Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

432 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cộng tác kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (415.78 KB, 65 trang )


- 1 -
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1.1. KHÁI QUÁT VỀ LẠM PHÁT
1.1.1 Các quan điểm về lạm phát
Lạm phát là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên trong các quốc
gia thực hiện chế độ lưu thông tiền giấy hiện nay. Khi nói đến lạm phát
người ta nghó ngay đến sự gia tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh
tế. Điều này đồng nghóa với việc suy giảm quá đáng trong sức mua của đồng
tiền của một quốc gia. Sức mua của một đồng tiền được đo lường bởi sự biến
đổi nghòch đảo của vật giá chung. Nếu sức mua của vật giá chung gia tăng
thì sức mua của đồng tiền giảm và ngược lại mức vật giá giảm thì sức mua
của đồng tiền tăng. Hay có thể hiểu rằng lạm phát là việc phát hành thừa
tiền giấy vào lưu thông, làm cho tiền giấy bò mất giá, giá cả hàng hoá tăng
lên, thu nhập quốc dân bò phân phối lại gây thiệt hại đến toàn bộ đời sống
kinh tế – xã hội. Vậy đâu chính là nguyên nhân của lạm phát.
Có thể giải thích nguyên nhân của lạm phát dựa trên giác độ mối quan
hệ cung cầu, tức mức giá chung tăng khi tổng cung giảm hoặc tổng cầu tăng.
Tổng cung giảm có thể là do các cú sốc bất lợi về phía cung như giá của các
yếu tố sản xuất tăng, cung lao động giảm. Tổng cầu tăng có thể là do tăng
chi tiêu của chính phủ, giảm thuế hay do tăng cung tiền. Tổng cung giảm hay
tổng cầu tăng liên tục sẽ làm cho giá cả không ngừng tăng lên và lạm phát
xảy ra.
Đa số các nhà kinh tế có cùng một quan điểm như trên về lạm phát,
nhưng tùy theo từng giai đoạn lòch sử và giác độ nghiên cứu khác nhau, giữa
họ cũng có những quan điểm khác nhau về nguyên nhân gây ra lạm phát
cũng như cách thức để chống lạm phát. Trong đó, đáng chú ý nhất là quan
điểm của các nhà kinh tế theo hai trường phái: phái trọng tiền và phái
Keynes.
1.1.1.1 Quan điểm của phái trọng tiền
Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các nhà kinh tế cổ điển (điển hình là


nhà kinh tế Mỹ Irving Fisher) đã đề xướng ra học thuyết số lượng tiền tệ,
theo đó, giữa tổng chi tiêu để mua hàng hoá, dòch vụ được sản xuất ra trong
nền kinh tế là PY (trong đó P là mức giá cả, Y là tổng sản phẩm) và lượng
tiền tệ M có mối quan hệ với nhau, và được biểu hiện bằng tốc độ chu
chuyển của tiền tệ V. Cách tính tốc độ chu chuyển V là bằng tổng chi tiêu,
chia cho lượng tiền tệ (V=PY/M). Dựa vào công thức này, các nhà kinh tế đã
đưa ra một phương trình trao đổi MV=PY. Với lập luận rằng, trong thời gian


- 2 -
ngắn hạn tốc độ V, tổng sản phẩm Y sẽ thay đổi không đáng kể và coi như
bất biến, nếu lượng tiền M tăng lên thì giá cả P cũng phải tăng theo. Theo
cách lý giải này, bất cứ việc tăng cung tiền nào cũng làm cho giá cả tăng
lên, và như vậy để giảm tỷ lệ lạm phát thì biện pháp duy nhất là ngưng việc
tăng cung tiền vào trong lưu thông. Rõ ràng, cách lập luận này về lạm phát
là quáù đơn giản vì đặt nền kinh tế vào trong một trạng thái tónh tại, đó là khi
tăng cung tiền thì sẽ dẫn đến một khối lượng tiền nhiều hơn dùng để mua
một khối lượng hàng hoá như cũ, do đó sẽ làm cho giá cả tăng lên. Điều này
sẽ không lý giải được tại sao giá cả không thay đổi trong trường hợp vẫn
tăng cung tiền. Tuy sự nhìn nhận về lạm phát còn đơn giản, nhưng dẫu sao
quan điểm trên cũng đã tạo ra một tiền đề cho việc nhận thức về lạm phát
sau này của các nhà kinh tế.
Để khắc phục nhược điểm trên, trong phương trình trao đổi của Irving
Fisher, các nhà kinh tế tiền tệ đã nhìn nhận lạm phát dưới trạng thái động
hơn thông qua công thức trao đổi tiền tệ cải tiến dưới dạng tỷ lệ, đó là %P =
%M + %V - %Y. Theo công thức này, lạm phát xảy ra là do tăng lượng tiền
và tăng tốc độ chu chuyển tiền dẫn đến lạm phát. Hay nói cách khác, lạm
phát xảy ra là do tăng cung tiền nhanh hơn tốc độ tăng của tổng sản phẩm,
và nếu tốc dộ tăng cung tiền bằng với tốc độ tăng của tổng sản phẩm thì lạm
phát sẽ không xảy ra. Điều này đã giải thích được việc tăng cung tiền trong

một số trường hợp nào đó sẽ không làm cho giá cả tăng lên.
Như vậy, với cách nhìn mới này các nhà kinh tế cũng có cùng quan
điểm với Irving Fisher khi cho rằng tăng cung tiền cũng là nguyên nhân duy
nhất gây ra lạm phát. Tuy nhiên để chống lại lạm phát, khác với I.Fisher, họ
cho rằng không phải bằng việc ngưng tăng cung tiền mà là duy trì sự phát
triển cân đối giữa tăng cung tiền và tăng trưởng kinh tế, điều này sẽ làm cho
giá cả được ổn đònh.
Một vấn đề liên quan đến biện pháp chống lạm phát này là có thể dẫn
đến suy thoái kinh tế kéo dài. Vì kết quả trước tiên của việc giảm tăng cung
tiền là sụt giảm trong tổng cầu. Tổng cầu giảm dẫn đến sản lượng giảm và
thất nghiệp gia tăng. Hơn nữa, việc giảm cung tiền sẽ làm cho lãi suất tăng
lên kéo theo đầu tư giảm. Điều này sẽ làm giảm năng suất và sản lượng của
nền kinh tế. Trong dài hạn, giảm cung tiền, sản lượng cũng giảm. Vì thế, để
duy trì sự cân đối giữa tiền và hàng hoá chống lại lạm phát đòi hỏi phải cắt
giảm cung tiền nhiều hơn, kéo theo sụt giảm sản lượng và suy thoái kinh tế
hơn nữa. Nói như vậy, không có nghóa là việc duy trì mối quan hệ cân đối
giữa tăng cung tiền và tăng trưởng là không quan trọng trong việc kiểm soát


- 3 -
lạm phát, mà vấn đề là ở chỗ biện pháp chống lạm phát này có thể phải trả
giá rất cao.
1.1.1.2 Quan điểm của phái Keynes
Để khắc phục những thiếu xót của lý thuyết cổ điển khi cho rằng cung
tiền là nguyên nhân duy nhất gây ra lạm phát, John Maynard Keynes đã
phát triển một lý thuyết mới về lạm phát. Theo đó, Keynes cho rằng nguyên
nhân chủ yếu gây ra lạm phát là do việc tăng nhu cầu quá mức, vượt quá
khả năng cung ứng của nền kinh tế, tức vượt quá mức sản lượng tiềm năng
(là mức sản lượng đạt tới mức toàn dụng nhân công). Sở dó như vậy là vì, khi
nền kinh tế chưa đạt tới mức toàn dụng, các doanh nghiệp thường không tăng

giá bán để đáp ứng nhu cầu gia tăng, mà thay vào đó họ thường chọn giải
pháp gia tăng sản lượng. Khi cầu vượt quá mức sản lượng tiềm năng, các
doanh nghiệp không thể tăng sản lượng thêm được nữa vì thế họ buộc phải
tăng giá bán, kết quả là lạm phát xảy ra.
Mặc dù trong phân tích của mình, Keynes cũng thừa nhận rằng việc
tăng cung tiền quá mức cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra
lạm phát và trong thời gian dài, cung tiền là nguyên nhân chính gây ra tình
trạng siêu lạm phát, đó là việc giá cả tăng nhanh với một tốc độ rất cao.
Điều này dễ dàng được nhận thấy trong thực tế khi chính phủ tài trợ cho các
khoản chi tiêu của mình bằng việc phát hành tiền giấy quá mức. Song, theo
Keynes cung tiền chỉ là một trong nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến tổng
cầu mà thôi, do đó, ông nhấn mạnh đến vai trò của tổng cầu hơn là cung tiền
trong việc xác đònh lạm phát. Keynes đã chỉ ra rằng có bốn nhân tố tác động
đến tổng cầu, đó là: chi tiêu của hộ gia đình, chi tiêu của chính phủ, chi tiêu
đầu tư và cán cân ngoại thương. Do đó, để giảm lạm phát do cầu tăng quá
mức cần phải giảm tổng cầu thông qua việc tác động vào các nhân tố này,
chẳng hạn như tăng thuế sẽ làm giảm thu nhập khả dụng và do đó làm giảm
chi tiêu của hộ gia đình, giảm chi tiêu của chính phủ.
Với sự phân tích đó, Keynes cũng đưa ra một khái niệm cơ bản thể hiện
mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp gọi là đường cong Phillips
(Phillips Curve). Theo đó, có một sự đánh đổi giữa việc ổn đònh giá cả và
việc làm. Nếu làm giảm lạm phát sẽ gia tăng thất nghiệp, và ngược lại, gia
tăng việc làm sẽ gây áp lực làm cho lạm phát tăng cao. Tuy nhiên, sự đánh
đổi giữa lạm phát và thất nghiệp trong thực tế là không chắc chắn, thậm chí
không xảy ra khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát đình đốn, khi đó
lạm phát và gia tăng thất nghiệp cùng xảy ra mà không có một sự đánh đổi
nào. Chính vì lý do đó, có nhiều ý kiến tranh luận cho rằng mô hình của
Keynes là không đúng.



