm dư nợ cho vay ngắn
hạn chiếm tỷ trọng cao hơn cả, chiếm gần 80% trên tỏng dư nợ. Điều này
là do chính sách tín dụng của ngân hàng, tập trung cho vay ngắn hạn hơn
để giảm rủi ro tín dụng
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
+ Kết quả tài chính:
Bảng 3: Tình hình tài chính ngân hàng
( Đơn vị tính: Triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Tổng thu 703.206 780.558 882.697
Tổng chi 517.817 579.223 615.134
Lợi nhuận 185.389 201.335 267.563
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2009-2011)
Nhận xét: Tổng thu của ngân hàng qua 3 năm đều tăng, năm 2010 tăng từ
703.205 triệu đồng ở năm 2009 lên 780.558 triệu đồng. Năm 2011 tăng lên
là 882.697 triệu đồng. Tổng chi của ngân hàng cũng tăng nhưng tốc độ
tăng của tổng thu nhanh hơn tốc độ tăng của tổng chi vì vậy lợi nhuận qua
3 năm vẫn tăng. Năm 2009 lợi nhuận là 185.389 triệu đồng, năm 2010
tăng lên là 201.335 triệu đồng, năm 2011 tăng lên 267.563 triệu đồng.
+ Công tác phát triển dịch vụ của ngân hàng:
Nhận rõ vai trò quan trọng của sản phẩm dịch vụ trong ngân hàng hiện đại và
tăng cường tính cạnh tranh lành mạnh. Ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh
Thăng Long đã xó nhiều cố gắng trong việc thực hiện tốt các sản phẩm dịch
vụ như: Bảo lãnh trong nước và quốc tế, dịch vụ trả lương qua thẻ, dịch vụ

mua bán ngoại tệ …
2.2. Thực trạng công tác huy động vốn của ngân hàng
TMCP Bắc Á - chi nhánh Thăng Long trong giai đoạn
năm 2009 – 2011
2.2.1. Các sản phẩm tiền gửi tại ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh
Thăng Long
Để đáp ứng những nhu cầu đa dạng của người dân hiện nay, ngân hàng
TMCP Bắc Á đã có nhiều sản phẩm tiền gửi, với nhiều tiện ích và đặc điểm
nổi bật. Những sản phẩm tiền gửi của ngân hàng bao gồm cả tiền gửi có kỳ
hạn và tiền gửi có kỳ hạn.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
BacABank đưa ra các giải pháp tài chính tối ưu nhất cho những khoản tiền
nhàn rỗi của khách hàng với lãi suất ưu đãi nhất và phương thức giao dịch
linh hoạt nhất
* Tiền gửi có kỳ hạn
Đặc điểm của sản phẩm
- Hưởng lãi suất có kỳ hạn được Bắc Á niêm yết tại thời điểm gửi tiền
- Khách hàng có thể gửi và rút tiền tại bất kỳ đơn vị kinh doanh nào của
Bắc Á trên phạm vi toàn quốc
- Hính thức trả lãi: Khách hàng có thể chọn hình thức lĩnh lãi hàng tháng,
hàng quỹ, hay cuối kỳ
- Có các hình thức cầm cố, thế chấp sổ tiết kiệm để vay vốn tại Bacabank
với lãi suất ưu đãi
- Kỳ hạn: Theo các kỳ hạn niêm yết của Bắc Á
- Loại tiền gửi tiết kiệm: VNĐ, USD
• Sản phẩm tiền gửi góp: Gửi góp cho tương lai
Thay thế cho những hình thức tiết kiệm truyền thống với ràng buộc bằng
những số tiền gửi và kỳ hạn nhất định, nay khách hàng sẽ có thể gửi tiết
kiệm định kỳ linh hoạt với số tiền gửi phù hợp với khả năng tài chính của

mình với mục tiêu tích lũy để biến những ước mơ của mình thành hiện
thực
Được cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn với lãi suất ưu đãi hoặc chuyển
nhượng sổ tiết kiệm khi có nhu cầu
Phương thức gửi tiền đa dạng, linh hoạt, tiết kiệm thời gian. Khách hàng
có thể gửi trực tiếp tại các địa điểm giao dịch của ngân hàng Bắc Á, thông
qua phương thức chuyển khoản hoặc thông qua hệ thống ATM có chức
năng gửi tiền của ngân hàng Bắc Á.
Đặc điểm sản phẩm:
+ Tên sản phẩm: Tiết kiệm gửi góp “ Tích lũy cho tương lai”
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
+ Kỳ hạn gửi: Từ 01 Đến 03 năm
+ Loại tiền gửi: VNĐ, USD
+ Số tiền gửi tối thiểu mỗi lần: 500.000VNĐ và 50 USD
+ Tổng số tiền tích lũy tối thiểu: 10.000.000 VNĐ và 1000 USD
+ Định kỳ gửi tiền: 01 tháng, 02 tháng và 03 tháng tùy khách hàng lựa
chọn
+ Chỉ tính lãi cuối kỳ khi tất toán sổ tiết kiệm
+ Lãi suất: Áp dụng theo biểu lãi suất tiết kiệm do Bắc Á công bố từng
thời kỳ
+ Nguyên tắc tính lãi: Tiền lãi của sổ tiết kiệm được tính trên cơ sở tích số
giữa số dư sổ tiết kiệm thực tế so với số ngày gửi thực tế và theo mức lãi
suất tương ứng với thời hạn gửi tiết kiệm
2.2.2. Thực trạng công tác huy động vốn tại chi nhánh
2.2.2.1. Quy mô nguồn vốn huy động
Trong hoạt động của ngân hàng vốn huy động đóng vai trò quan trọng, hoạt
động huy động vốn cơ bản tạo nguồn vốn cho ngân hàng. Nó duy trì tồn tại và
phát triển của ngân hàng. Vì vậy ngân hàng TMCP Bắc Á – chi nhánh Thăng
Long cũng ra sức tạo ra nguồn vốn dồi dào, tìm đến nguồn huy động để ngày

càng phát triển mạnh mẽ hơn


SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Bảng 4: Quy mô nguồn vốn huy động
( Đơn vị tính: Triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm
2009
Năm
2010
Năm 2010/2009
Năm
2011
Năm 2011/2010
Số tiền % Số tiền %
Tổng nguồn vốn huy
động
603.837 681.194 77.357 12,81 784.374 103.180 15,15
( Nguồn: Báo cáo hoạt động huy động vốn năm 2009-2011)
Trong những năm qua tuy có nhiều khó khăn trong công tác huy động vốn do
sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, nền kinh tế còn trải qua nhiều
khó khăn do khủng hoảng 2008 nhưng tổng nguồn vốn huy động của chi
nhánh Thăng Long qua các năm vẫn tăng trưởng liên tục và ổn định. Năm
2010 tăng so với năm 2009 là 12,81 % tương ứng với 77.357 triệu đồng, năm
2011 tăng so với năm 2010 là 15,15 % tương ứng với 103.180 triệu đồng. Sự
tăng trưởng này có được là do mấy năm vừa qua ngân hàng có các sản phẩm
tiền gửi hấp dẫn thu hút khách hàng gửi tiền. Các sản phẩm tiền gửi ngân
hàng đưa ra đó là: Tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm học bổng, tiết kiệm lãi bậc
thang … Với hai phòng giao dịch và hai quỹ tiết kiệm với chức năng chủ yếu

là huy động vốn, chi nhánh Thăng Long luôn là một trong những chi nhánh có
thành tích xuất sắc trong công tác huy động vốn, đáp ứng dầy đủ nhu cầu vay
vốn của mọi thành phần kinh tế trên địa bàn.
Sau đây ta xem xét diễn biến cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh Thăng Long.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hạnh Lớp: CQ 46/15.01

×