- 4 -
Để lý giải cho trường hợp trên, Keynes và các nhà kinh tế vó mô theo
trường phái Keynes cho rằng phía cung cũng quan trọng trong việc gây ra
lạm phát. Khi có những cú sốc về phía cung như khủng hoảng dầu lửa, đình
công đòi tăng lương…, làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên buộc các
doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và nâng cao giá bán sản phẩm. Điều này
sẽ làm dòch chuyển đường cong Phillips theo hướng suy thoái, nghóa là nền
kinh tế phải điều chỉnh ở mức sản lượng thấp hơn và mức giá cao hơn trước.
Quá trình điều chỉnh này hàm ý cả việc lạm phát tăng và gia tăng thất
nghiệp, vì thế tình trạng lạm phát đình đốn không mâu thuẫn với mô hình
của Keynes.
Ngoài các lý thuyết trên về lạm phát, các nhà kinh tế vó mô hiện đại
theo phái Keynes còn cho rằng sự "kỳ vọng" trong tương lai cũng là một
nguyên nhân gây ra lạm phát, đó gọi là lạm phát quán tính. Theo lý thuyết
này, lạm phát có thể góp phần tạo ra lạm phát hơn nữa nếu mọi người mong
đợi điều đó sẽ xảy ra. Đó là vì khi lạm phát xảy ra, người lao động dự kiến
lạm phát vẫn tiếp tục tăng trong tương lai, do đó để duy trì "mức lương thực"
của mình người lao động yêu cầu được tăng mức lương danh nghóa lên để bù
đắp sự mất giá của đồng tiền. Nếu yêu cầu này được chấp nhận và tiền
lương tăng lên sẽ đẩy chi phí tăng. Để duy trì lợi nhuận của mình, doanh
nghiệp sẽ chuyển phần chi phí tăng lên này sang cho người tiêu dùng bằng
cách tăng giá bán, và như vậy lạm phát sẽ tiếp tục xảy ra. Điều đáng chú ý ở
đây là nếu người lao động cho rằng trong tương lai lạm phát xảy ra là thấp
thì yêu cầu đòi tăng lương sẽ thấp và có thể không xảy ra, còn nếu người lao
động cho rằng lạm phát khó có thể kiềm chế được thì yêu cầu đòi tăng lương
sẽ cao. Do vậy việc phát ra những dấu hiệu đáng tin cậy cho thò trường rằng
lạm phát sẽ đi xuống và được kiểm soát trong tương lai là rất quan trọng đối
việc giảm lạm phát quán tính. Những dấu hiệu này chỉ có thể có được từ
việc công bố và thực thi các chính sách đáng tin cậy để kiềm chế lạm phát
của chính phủ.

Như vậy, qua các quan điểm về lạm phát của các nhà kinh tế theo hai
trường phái trọng tiền và Keynes đã trình bày ở trên, có thể nhận thấy rằng
lạm phát là một hiện tượng kinh tế rất phức tạp vì nó có liên quan đến nhiều
vấn đề, nhiều mặt của nền kinh tế, đặc biệt là liên quan đến tiền tệ và giá trò
của đồng tiền. Tuy quan điểm của các nhà kinh tế về lạm phát có một số
điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, đa số họ đều cho rằng biểu hiện bên
ngoài của lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh
tế. Mức giá chung là mức giá cả trung bình của tất cả các loại hàng hóa, dòch
vụ, vì thế, khi mức giá chung tăng lên không có nghóa là tất cả các mặt hàng


- 5 -
đều tăng giá mà có thể có một số mặt hàng không thay đổi giá hay giảm giá
so với trước. Do đó, khi nói đến lạm phát là nói đến sự tăng giá cả hàng hoá
trên diện rộng và kéo dài chứ không phải là sự tăng giá của các hàng hoá
riêng lẻ, nhất thời. Hơn nữa, giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trò của hàng
hoá, hay nói cách khác, tiền tệ là thước đo giá trò của hàng hoá, cho nên giá
trò của đồng tiền thay đổi cũng làm thay đổi giá cả hàng hoá, chính vì vậy,
lạm phát xảy ra suy cho cùng ít nhiều đều liên quan đến chính sách tiền tệ
và tài chính quốc gia.
1.1.2. Mục tiêu và tầm quan trọng của công tác kiểm soát lạm phát
1.1.2.1 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế
Về cơ bản, nền kinh tế lạm phát là một tín hiệu không tốt. Duy trì lạm
phát sẽ làm giảm dần lợi tức thực của những người có thu nhập thấp, những
người hoàn lương hưu và dẫn đến sai lệch trong việc phân phối của cải của
xã hội. Tuy nhiên, lòch sử lạm phát đã cho thấy rằng không phải bất cứ lúc
nào lạm phát xảy ra cũng là xấu, và cũng không phải ai cũng bò thiệt hại khi
nền kinh tế bò lạm phát. Cũng như đa số các hiện tượng kinh tế khác, lạm
phát cũng có tính hai mặt của nó là mang lại lợi ích cũng như gây ra thiệt hại
đối với nền kinh tế.

1.1.2.1.1 Tác động tích cực của lạm phát
Theo lý thuyết kinh tế vó mô, khi nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn
dụng, hay nói cách khác, khi các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn,
công nghệ... chưa được khai thác hết thì khi mức giá chung tăng lên sẽ có tác
dụng kích thích các doanh nghiệp gia tăng đầu tư để tăng sản lượng hàng hoá
cung ứng trên thò trường, làm cho sản xuất được mở rộng. Sản xuất mở rộng
sẽ tạo ra được nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu
nhập của người dân. Đầu tư cho sản xuất tăng, thu nhập của người dân tăng
sẽ góp phần làm tăng tổng cầu. Tổng cầu tăng lại tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển. Sản xuất và tiêu dùng liên tục phát triển, mở rộng sẽ góp phần
duy trì sự tăng trưởng ổn đònh của nền kinh tế. Trên giác độ này, lạm phát
được xem là một nhân tố kích thích kinh tế phát triển.
Giá cả chung tăng tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, nhưng không
phải tất cả các ngành trong nền kinh tế đều phát triển. Giá cả tăng sẽ làm
cho các yếu tố sản xuất đầu vào tăng giá, làm tăng chi phí sản xuất. Vì thế,
những ngành nào tăng được giá bán thì sẽ tồn tại và phát triển, còn những
ngành nào mà giá bán không tăng được, hay thậm chí còn giảm xuống, thì có
thể bò thu hẹp dần. Kết quả là vốn đầu tư sẽ chuyển dòch, các ngành kinh tế
phát triển được thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư, còn các ngành không


- 6 -
phát triển được sẽ thu hút được ít vốn đầu tư, hơn nữa vốn đầu tư còn bò rút
dần để đầu tư vào những lónh vực, ngành nghề khác Điều này sẽ góp phần
làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng có lợi và hiệu quả hơn.
Giá cả tăng không những góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế mà còn
tạo ra một áp lực cạnh tranh rất lớn trong nền kinh tế ở hầu hết các ngành
nghề. Đối với các ngành tăng được giá bán thì áp lực lớn nhất đối với các
doanh nghiệp là làm sao để duy trì và phát triển thò phần của mình. Còn
những ngành không tăng giá được thì các doanh nghiệp phải chòu áp lực lớn

hơn vì vừa phải duy trì thò phần vừa phải cố gắng hạ thấp chi phí để đảm bảo
có lợi nhuận. Trong bối cảnh đó, để tồn tại và phát triển buộc các doanh
nghiệp phải không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
năng lực quản lý, cải tiến chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm.
Theo quan niệm của các nhà đầu tư tài chính, lạm phát cũng được xem
như là một nhân tố rủi ro tiềm ẩn và là một động cơ cần thiết để đầu tư sinh
lợi. Rủi ro này thể hiện ở sự không chắc chắn về giá trò của đồng tiền trong
tương lai. Nếu lạm phát tăng thì một đồng ngày hôm nay sẽ có giá trò nhiều
hơn một đồng trong lương lai, tức giá trò đồng tiền giảm đi. Giá trò đồng tiền
giảm đi theo thời gian như là một thứ thuế đánh trên những người nắm giữ
tiền. Điều này sẽ khuyến khích những người nắm giữ tiền sử dụng tiền của
mình để đầu tư sinh lợi, chẳng hạn như gửi tiết kiệm, mua chứng khoán, góp
vốn kinh doanh… nhằm bảo tồn được giá trò thực của tiền và có thể mang lại
một giá trò tiền tệ lớn hơn. Kết quả là làm tăng hiệu quả sử dụng vốn trong
nền kinh tế.
Giá cả tăng lên, đồng tiền bò mất giá, điều này sẽ có lợi cho một số bộ
phận trong xã hội dó là: chính phủ, các doanh nghiệp và người vay nợ.
- Chính phủ là người hưởng lợi trước tiên từ lạm phát. Giá cả tăng sẽ
làm tăng thu nhập của nhà sản xuất, và vì thế mức lương của người lao động
cũng tăng theo. Khi thu nhập của xã hội tăng thì thuế trả cho Nhà nước cũng
tăng. Trong khi đó các khoản chi trả lương, trợ cấp hưu trí… của Nhà nước
thường mang tính ổn đònh trong một thời gian dài, hoặc nếu thay đổi cũng
không bằng nguồn thu tăng thêm vào ngân sách do tăng giá, cho nên Nhà
nước vẫn được lợi từ lạm phát. Hơn nữa, chính phủ thường là chủ nợ lớn nhất
trong xã hội dưới dạng các tài sản tài chính như trái phiếu chính phủ, lạm
phát sẽ làm cho phần lãi suất thực mà chính phủ chi trả cho các khoản nợ
bằng tiền trong nước sẽ giảm đi. Và nếu lạm phát xảy ra là do phát hành tiền
thì chính phủ càng được lợi hơn nữa, vì năng lực mua sắm của những đồng
tiền hiện có sẽ bò sụt giảm và chuyển dòch vào những đồng tiền phát hành
mới. Như vậy, rõ ràng chính phủ sẽ rất có lợi vì chỉ cần bỏ ra một ít chi phí



- 7 -
để in tiền là có thể dùng để mua sắm một khối lượng hàng hoá lớn hơn trên
thò trường. Cũng chính vì những mối lợi này mà đa số các chính phủ đều cố
gắng duy trì lạm phát trong nền kinh tế.
- Các doanh nghiệp cũng có lợi từ lạm phát đứng trên giác độ tăng giá
bán so với sự thay đổi tiền lương của người lao động. Thông thường, khi lạm
phát xảy ra các doanh nghiệp thường sẽ tăng giá bán trước khi có những
quyết đònh để thay đổi tiền lương cho người lao động. Sự thay đổi lương này
thông thường được thực hiện vào thời điểm đầu năm, và nếu có tăng lương
thì mức tăng cũng không thể cao hơn mức tăng giá vì thế lợi nhuận của nhà
sản xuất thường cao hơn so với trước.
- Đối với những người đi vay, nếu lãi suất đi vay không gắn với sự thay
đổi lạm phát thì khi giá cả tăng, năng lực mua sắm của đồng tiền bò giảm
sút, vì thế giá trò đồng tiền khi họ vay sẽ cao hơn giá trò đồng tiền mà họ trả
lại nợ vay cho chủ nợ, do đó người đi vay cũng sẽ được hưởng lợi từ lạm
phát. Dó nhiên, nếu lãi suất vay gắn với sự biến động của lạm phát thì người
đi vay sẽ không có lợi gì. Như vậy, lạm phát xảy ra cũng có những tác động
tích cực nhất đònh đối với nền kinh tế như tăng trưởng, gia tăng việc làm,
kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn... Tuy nhiên, những tác
động tích cực trên chỉ có được thực sự khi lạm phát xảy ra là thấp và mang
tính ổn đònh trong một thời gian dài.
1.1.2.1.2 Tác động tiêu cực của lạm phát
Mặc dù trong một số trường hợp nào đó, lạm phát xảy ra là có lợi cho
nền kinh tế, nhưng nhìn chung, lạm phát xảy ra đều có những tác động tiêu
cực đối với nền kinh tế, thể hiện ở một số mặt như: phân bố nguồn lực, phân
phối thu nhập, phát triển kinh tế và lãng phí của xã hội.
-
Phân bố nguồn lực không hiệu quả: khi lạm phát xảy ra đồng tiền sẽ bò

mất giá, đặc biệt là trong thời kỳ lạm phát cao thì giá trò đồng tiền sẽ sụt
giảm nghiêm trọng, cho nên càng giữ nhiều tiền mặt trong tay thì càng trở
nên nghèo đi. Để đối phó với tình trạng này, người ta chuyển sang nắm giữ
các tài sản khác lâu bền hơn và giá trò ít bò biến động bởi lạm phát hơn như
bất động sản, vàng, đá quý và các loại ngoại tệ mạnh. Các khoản tiền gửi
tiết kiệm tại ngân hàng sẽ bò sụt giảm do người dân không thích gửi tiền vào
ngân hàng nữa, không những thế họ còn đổ xô đến ngân hàng để rút tiền ra.
Điều này làm cho nguồn vốn cho vay của các ngân hàng bò giảm sút nghiêm
trọng. Nguồn vốn ngân hàng giảm sẽ làm tăng lãi suất cho vay, dẫn đến vốn
đầu tư cho sản xuất cũng giảm. Kết quả là vốn đầu tư vào sản xuất sẽ giảm
đi, trong khi đó vốn đầu tư vào các tài sản ngoài sản xuất như bất động sản
sẽ tăng lên. Xét trên giác độ nền kinh tế, các tài sản ngoài sản xuất không


- 8 -
góp phần tạo ra sản phẩm cho xã hội vì thế việc đầu tư nhiều vào các tài sản
này sẽ làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
-
Phân bố thu nhập bò biến dạng: đứng trên giác độ phân phối thu nhập
trong xã hội thì lạm phát xảy ra sẽ có lợi cho người đi vay, nhà sản xuất và
người phát hành tiền, chính phủ, ngược lại, những người cho vay và những
người hưởng lương, trợ cấp sẽ bò thiệt hại.
+ Đối với người hưởng lương, trợ cấp thì khi lạm phát xảy ra, lương của
họ thường được điều chỉnh sau khi giá cả tăng lên, nhưng hầu như tốc độ
tăng lương không bằng với tốc độ tăng giá cả, vì thế lượng hàng hoá mà họ
tiêu dùng sẽ thấp hơn so với trước, kết quả là thu nhập thực sự của họ giảm
xuống, do đó mức sống sẽ ngày càng thấp nếu lạm phát ngày càng cao. Hơn
nữa, do tốc độ tăng lương chậm hơn tốc độ tăng giá sẽ làm cho lợi nhuận của
nhà sản xuất tăng lên, do đó một phần những khoản thiệt hại mà người lao
động phải chòu đã chuyển thành phần lợi mà nhà sản xuất được hưởng. Điều

này làm cho nhà sản xuất dường như ngày càng giàu hơn, trong khi đó người
lao động, hưu trí ngày càng nghèo đi.
+ Đối với những người cho vay, thường là họ cho vay dưới dạng lãi suất
cố đònh khi lạm phát xảy ra, những đồng tiền mà họ nhận được từ việc cho
vay sẽ có giá trò thấp hơn lúc cho vay, vì thế phần lãi suất thực mà họ được
hưởng sẽ giảm sút thậm chí còn bò âm nếu lạm phát quá cao. Trong số những
người cho vay, có thể nói dân chúng là người cho vay nhiều nhất dưới dạng
tiền gửi tiết kiệm và mua trái phiếu chính phủ, nên cũng là những người chòu
thiệt hại nhiều nhất.
-
Làm suy thoái kinh tế: lạm phát xảy ra làm cho nguồn lực phân bố
không hiệu quả, các khoản đầu tư không sản xuất gia tăng làm cho các
khoản đầu tư vào sản xuất sụt giảm, làm giảm cầu về các yếu tố sản xuất, do
đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế. Tổng cầu và sản xuất sụt giảm sẽ làm
giảm tăng trưởng kinh tế, tăng tình trạng thất nghiệp và dẫn đến suy thoái
kinh tế.
Lạm phát cao sẽ làm cho việc dự đoán giá cả và chi phí gặp khó khăn,
do đó các dự án đầu tư mới cũng sẽ khó được thực hiện. Giá cả tăng nên các
yếu tố sản xuất đầu vào cũng tăng, nhu cầu tiền vốn để thanh toán các giao
dòch mua bán cũng tăng làm cho lãi suất tăng cao. Lãi suất tăng lại làm tăng
chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận cho nên sẽ không khuyến khích sản xuất
phát triển. Hơn nữa, chi phí tăng cao, lợi nhuận thấp sẽ không hấp dẫn các
nhà đầu tư bỏ tiền vào thò trường vốn. Kết quả là thò trường vốn trong nước
bò suy yếu và thu hẹp dần, các luồng vốn đầu tư quốc tế sẽ chạy qua các
nước khác có mức lạm phát thấp hơn và ổn đònh hơn.


- 9 -
Ngoài ra, nếu lạm phát trong nước cao hơn lạm phát ởû nước ngoài sẽ
làm cho giá cả của hàng hoá trong nước tăng lên làm giảm sức cạnh tranh

của hàng hoá xuất khẩu đồng thời kích thích nhập khẩu hàng hoá. Xuất khẩu
giảm, nhập khẩu tăng sẽ làm mất cân đối cán cân thanh toán quốc tế, làm
thu hẹp sản xuất trong nước.
-
Tốn kém chi phí của xã hội: do lạm phát gây ra những thiệt hại không
nhỏ cho nền kinh tế như đã kể trên, vì thế khi lạm phát xảy ra các bộ phận
trong nền kinh tế gồm chính phủ, doanh nghiệp và người dân phải mất chi
phí để tìm cách đối phó và kiểm soát lạm phát.
Lạm phát xảy ra, người dân mà nhất là người lao động, hưu trí là những
người chòu thiệt hại nhiều nhất. Để đối phó với tình trạng này họ phải mất
nhiều thời gian, công sức để tính toán, tìm kiếm và mua sắm những hàng hoá
có thể cất trữ giá trò tốt hơn. Tiền mặt càng nhiều, thiệt hại càng lớn vì thế
khối lượng giao dòch mua bán hàng hoá cũng tăng lên, người dân chỉ cất trữ
một số lượng rất ít tiền mặt trong thời kỳ lạm phát để phục vụ cho nhu cầu
chi tiêu tối thiểu hàng ngày. Hơn nữa, do tiền gửi tiết kiệm trong dân cũng
rất lớn, do đó, người dân cũng phải tốn nhiều thời gian, chi phí (chi phí mòn
giày) để đến các ngân hàng rút tiền và thanh toán các khoản nợ mua hàng
hoá, dòch vụ.
Khi lạm phát gia tăng, để có thể chủ động đối phó với các tình huống
xấu có thể xảy ra các doanh nghiệp phải tốn nhiều tiền hơn cho việc tổng
hợp, phân tích và dự báo thông tin kinh tế liên quan đến thò trường. Hơn nữa,
để tránh bò lỗ các doanh nghiệp cũng buộc phải thay đổi giá bán. Họ phải
mất thời gian và tốn kém chi phí để tính toán lại giá bán, in ấn lại bảng giá.
Đối với những hàng hoá mà giá in sẵn trên sản phẩm thì phải tốn thêm chi
phí để điều chỉnh lại giá. Các chi phí giao dòch với khách hàng cũng tăng lên
để thông báo, giải thích về việc thay đổi giá. Trong thời gian ngắn, sự sụt
giảm về khối lượng hàng hoá bán ra là không tránh khỏi do điều chỉnh tăng
giá.
Nhìn chung, lạm phát xảy ra ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã
hội, trên giác độ là người quản lý kinh tế vó mô chính phủ cũng phải tìm các

biện pháp để kiểm soát lạm phát sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế. Các
biện pháp này cũng đòi hỏi phải tốn thời gian, công sức và chi phí để thực
hiện. Chẳng hạn như để chống lại tình trạng lạm phát do một số loại nguyên
vật liệu nhập khẩu tăng đột biến làm mức giá chung tăng lên trên diện rộng,
chính phủ có thể áp dụng biện pháp giảm thuế nhập khẩu, chi bù lỗ cho các
doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này… Điều này sẽ làm giảm nguồn
thu vào ngân sách Nhà nước và tăng chi tiêu của chính phủ.


- 10 -
1.1.2.2 Mục tiêu và tầm quan trọng của công tác kiểm soát lạm phát trong
nền kinh tế
Khi lạm phát xảy ra tất yếu sẽ có những tác động đến nền kinh tế, có
tác động tích cực và cũng có những tác động tiêu cực như đã đề cập bên
trên. Do vậy, tùy thuộc vào từng mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia, để tránh những tổn thất do lạm phát gây ra hay những mong muốn lạm
phát mang lại, các nhà làm chính sách phải thực hiện công tác kiểm soát lạm
phát cho phù hợp.
Thông thường, trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, mỗi quốc
gia bao giờ cũng đặt ra nhiều mục tiêu như đảm bảo tăng trưởng và phát
triển kinh tế cao, ổn đònh giá cả, tạo nhiều công việc làm, xóa bỏ nạn nghèo
đói, ổn đònh chính trò…, trong đó, mục tiêu ngày càng tăng trưởng và phát
triển kinh tế cao hơn luôn là mục tiêu hàng đầu nhằm mang lại sự giàu có,
thònh vượng cho đất nước, làm tiền đề cho việc đạt được các mục tiêu khác.
Một vấn đề đặt ra là cần phải làm gì để đạt tốc độ tăng trưởng và phát
triển như mong muốn. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào việc khai thác và
sử dụng một cách thật hiệu quả các nguồn lực trong nước cũng như từ nước
ngoài. Sở dó như vậy là vì các nguồn lực kinh tế như đất đai, tài nguyên, lao
động, vốn, công nghệ… đều là những yếu tố có hạn mà nhu cầu sử dụng của
con người là vô hạn. Đặc biệt, áp lực tăng trưởng kinh tế nhanh mạnh sẽ kéo

theo nhu cầu về các yếu tố sản xuất càng lớn, gây áp lực tăng giá lên các
yếu tố sản xuất. Khi các yếu tố sản xuất tăng giá sẽ làm tăng chi phí đầu
vào của quá trình sản xuất kinh doanh và làm cho giá cả hàng hóa tăng lên,
sự tăng lên giá cả của hàng hóa trong một thời gian dài sẽ làm gia tăng lạm
phát. Khi đó, với các tác động tiêu cực của mình, lạm phát sẽ ảnh hưởng đến
nhiều mặt của nền kinh tế. Vậy, mức lạm phát như thế nào là phù hợp đối
với nền kinh tế hay nói cách khác tỷ lệ lạm phát nào là cần được duy trì để
đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát như mong muốn là rất cần thiết và quan
trọng nhằm đạt được mục tiêu quản lý kinh tế vó mô của quốc gia. Một chuỗi
các công việc liên quan đến việc duy trì một tỷ lệ lạm phát như mong muốn
đó gọi là công tác kiểm soát lạm phát. Khi lạm phát cao hơn hoặc thấp hơn
tỷ lệ lạm phát mong muốn, chính phủ sẽ tiến hành một số biện pháp, các
công cụ tác động đến thuế, lãi suất, mức cung tiền trong nền kinh tế… để duy
trì được tỷ lệ lạm phát như mong muốn này nhằm đạt được những mục tiêu
kinh tế xã hội đã đề ra.
Nói tóm lại, đối với nền kinh tế để phát triển ổn đònh và đảm bảo tăng
trưởng hiệu quả, chính phủ cần chú ý đến yếu tố lạm phát, phải xác đònh một


- 11 -
tỷ lệ lạm phát vừa phải phù hợp, lạm phát vừa phải gây thiệt hại vừa phải,
lạm phát cao sẽ gây thiệt hại cao hơn. Và để làm được điều này, công tác
kiểm soát lạm phát là một công việc quản lý vó mô không thể thiếu trong
công tác quản lý kinh tế của một quốc gia.
1.2. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1.2.1 Các chỉ tiêu, phương thức đo lường lạm phát
1.2.1.1 Các chỉ tiêu đo lường lạm phát
Hiện nay có nhiều phương pháp được dùng để đo lường lạm phát. Tùy
vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà chính phủ lựa chọn phương pháp

phù hợp sao cho kết quả đo lường có thể phục vụ một cách đắc lực nhất cho
việc điều hành các chính sách kinh tế vó mô và kiểm soát lạm phát. Để tính
toán lạm phát, các phương pháp được lựa chọn thường dùng các chỉ số như
chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số điều chỉnh GDP, chỉ số giá bán lẻ (RPI), chỉ
số giá tiêu dùng (CPI). Trong đó, hai chỉ số được sử dụng phổ biến nhất là
chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số điều chỉnh GDP.
1.2.1.1.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumption Price Index)
Để tính toán chỉ tiêu này, người ta bắt đầu bằng việc thu thập số liệu về
giá cả của hàng ngàn hàng hóa và dòch vụ. CPI chuyển giá cả của nhiều
hàng hoá và dòch vụ thành một chỉ số duy nhất phản ánh mức giá chung. Có
thể thực hiện bằng cách tính số bình quân của tất cả các loại giá cả, tuy
nhiên việc tính như vậy sẽ coi như tất cả hàng hóa và dòch vụ đều có tầm
quan trọng như nhau, điều này không đúng trong thực tế. Do vậy, người ta
dùng xác đònh quyền số cho các mặt hàng này bằng cách tính toán giá cả
của một giỏ hàng hóa và dòch vụ mà một người tiêu dùng đại diện mua. CPI
gán quyền số cố đònh (q
0
i
) cho giá cả của các hàng hóa khác nhau.
Vậy, CPI là giá của một giỏ hàng hóa và dòch vụ này so với giá của giỏ
hàng hóa và dòch vụ như thế trong một năm cơ sở (năm gốc) nào đó.
Đo lường chỉ số giá tiêu dùng CPI:
100
00
0
xCPI
qp
qp
ii
i

t
i


=
p
0
i
: giá bán lẻ của sản phẩm i ở thời điểm 0
p
t
i
: giá bán lẻ của sản phẩm i ở thời điểm t
q
0
i
: lượng sản phẩm i ởû thời điểm 0


- 12 -
Chỉ số tính được cho chúng ta biết rằng hiện giờ để mua một giỏ hàng
hóa và dòch vụ như vậy chúng ta bỏ ra số tiền bằng bao nhiêu lần nếu so với
số tiền phải bỏ ra để mua một giỏ hàng hóa và dòch vụ như thế vào năm cơ
sở.
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ số được theo dõi chặt chẽ nhưng nó
không phải là chỉ số duy nhất thuộc loại này. Các chỉ số khác còn có thể
quan tâm như chỉ số giá bán buôn – phản ánh giá của một giỏ hàng hóa và
dòch vụ điển hình được doanh nghiệp mua.
Và tỷ lệ lạm phát được xác đònh:
Tỷ lệ lạm phát năm t = x 100

CPI
t
– CPI
t-1
CPI
t-1
1.2.1.1.2 Chỉ số điều chỉnh GDP
Chỉ số điều chỉnh GDP còn được gọi là chỉ số điều chỉnh giá ngầm đònh
của GDP. Đó chính là tỷ lệ giữa GDP danh nghóa và GDP thực tế.

GDP danh nghóa
GDP thực tế
Chỉ số điều chỉnh GDP =

Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của một đơn vò sản lượng điển hình
so với giá của nó trong năm cơ sở.
Ta thấy rằng, chỉ số giá tiêu dùng được dùng để phản ánh mức giá trung
bình của một rổ hàng hoá, dòch vụ ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc. Nhược
điểm chính của chỉ số này là sự giới hạn của rổ hàng hoá cũng như sử dụng
trọng số cố đònh trong tính toán. Do đó, chỉ số giá không phản ánh được sự
thay đổi chất lượng của hàng hoá, cơ cấu hàng hoá tiêu dùng và sự biến đổi
chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian.
Còn chỉ số điều chỉnh GDP được tính dựa vào toàn bộ khối lượng hàng hoá,
dòch vụ cuối cùng được sản xuất trong một năm và giá cả ở kỳ hiện hành so
với kỳ gốc. Về cơ bản thì chỉ số điều chỉnh GDP sẽ tính toán lạm phát chính
xác hơn chỉ số giá tiêu dùng theo đònh nghóa về lạm phát, vì nó thể hiện
được xu hướng tăng mức giá chung của hàng hoá. Tuy nhiên, chỉ số điều
chỉnh GDP chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi đã có thông báo
chính thức về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của năm đó, còn chỉ số giá sẽ
có ưu điểm hơn là tính được lạm phát tại từng tháng, từng quý hay từng năm.

Như vậy, chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng phổ biến để thông tin về
tình hình lạm phát ở các thời kỳ trong năm, lạm phát đó gọi là lạm phát chỉ
số giá tiêu dùng. Nhưng việc sử dụng chỉ số này làm mục tiêu điều hành
chính sách tiền tệ đã gây ra nhiều tranh cãi và không thống nhất ở mỗi quốc
gia. Đó là vì do xuất phát từ các nhược điểm chính như đã kể trên, chỉ số giá


- 13 -
tiêu dùng rất dễ bò tác động bởi các cú sốc tạm thời lên một số hàng hoá, đặc
biệt là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong rổ hàng hoá. Chính vì dễ bò
tác động nên chỉ số giá tiêu dùng thường không ổn đònh, do đó sẽ dễ dẫn đến
sai lệch khi dùng nó để dự báo xu hướng lạm phát và có thể làm chệch
hướng chính sách tiền tệ. Khắc phục nhược điểm đó, các nước đã áp dụng
nhiều phương pháp để tìm ra một chỉ số giá khác mang tính ổn đònh hơn và ít
chòu sự tác động của những cú sốc tạm thời hơn. Chỉ số giá mới này được
tính toán trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng nhưng có loại trừ ảnh hưởng của các
hàng hoá có mức giá dao động mạnh như: giá lương thực thực phẩm, xăng
dầu, năng lượng. Do đó, lạm phát được đo lường từ chỉ số giá mới này, được
gọi là "lạm phát cơ bản" (core inflation), sẽ thể hiện chính xác hơn sự gia
tăng mức giá chung của nền kinh tế. Và đây là mục tiêu chính mà chính sách
tiền tệ cần tác động để kiểm soát lạm phát trong nền kinh tế.
1.2.1.2 Các phương thức kiểm soát lạm phát
Ở các nước phát triển, khi theo đuổi việc thực hiện một chính sách kinh
tế vó mô nào đó như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động hay giải
quyết nạn thất nghiệp, thâm hụt ngân sách… thường phát sinh lạm phát.
Thông thường phương thức chống lạm phát được lựa chọn sử dụng sau khi
nghiên cứu nguyên nhân phát sinh lạm phát hay lạm phát xuất phát từ các
yếu tố nào, là lạm phát phí đẩy, lạm phát cầu kéo, lạm phát là hiện tượng
của tiền tệ… Việc lựa chọn phương thức chống chống lạm phát ở các quốc gia
không hoàn toàn giống nhau, ngay cả trong một nước, vào những thời kỳ

khác nhau người ta cũng thường áp dụng các phương thức khác nhau. Nhìn
chung có hai loại phương thức sau:
1.2.1.2.1 Phương thức “hạn chế tiền tệ”
Phương thức “hạn chế tiền tệ” – kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng
hay còn gọi là phương thức đóng băng. Phương thức này xuất phát từ luận
điểm của M.Friedman cho rằng sự tăng trưởng kinh tế ổn đònh của một quốc
gia chỉ là kết quả của một chính sách tiền tệ ổn đònh. Chính sách tiền tệ ổn
đònh và có hiệu quả chỉ có thể dựa trên sự kiểm soát chặt chẽ khối lượng
tiền phát hành trong lưu thông nghóa là kiểm soát sự cung ứng tiền tệ kết hợp
với chính sách thuế nhằm kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng dài
hạn. Đây chính là phương thức chủ yếu để ổn đònh tiền tệ, kiềm chế lạm
phát.
1.2.1.2.2 Phương thức “nới lỏng tiền tệ”
Phương thức “nới lỏng tiền tệ” – lấy lạm phát trừ lạm phát: phương thức
này xuất phát từ luận điểm của J.M.Keynes cho rằng một nền kinh tế tăng
trưởng và có hiệu quả là giải quyết đầy đủ công ăn việc làm, muốn vậy phải


- 14 -
kích thích mặt cầu bằng các chính sách vó mô của Nhà nước. Trong đó, việc
nới lỏng tiền tệ, mở rộng việc cung ứng tiền tệ sẽ kích thích mặt cầu, giải
quyết được nạn thất nghiệp nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ đó lạm
phát sẽ được kiểm soát. Theo quan điểm này, người ta coi lạm phát và chống
lạm phát như là một quá trình liên tục nghóa là vừa chống lạm phát lại vừa
thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát.
1.2.2 Kinh nghiệm trong công tác kiểm soát lạm phát trên thế giới
1.2.2.1 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Mỹ
Đầu tiên, chúng ta xem xét kinh nghiệm của Mỹ – một quốc gia có
nhiều ảnh hưởng đến kinh tế thế giới trong việc tìm ta một giải pháp chính
sách tài khoá và tiền tệ hỗn hợp nhằm kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm

bảo tăng trưởng bền vững và ổn đònh giá cả. Từ năm 1854 đến năm 1919,
nền kinh tế Mỹ bò thu hẹp trong khoảng thời gian gần bằng khoảng thời gian
mà nó tăng trưởng: sự tăng trưởng kinh tế trung bình (tính theo tăng trưởng
tổng sản lượng về hàng hóa và dòch vụ) kéo dài 27 tháng, trong khi đó sự trì
trệ kinh tế trung bình (giai đoạn suy giảm sản lượng) kéo dài 22 tháng. Từ
năm 1919 đến 1945, tình hình kinh tế được cải thiện và từ năm 1945 đến
1991, sự tăng trưởng kinh tế trung bình kéo dài 50 tháng và sự trì trệ kinh tế
trung bình chỉ kéo dài 11 tháng. Bên cạnh đó, lạm phát đã chứng tỏ là căn
bệnh nan giải hơn nhiều. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, giá cả ổn đònh
một cách đặc biệt, nhưng 40 năm sau, năm 1980, mặt bằng giá tăng 400% so
với mặt bằng giá năm 1940. Tuy nhiên, năm 1979, chính phủ đã chú ý nhiều
đến lạm phát và số liệu về lạm phát đã được cải thiện đáng kể. Đến cuối
thập kỷ 1990, nền kinh tế quốc gia đã đạt được tình trạng tốt đẹp với sự kết
hợp tăng trưởng nhanh, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát thấp. Tất cả là do chính
sách kiểm soát lạm phát của Mỹ mang lại:
- Chính sách tài khoá – Ngân sách và thuế: sự phát triển của chính phủ
từ năm 1930 đi cùng với sự gia tăng chi tiêu liên tục. Năm 1930, chi tiêu của
chính phủ chỉ bằng 3,3%GDP, và con số này tăng lên gần 44%GDP năm
1944. Chi tiêu của chính phủ nói chung lại tăng lên trong những năm tiếp
theo và đạt 24% vào năm 1983 sau đó giảm đi chút ít. Năm 1999 tỷ lệ này
vào khoảng 21%. Xây dựng chính sách tài khoá là một quá trình công phu,
mỗi năm tổng thống đệ trình một kế hoạch chi tiêu cho Quốc hội, các nhà
lập pháp xem xét đề nghò này và quyết đònh một mức chung cho chi tiêu và
thuế. Sau đó họ phân chia số tiền chung này cho từng hạng mục riêng. Cuối
cùng, Quốc hội xem xét các dự luật chuẩn chi ngân sách riêng, xác đònh
chính xác mỗi hạng mục cần bao nhiêu tiền. Nguồn ngân sách chủ yếu của
chính phủ liên bang để trang trải chi tiêu là thuế thu nhập cá nhân, thuế thu


- 15 -

nhập liên bang đánh vào thu nhập trên toàn thế giới của các công dân Mỹ và
người nước ngoài cư ngụ tại Mỹ và một phần thu nhập tại Mỹ của những
người không cư ngụ tại đây. Nhiều năm qua, các nhà lập pháp đã tạo ra
nhiều loại miễn và giảm thuế thu nhập khác nhau nhằm khuyến khích các
loại hình hoạt động kinh tế đặc biệt. Đáng chú ý nhất là người đóng thuế
được phép khấu trừ khỏi thu nhập chòu thuế của mình mọi khoản lãi suất
phải trả cho khoản tiền vay để mua nhà ở. Tương tự như vậy, chính phủ cho
phép người đóng thuế có thu nhập thấp và trung bình không phải đóng thuế
cho những khoản tiền nhất đònh mà họ gửi tiết kiệm vào tài khoản hưu trí cá
nhân đặc biệt (IRAs) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu khi về hưu và cho việc
học đại học của con cái họ.
- Chính sách tài khóa và ổn đònh kinh tế: được sử dụng vào những năm
1930, bằng cách tăng chi tiêu và giảm thuế nhằm hạn chế thất nghiệp tràn
lan và khiến cho nền kinh tế tăng trưởng trở lại theo học thuyết “Lý thuyết
chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của Maynard Keynes. Những năm
1960 đến 1970, thời kỳ mà lạm phát ở Mỹ gia tăng, chính phủ sử dụng chiến
lược chống lạm phát thông thường là kiềm chế cầu bằng việc cắt chi tiêu
liên bang và tăng thuế, nhưng điều này lại có thể làm cạn kiệt thu nhập từ
một nền kinh tế vốn đã bò thiệt hại do giá dầu mỏ tăng. Tổng thống Jimmy
Carter (1977-1981) đã tìm cách giải quyết tình thế tiến thoái lưỡng nan đó
bằng một chiến lược theo hai chiều hướng. Ông đã đẩy mạnh chính sách tài
khoá hướng vào việc chống thất nghiệp, cho phép tăng thâm hụt ngân sách
liên bang và tạo ra các chương trình việc làm đối phó với suy thoái theo chu
kỳ cho những người thất nghiệp. Để chống lạm phát, ông tạo ra một chương
trình kiểm soát giá cả và lương tự động nhưng không hiệu quả, nền kinh tế
vẫn chòu lạm phát cao minh chứng cho học thuyết của Keynes không còn
đúng vì một yếu tố khác đã làm giảm hơn nữa khả năng của chính phủ trong
việc sử dụng chính sách tài khóa để quản lý nền kinh tế – đó là thâm hụt
ngân sách.
- Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế Mỹ: Cục dự trữ liên bang Mỹ

(FED) có ba công cụ chính để duy trì kiểm soát việc cung tiền và tín dụng
trong nền kinh tế là: hoạt động thò trường mở - hoặc bán và mua chứng
khoán của chính phủ; quy đònh cụ thể lượng tiền dự trữ mà các tổ chức nhận
tiền gửi phải dành riêng ra như là lượng tiền mặt trong két của mình; tỷ lệ
chiết khấu hay tỷ lệ lãi suất mà các ngân hàng thương mại phải thanh toán
khi vay tiền từ quỹ của các ngân hàng dự trữ. Các công cụ này cho phép
FED mở rộng hay thu hẹp lượng tiền và tín dụng trong nền kinh tế Mỹ.


- 16 -
- Chính sách tiền tệ và ổn đònh tài chính: Trong nhiễu năm của thập kỷ
1970, FED cho phép mở rộng tín dụng nhanh chóng để phù hợp với mong
muốn tiến hành chống lại nạn thất nghiệp của chính phủ, nhưng do lạm phát
tăng cao tàn phá nền kinh tế nên ngân hàng trung ương đột ngột thắt chặt
chính sách tiền tệ bắt đầu vào năm 1979. Chính sách này đã thành công
trong việc giảm gia tăng mức cung tiền, nhưng lại góp phần gây ra tình trạng
trì trệ kinh tế nặng nề vào các năm 1980 – 1982. Năm 1998, Fed đã nới lỏng
chính sách tiền tệ thông qua 3 lần cắt giảm lãi suất từ 5,5% xuống còn 4,75%
để đối phó với nguy cơ suy giảm kinh tế trong nước và để ổn đònh thò trường
tài chính quốc tế, thì trong năm 1999 chính sách này lại được thắt chặt với ba
lần tăng lãi suất lên 5,5%.Việc làm này của Fed được các nhà kinh tế coi là
hợp lý khi nhu cầu trong nước tăng, giá tiêu dùng nhích dần lên, doanh số
bán lẻ lớn, chỉ số Dow Jones tăng mạnh. Mặc dù hiện nay sức ép lạm phát
không nhưng Mỹ vẫn cần tới những biện pháp đề phòng tình trạng lạm phát
xảy ra. IMF cho rằng, Fed cần tiếp tục phản ứng nhanh nếu mức tăng của
cầu nội đòa không giảm hoặc vẫn có sức ép lạm phát trong tương lai; tiếp tục
cảnh giác với sự tăng trưởng trên thò trường chứng khoán và tiếp tục cung
cấp những tín hiệu thích hợp cho các thò trường tài chính về dự đònh làm
chậm mức cầu.


1.2.2.2 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Hàn Quốc (1981 – 1984)
Chúng ta đều biết rằng giá cả của hàng hoá và dòch vụ được xác đinh
bởi cung cầu thò trường, tức là do tổng cung tổng cầu và độ khan hiếm của
hàng hóa, dòch vụ đó trên thò trường xác đònh. Lãi suất tăng lên đồng nghóa
với việc đồng tiền được coi trọng hơn hay tổng cung tiền tệ thấp hơn tổng
cầu tiền tệ. Lãi suất thấp thì khuyến khích các nhà đầu tư dùng vốn nhiều
cho nhà đầu tư phát triển, nhưng khi nhu cầu của nhà đầu tư tăng lên sẽ kéo
theo tăng lãi suất tiền tệ vì lúc này có một lượng cung tiền tệ nhất đònh mà
tổng cầu sử dụng tiền tệ tăng lên sẽ dẫn đến tiền tệ khan hiếm hay tổng
cung tiền tệ bò thấp đi tương đối. Tuy nhiên, nếu lãi suất tăng quá cao thì
hiệu quả hay lợi nhuận do đồng tiền tạo ra sẽ thấp đi và nhu cầu sử dụng
đồng tiền sẽ giảm vì ít người muốn đầu tư sẽ dẫn đến tổng cầu tiền tệ giảm
so với tổng cung tiền tệ. Điều này lại đưa đến lãi suất giảm.
Lãi suất là giá của tiền tệ. Lạm phát là sự mất giá của tiền tệ. Vậy khi
sử dụng đồng tiền một thời gian nhất đònh nào đó phải cho người ta nhận
được lợi nhuận tính theo đồng tiền, tức là lãi suất trừ đi lạm phát phải là một
số dương nào đó thì mới có thể nói sử dụng đồng tiền hiệu quả. Nói cách
khác lãi suất dương là sự bảo toàn giá trò đồng tiền. Lãi suất dương là giá trò
thực của đồng tiền và là một biện pháp quan trọng chống lạm phát. Từ lý


- 17 -
thuyết này, việc thiết kế thành công một chương trình để ổn đònh kinh tế vó
mô, đẩy lùi lạm phát từ mức cao xuống mức thấp là một vấn đề lớn. Chúng
ta hãy xem xét kinh nghiệm của nền kinh tế một nước kém phát triển có bối
cảnh lạm phát và không kiểm soát nổi mức thâm hụt của Chính phủ, đó là
Hàn Quốc.
Chính phủ Hàn Quốc đã thành công trong việc ổn đònh giá thời kỳ 1981
– 1984. Vào giai đoạn 1979 - 1981, Hàn Quốc bò lạm phát với mức độ trung
bình là trên 20%. Tính theo giá trò thực thì lãi suất cho vay danh nghóa chuẩn

20% ở Hàn Quốc (được tính cao hơn một chút do việc bồi thường cán cân
đồng Won) là hơi âm một chút. Sau đó, khi có sự cải thiện lớn về tài khóa và
sự khan hiếm tiền, tỷ lệ lạm phát trong nước Hàn Quốc được đưa xuống mức
7% vào năm 1982 và chỉ có 3% vào năm 1983 (Xem cột 2 bảng 1). Chính
quyền Hàn Quốc dự kiến rằng lạm phát sẽ giảm bằng cách giảm nhanh lãi
suất cho vay chuẩn trong các thời kỳ xuống 10% vào giữa năm 1982. Tuy
nhiên, lãi suất cho vay trở nên dương tính theo giá trò thực tế (xem cột 10
bảng 1). Trong cùng khoảng thời gian này, lãi suất tiền gửi đồng Won ngắn
hạn chuẩn được giảm từ 14,4% xuống còn 6%.
Bảng 1: Lãi suất danh nghóa và thực tế ở Hàn Quốc

Lãi suất thò
trường chợ
đen
a
Lãi suất của
các trái phiếu
công ty
Lãi suất của
các trái phiếu
chính phủ

Lãi suất cho
vay của ngân
hàng
b


Năm
Chỉ số

giảmphát
GDP (tỷ
lệ thay
đổi)
Danh
nghóa
Thực
tế
Danh
nghóa
Thực
tế
Danh
nghóa
Thực
tế
Danh
nghóa
Thực
tế
(1) (2)

(3)

(4)

(5)

(6)


(7)

(8)

(9)

(10)

1979 21,2 42,4 21,2 26,7 5,5 25,2 4,0 19,0 -2,2
1980 25,6 45,0 19,4 30,1 4,5 29,8 3,2 23,4 -2,2
1981 15,9 35,3 19,4 24,4 8,5 23,6 7,7 19,8 +3,9
1982 7,1 30,6 23,5 17,3 10,2 17,3 10,2 12,5 +5,4
1983 3,0 25,8 22,8 14,2 11,2 13,8 10,8 10,0 +7,0
1984 3,9 24,7 20,7 14,2 10,2 14,2 10,2 10,6 +6,6
(Nguồn: Niên giám thống kê kinh tế – Hàn Quốc
a - Số liệu điều tra của Ngân hàng Hàn Quốc
b - Lãi suất tiền vay Ngân hàng thời hạn 1 năm
c - Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghóa – Tỷ lệ thay đổi của chỉ số giảm
phát GNP)
Để đạt được điều này, ngân hàng Hàn Quốc không sử dụng tỷ giá hối
đoái như là một biến tố gây áp lực cho việc ổn đònh mức giá trong nước, thay
vào đó tỷ giá hối đoái danh nghóa được quản lý theo kiểu thay đổi nhỏ giọt


- 18 -
không chính thức nhằm điều chỉnh thụ động theo sự giảm sút của lạm phát
trong nước. Vì vậy, khi đảm bảo được sự ổn đònh giá cả, Hàn Quốc cũng
tránh được hội chứng đánh giá quá cao tỷ giá hối đoái.
Việc giảm lãi suất danh nghóa khi lạm phát chậm lại, trong khi vẫn duy
trì tỷ lệ giảm dần của đồng Won so với đồng đôla nhằm phản ánh được sự

chênh lệch lạm phát giữa Hàn Quốc và Mỹ đã hạn chế được sự khuyến
khích thái quá đối với việc chuyển vốn nước ngoài vào nền kinh tế Hàn
Quốc. Thậm chí khi tình trạng đó xảy ra, chính phủ Hàn Quốc vẫn duy trì sự
kiểm soát chặt chẽ đối với tài khoản vốn nhằm hạn chế sự gia tăng hơn nữa
tình trạng nợ quốc tế trong quá trình tự do hóa.
Chính phủ Hàn Quốc đã thành công trong việc giảm lãi suất danh nghóa
xuống mức phù hợp trong khi vẫn giữ cho lãi suất thực tế ở mức dương, mặc
dù vẫn thấp hơn mức cân bằng thò trường. Ngân hàng Hàn Quốc cũng giảm
yêu cầu về dự trữ khi chính sách tài khoá được cải thiện, nhưng tín dụng của
ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại và luồng tư bản
nước ngoài vào đất nước vẫn bò hạn chế để đảm bảo mức giảm phát mong
muốn mà vẫn không đánh giá quá cao tỷ giá hối đoái. Chính phủ Hàn Quốc
cũng giảm mức gia tăng của tiền lương xuống.
Kết quả là việc thắt chặt tiền tệ được thực hiện trong khi lãi suất thực
được giữ ở mức dương và khá ổn đònh theo đạo luật. Điều này có ý nghóa là
để giảm lạm phát, hệ thống ngân hàng Hàn Quốc nói chung phải hạn chế tín
dụng cho khu vực tư nhân. Tuy nhiên, do thâm hụt về tài khóa của chính phủ
Hàn Quốc đồng thời được giảm đi, luồng ngân quỹ thực tế có thể cho vay đối
với khu vực tư nhân đã tăng lên. Do vậy đã giảm bớt sức ép của cung đối với
hàng hóa trong nước. Không cần phải có sự hạn chế tín dụng ròng đối với
khu vực tư nhân một khi chính phủ Hàn Quốc và các cơ quan chuyên trách
không còn hướng luồng tín dụng ngân hàng vào bản thân mình.
Mặc dù có những khó khăn, việc ổn đònh thành công giá cả trong nước
trong khi vẫn giữ được khả năng cạnh tranh ngoại thương có những lợi ích
tiềm năng to lớn. Trong một số năm sau khi chương trình ổn đònh hóa thành
công (thời kỳ 1981 – 1984) sự tăng trưởng GNP và sự phát triển về tài chính
của Hàn Quốc thực sự là đáng kể. Việc tăng nhanh các luồng tài chính trong
nền kinh tế Hàn Quốc cho phép nước này trả được nhiều nợ nước ngoài
thông qua thặng dư thương mại. Tiền gửi ngân hàng không chỉ tiếp tục tăng
mạnh so với GNP mà cơ cấu thời hạn của các nguồn tài chính công ty cũng

được kéo dài đáng kể.



- 19 -
CHƯƠNG 2: LẠM PHÁT VÀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thò
100/CT về công tác mở rộng và khoán sản phẩm đến người lao động. Song
song đó, Chính phủ cũng đã ban hành quyết đònh số 25/CP về một số chủ
trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và
quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Đó là các biện pháp
mà Việt Nam đã sử dụng để quản lý nền kinh tế mà cụ thể là tình trạng giá
cả leo thang trong giai đoạn đầu sau khi chiến tranh chấm dứt, đất nước hoàn
toàn thống nhất, nhưng đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam phải đương đầu
với muôn vàn khó khăn: những hậu quả kinh tế xã hội nặng nề sau chiến
tranh, cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và cải tạo nông
nghiệp ở miền Nam đã khiến cho năng lực sản xuất của nền kinh tế bò giảm
sút, chiến tranh liên tiếp xảy ra ở biên giới phía Bắc và phía Nam buộc Nhà
nước phải huy động tất cả các nguồn lực để đảm bảo an ninh quốc phòng, và
thêm vào đó sự cấm vận bao vây kinh tế của Mỹ và các nước phương Tây…
Thành công của chính sách này là cho phép người nông dân sử dụng có
hiệu quả toàn bộ phần đất nhận khoán của mình và góp phần làm cho sản
lượng lương thực tăng từ 14,4 triệu tấn năm 1980 lên 15 triệu tấn năm 1981.
Tuy nhiên, do vẫn tồn tại cơ chế quản lý kế hoạch tập trung nên những
chính sách cải cách trên chưa thể giúp Việt Nam thoát khoải khó khăn, nền
kinh tế vẫn đang trong tình trạng thiếu hụt. Tình hình càng tồi tệ hơn khi
cuộc cải cách giá - lương - tiền trong năm 1985 bò thất bại, khiến cho giá cả
hàng hoá càng leo thang dữ dội, đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy siêu lạm

phát và đạt tới đỉnh điểm vào năm 1986 lên tới 774,7%.
2.1 LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT GIAI ĐOẠN TỪ NĂM
2000 TRỞ VỀ TRƯỚC
2.1.1 Siêu lạm phát – giai đoạn từ 1986 đến 1991
2.1.1.1 Tình hình lạm phát và kiểm soát lạm phát
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) được coi là điểm mốc của
công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Rút kinh nghiệm những sai lầm trong
quản lý kinh tế những năm trùc, Đại hội đã quyết đònh đổi mới triệt để cơ
chế quản lý kinh tế với những nội dung cơ bản như: phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần; chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước; thực


- 20 -
hiện mở cửa kinh tế và nâng cao hoạt động kinh tế đối ngoại, thực hành dân
chủ trong mọi mặt của nền kinh tế xã hội.
Trên cơ sở Nghò quyết của Đại hội Đảng VI, trong giai đoạn này, Chính
phủ đã thực hiện hàng loạt các cuộc cải cách mạnh mẽ về nông nghiệp,
công nghiệp, tài chính, tiền tệ, mở rộng ngoại thương, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài... Kết quả là nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích
cực, tăng trưởng kinh tế dần đi vào ổn đònh và không ngừng tăng lên từ
2,84% năm 1986 tăng lên 5,8% vào năm 1990.
Bảng 2: Tình hình tăng trưởng và lạm phát giai đoạn 1986 -1991
-
200,00
400,00
600,00
800,00
CPI (%)
774,70 373,00 223,10 34,70 67,50 67,30

GDP (%)
2,84 3,63 5,10 4,68 5,10 5,80
1986 1987 1988 1989 1990 1991

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng ghi nhận như trên về tăng
trưởng kinh tế, nhưng giai đoạn này Việt Nam cũng chứng kiến những cơn
sốt lạm phát nghiêm trọng xảy ra, liên tục từ năm 1986 đến năm 1988 lạm
phát tăng ở ba con số năm 1986 là 774,7%, năm 1987 là 373%, năm 1988 là
223,1%. Lạm phát tăng cao đã làm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của nền
kinh tế xã hội. Những hậu quả của tình trạng siêu lạm phát xảy ra trong giai
đoạn này:
- Đồng tiền bò mất giá nghiêm trọng khiến cho đời sống của người dân
ngày càng gặp nhiều khó khăn, các khoản nhận từ lương không đủ đảm bảo
cho nhu cầu chi tiêu tối thiểu hàng ngày;
- Để đối phó với việc đồng tiền bò mất giá, người dân đã gia tăng việc
mua sắm tích trữ hàng hoá, mua vàng, ngoại tệ và bất động sản để dự phòng


- 21 -
cho sự sụt giảm giá trò của đồng tiền. Kết quả là giá vàng và ngoại tệ tăng
giá liên tục, và trở thành một phương tiện thanh toán song song với tiền nội
tệ;
- Giá cả leo thang, hàng hoá khan hiếm, sức mua gia tăng đã tạo điều
thuận lợi cho nạn đầu cơ tích trữ hàng hoá để trục lợi, buôn lậu diễn ra mạnh
mẽ. Điều này làm cho tình trạng mua bán vàng, ngoại tệ càng diễn ra mạnh
mẽ hơn, kéo theo khối lượng tiền rất lớn trong lưu thông;
- Thu chi ngân sách bò mất cân đối nghiêm trọng, các khoản chi ngân
sách tăng lên liên tục bởi vì giá cả tăng làm gia tăng chi tiêu ngân sách và
gia tăng bù lỗ cho khu vực kinh tế quốc doanh. Trong khi đó các khoản thu từ

thuế chủ yếu dựa vào khu vực kinh tế nhà nước, khu vực mà đa số các doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, do đó, nguồn thu rất hạn hẹp và tăng không đáng kể.
Điều này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách ở mức cao và kéo dài;
- Đồng tiền bò mất giá khiến cho nguồn vốn huy động vào trong hệ
thống ngân hàng giảm sút nghiêm trọng, trong khi đó nhu cầu bổ sung vốn
để bù đắp nguồn vốn thiếu hụt do làm ăn thua lỗ và mua sắm nguyên vật
liệu từ các doanh nghiệp lại tăng lên, làm cho tình trạng thiếu vốn ngày càng
trở nên gay gắt;
- Giá cả tăng cao trong khi nguồn vốn và nguồn cung cấp nguyên vật
liệu lại trở nên khan hiếm, các doanh nghiệp không đủ năng lực để duy trì
hoạt động sản xuất và chạy theo sự biến động của giá cả, kết quả là sản xuất
bò sụt giảm, thất nghiệp gia tăng, điều này càng làm cho đời sống của người
dân càng khó khăn hơn khi phần lớn lao động làm việc trong khu vực nhà
nước.
2.1.1.2 Nguyên nhân và các biện pháp kiểm soát lạm phát
2.1.1.2.1 Nguyên nhân gây ra tình trạng siêu lạm phát thời kỳ này
Về mặt lý thuyết, ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào, lạm phát tăng
cao và kéo dài luôn luôn gắn liền với việc phát hành tiền giấy quá mức vào
trong lưu thông để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước. Nhìn vào diễn biến
lạm phát của Việt Nam giai đoạn này, lạm phát tăng rất cao ở mức từ hai
đến ba con số và kéo dài liên tục từ năm 1986 cho đến năm 1991. Như vậy
rõ ràng, nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam thời gian này là do
phát hành tiền giấy quá mức để bù đắp thâm hụt ngân sách (hơn 50% khoản
thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng nguồn phát hành tiền giấy), làm cho
khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên rất nhanh, điều này cũng đồng
nghóa với việc làm gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế. Trong khi đó, nền
sản xuất trong nước còn kém phát triển và chòu sự chi phối rất lớn của các


- 22 -

doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhìn chung vẫn
chưa có điều kiện để phát triển mạnh. Do đó, sản phẩm hàng hoá sản xuất ra
cũng không nhiều và chất lượng cũng không cao, không đáp ứng được sự gia
tăng nhanh chóng trong tổng cầu. Kết quả là các mối quan hệ cung - cầu,
tiền - hàng bò mất cân đối nghiêm trọng, một khối lượng tiền lớn hơn dùng
để mua một khối lượng hàng hoá ít ỏi, cung không đáp ứng được cầu, khiến
cho giá cả tăng lên.
Sự mất cân đối tiền - hàng càng gia tăng khi niềm tin của dân chúng
vào giá trò của đồng tiền bò giảm sút nghiêm trọng. Chức năng của tiền dùng
làm phương tiện cất trữ bò biến mất, mọi người chỉ giữ rất ít tiền trong túi để
phục vụ cho nhu cầu chi tiêu tối thiểu hàng ngày, khi có tiền trong tay họ lập
tức chi tiêu để mua sắm hàng hoá, vàng, ngoại tệ… Điều này làm cho tốc độ
chu chuyển tiền tệ gia tăng nhanh chóng mà không cần thanh toán qua ngân
hàng, nhiều loại hàng hoá tiêu dùng không còn mang tính chất để sử dụng
mà trở thành một thứ hàng hoá dùng để mua đi bán lại kiếm lời, điều này
càng làm giá cả gia tăng nhanh hơn.
Như vậy, với sự gia tăng nhanh chóng trong phát hành tiền và tốc độ
chu chuyển của tiền so với tốc độ tăng trưởng của hàng hoá đã làm cho lạm
phát tăng lên rất cao đến vài trăm phần trăm. Lạm phát tăng cao làm cho
tăng trưởng kinh tế giai đoạn này trở nên vô nghóa vì mức tăng trưởng thực là
con số âm, vì thế, để ổn đònh và phát triển kinh tế, điều cần thiết nhất của
Nhà nước trong giai đoạn này là phải kiểm soát được lạm phát.
2.1.1.2.2 Biện pháp kiểm soát lạm phát thời kỳ 1986 – 1991
Trước tình hình lạm phát xảy ra nghiêm trọng, để đưa nền kinh tế thoát
khỏi vòng xoáy siêu lạm phát và ổn đònh kinh tế, Nhà nước đã thực hiện
đồng bộ các giải pháp bao gồm:
- Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và thực hiện hàng loạt các biện pháp
mạnh liên quan đến chính sách tiền tệ
Từ năm 1988, với Nghò đònh 53/HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành,
hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển từ một cấp thành hai cấp, bao gồm

ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mặt tiền tệ và
tín dụng, và hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh
tiền tệ và tín dụng.
Và đến năm 1990, Pháp lệnh ngân hàng ra đời đã đánh dấu một sự thay
đổi về hệ thống ngân hàng bằng việc quy đònh rõ quyền hạn và nghóa vụ của
ngân hàng nhà nước trong việc đưa ra các chính sách tiền tệ và hướng dẫn


- 23 -
kiểm tra hệ thống ngân hàng. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam sau này.
Về chính sách điều hành lãi suất đã có những bước đột phá để chuyển
dần theo hướng gắn với thò trường, thể hiện bằng Quyết đònh số 39/HĐBT
ngày 10/04/1989 về việc quy đònh cơ chế điều hành lãi suất theo cơ chế thò
trường, theo đó: lãi suất tín dụng phải bù đắp được tỷ lệ lạm phát, khuyến
khích các tổ chức, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng; lãi suất phải phục vụ cho
kinh doanh có hiệu quả. Trên cơ sở quyết đònh này, lãi suất tín dụng đã dần
được điều chỉnh và từ ngày 10/05/1989 lãi suất tiền gửi ngân hàng đã được
nâng lên 13%/tháng nhằm thu hút lượng tiền gửi từ trong dân chúng, qua đó
góp phần làm giảm bớt khối lượng tiền trong lưu thông và có vốn để phục vụ
cho đầu tư phát triển. Với việc tăng lãi suất lần này, có lẽ như là đồng tiền
trong nước đã tăng giá trở lại, điều này gây ra một tác động tâm lý rất lớn và
kết quả là một khối lượng lớn tiền tệ đã được huy động vào trong hệ thống
ngân hàng, giúp làm giảm bớt nhu cầu chi tiêu trong dân chúng.
- Thực hiện những cải cách sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp
Ngày 05/04/1988, Bộ Chính trò ra Nghò quyết số 10 về đổi mới quản lý
trong nông nghiệp, đây là một bước tiến xa hơn so với nội dung khoán được
thực hiện vào năm 1981. Các hộ nông dân được coi là những đơn vì kinh tế
tự chủ, điều này cho phép nông dân được làm chủ hoàn toàn công việc sản
xuất của họ và chỉ phải nộp thuế cho nhà nước theo luật đònh. Nhờ đó, các

nguồn lực của mỗi hộ nông dân được huy động đến mức tối đa và sử dụng
một cách có hiệu quả nhất.
- Xây dựng những hành lang pháp lý tạo điều kiện cho các thành phần
kinh tế phát triển
Ngày 14/11/1987, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết đònh
217/HĐBT nhằm trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh cho các xí
nghiệp quốc doanh. Theo đóù, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn phải nộp
thuế cho Nhà nước thay vì phải thực hiện hàng loạt các chỉ tiêu kế hoạch
pháp lệnh như trước đây. Bên cạnh đó nhằm tạo môi trường pháp lý để
khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân phát triển, ngày 09/03/1988, Chính
phủ đã ban hành Nghò đònh số 27/NĐ về kinh tế tư doanh và số 29/NĐ về
kinh tế gia đình, cho phép tư nhân được quyền tự do kinh doanh trong các
lónh vực kinh tế mà pháp luật cho phép. Đồng thời, nới lỏng sự độc quyền
của nhà nước về ngoại thương, ngân hàng, kinh doanh vàng bạc, đá quý.
- Thực hiện chiến lược mở cửa nền kinh tế, thu hút luồng vốn đầu tư
nước ngoài và khuyến khích đẩy mạnh hoại động xuất nhập khẩu


- 24 -
Ngày 29/12/1987 Luật Đầu tư nước ngoài đã được ban hành tạo ra một
hành lang pháp lý nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Ngày 10/09/1989,
Nghò đònh 64/NĐ-HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành đã tạo ra một bước
đột phá về cơ chế chính sách trong hoạt động xuất nhập khẩu, theo đó các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được quyền xuất khẩu trực tiếp
các sản phẩm do mình làm ra và nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho
hoạt động sản xuất của mình.
- Xoá bỏ cơ chế điều hành giá cả bằng các biện pháp hành chính trước
đây. Thay vào đó, Nhà nước chỉ quản lý giá một số mặt hành chủ yếu như:
điện, nước, viễn thông, xăng dầu, vận tải. Còn các mặt hàng nhà nước không
quản lý thì được phép hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu trên thò trường,

khi cần thiết nhà nước có thể can thiệp thông qua các biện pháp gián tiếp
như hỗ trợ vốn, lãi suất, trợ cấp.
Như vậy, bằng những giải pháp đồng bộ để thu hút bớt lượng tiền trong
lưu thông và đẩy mạnh phát triển nền sản xuất hàng hoá, tình hình lạm phát
giai đoạn này tuy cao nhưng cũng đã có những chuyển biến tích cực từ chỗ
ba con số từ năm 1986 đến năm 1988 đã giảm xuống còn 34,7% vào năm
1989. Tuy nhiên do lãi suất tín dụng tăng cao và lại dược sử dụng chủ yếu để
cấp vốn bổ sung cho khu vực nhà nước với lãi suất thấp đã làm tăng lượng
tiền trong lưu thông và giảm hiệu quả hoạt động cho vay tín dụng. Điều này
buộc Nhà nước phải tăng chi ngân sách để bù lỗ cho hoạt động của ngân
hàng và tài trợ lãi suất cho vay đối với khu vực nhà nước. Kết quả lượng tiền
trong lưu thông lại tăng lên, thâm hụt ngân sách cũng tăng thêm, làm cho
lạm phát tăng trở lại vào các năm cuối của giai đoạn này: 67,5% ở năm 1990
và 67,3% ở năm 1991.
2.1.2 Lạm phát giai đoạn từ 1992 đến 1999
2.1.2.1 Diễn biến tình hình lạm phát
Những diễn biến tình hình kinh tế xã hội phức tạp các năm 1986-1991
khiến cho nỗi lo về việc quay trở lại tình trạng siêu lạm phát là rất lớn.
Chính vì vậy một trong những mục tiêu trọng tâm của nước ta trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn này là phải kiểm soát và đẩy lùi
được lạm phát nhằm ổn đònh đời sống kinh tế xã hội, tạo ra môi trường thuận
lợi để thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế. Xác đònh nguyên nhân chính gây
ra tình trạng siêu lạm phát những năm trước là do tăng phát hành tiền giấy
quá mức để bù đắp thâm hụt ngân sách và sự phát triển yếu kém của nền
sản xuất hàng hoá trong nước. Vì vậy, để kiểm soát được lạm phát và đạt
được mục tiêu tăng trưởng, Nhà nước đã áp dụng đồng bộ các chính sách tài


- 25 -
khoá và tiền tệ thắt chặt, cùng với các biện pháp để đẩy mạnh phát triển

kinh tế, khai thác các nguồn lực trong nước, thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, và mở rộng thò trường xuất khẩu... Kết quả là nền kinh tế đạt được
những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế tăng đều và
ổn đònh ở mức cao, liên tục từ năm 1992 đến 1997 tăng trưởng duy trì trên
mức 8%/năm, mặc dù năm 1998 và 1999 có giảm xuống nhưng đó là do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu .

Bảng 3: Tình hình lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 1992 - 1999

-
5,00
10,00
15,00
20,00
CPI (%)
17,50 5,20 14,40 12,70 4,80 3,60 9,20 0,10
GDP (%)
8,70 8,10 8,80 9,50 9,30 8,20 5,80 4,80
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Về tình hình lạm phát, nhìn vào đồ thò trên, có thể nhận thấy rằng tình
hình lạm phát giai đoạn này tuy có ở mức thấp hơn so với các năm trước
nhưng xu hướng biến động là không rõ nét. Trong hai năm đầu, lạm phát có
xu hướng giảm thấp rõ rệt từ 67,3% vào năm 1991 đã giảm xuống nhanh
chóng vào năm 1992 là 17,5% và giảm hẳn vào năm 1993 xuống còn một
con số là 5,2%. Sau đó, lạm phát lại đột ngột tăng lên cao ở mức hai con số
là 14,4% vào năm 1994 và lại có xu hướng giảm xuống ở ba năm sau đó,
năm 1995 là 12,7%, năm 1996 là 4,8% và năm 1997 là 3,6%. Đến năm 1998,
lạm phát lại đột biến tăng cao gần hai con số ở mức 9,2% và sau đó lại giảm

xuống còn 0,1% vào năm 1999. Rõ ràng với sự biến động thất thường như
vậy, rất khó nhận diện được xu hướng biến động của lạm phát ở Việt Nam
giai đoạn này.

×