Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

tiểu luận nghiên cứu bài tập nâng cao thành tích chạy 60m

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (155.18 KB, 15 trang )

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Sức khỏe là vàng, lao động là vinh quang”.
Thật vậy, sức khỏe - trí tuệ là những thứ quý giá nhất của mỗi con người và mỗi
quốc gia. Làm việc gì cũng cần có sức khỏe, với phương châm khỏe để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi người dân khỏe mạnh là Tổ quốc khỏe mạnh, sống và rèn
luyện theo gương Bác Hồ vĩ đại “ Sống vui, sống khỏe, sống có ích”. Muốn có
được sức khỏe không chỉ cần có dinh dưỡng và vệ sinh thật tốt mà cần phải kiên trì
tập luyện thể dục thể thao. Tập luyện thể dục thể thao góp phần tích cực nâng cao
sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú
đời sống văn hóa, tinh thần, nâng cao sức lao động và chiến đấu của nhân dân ta,
góp phần tạo nên con người Việt Nam mới ở thế kỉ XXI.
Vận dụng theo câu nói của Bác Hồ, từ đó chúng ta có thể khẳng định được vai
trò của thể dục thể thao rất quan trọng. Bên cạnh việc đào tạo nhân lực thì bồi
dưỡng nhân tài là quốc sách hàng đầu trong công tác giáo dục thế hệ trẻ. Thế hệ trẻ
chúng ta hôm nay và mai sau sẽ trở thành những con người phát triển toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực thì nhất định không thể thiếu sức khỏe.
Trong giai đoạn hiện nay mục tiêu giáo dục thể chất trong nhà trường góp phần
thực hiện mục tiêu của sự nghiệp giáo dục đào tạo, với yêu cầu ngày càng cao của
xã hội đòi hỏi nhà trường phổ thông phải nâng cao chất lượng đào tạo. Chạy cự li
ngắn thuộc nhóm hoạt động có chu kì của điền kinh. Cho nên, chạy cự li ngắn
không chỉ là môn có sức hấp dẫn mạnh mẽ nhất mà còn là phương pháp tuyệt vời
để phát triển sức mạnh, sức nhanh cho các môn thể thao khác. Chạy cự li ngắn
được xem là nội dung chủ yếu của chương trình nội khóa. Thông qua thành tích
chạy cự li ngắn, người ta phần nào đánh giá được trình độ điền kinh nói riêng và
trình độ thể dục thể thao nói chung.
Giảng dạy chạy cự li ngắn không chỉ dạy về kĩ thuật động tác mà còn phải phát
triển sức mạnh, sức nhanh để nâng cao thành tích cho học sinh. Vì thế có rất nhiều
bài tập được vận dụng trong quá trình dạy chạy cự li ngắn. Để việc vận dụng hệ
thống các bài tập chuyên môn cho học sinh một cách hiệu quả, phù hợp với cơ sở
vật chất nhà trường và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, tôi đã chọn đề tài “


Nghiên cứu một số bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho học sinh
lớp 7” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích đưa ra một số bài tập phù hợp để góp phần nâng cao
thành tích chạy 60m cho học sinh.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 7 trường THCS Hương Toàn.
3.2. Khách thể nghiên cứu: Các bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m cho
học sinh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn để tìm hiểu tình hình đặc điểm của học sinh
để từ đó đưa ra các bài tập phù hợp nhằm nâng cao thành tích cho các em.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đối với đề tài này tôi sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, lí luận
và phân tích, tổng hợp tài liệu.
- Điều tra quan sát, so sánh và thực nghiệm thông qua khảo sát chất lượng dự giờ.
Tổ chức trao đổi với giáo viên hay đàm thoại đối với học sinh.
- Bước đầu tự đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm với đồng nghiệp và với chính
bản thân mình.
6. Tiến trình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của tôi được tiến hành theo kế hoạch như sau:
Thời gian Nội dung nghiên cứu Kết quả
(tháng/năm)
2/2014
- Chọn đề tài
- Viết đề cương
- Đề cương được phép
tiến hành nghiên cứu
2/2014
- Tìm thông tin lí luận

- Xử lí thông tin lí luận
- Thông tin lí luận được
xử lí
3/2014 - Nghiên cứu xử lí thông tin thực tiễn
- Thông tin thực tiễn được
xử lí
4/2014 - Hoàn tất văn bản đề tài - Đề tài được nghiệm thu
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở lí luận về bài tập thể lực chuyên môn trong chạy cự li ngắn
Giáo dục thể chất là một quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện về mặt thể chất con
người, nhằm hình thành và củng cố những kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản trong
cuộc sống con người, cùng những hiểu biết có liên quan đến những kĩ năng, kĩ xảo
đó.
Trong thể dục thể thao nói chung và trong điền kinh nói riêng, các bài tập thể dục
thể thao được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt, tác động trực tiếp đến đối
tượng tập luyện nhằm đạt được mục đích giáo dục thể chất.
Dựa theo các quan điểm khác nhau, các bài tập thể dục thể thao dùng trong giảng
dạy, huấn luyện được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Một trong những cách
phân loại phổ biến nhất là phân thành các bài tập nhằm tạo điều kiện cho việc nắm
vững kĩ thuật động tác và các bài tập thể lực chuyên môn nhằm phát triển các tố
chất thể lực: sức mạnh, sức nhanh, sức bền Trên thực tế các tố chất này thể hiện
dưới dạng tổng hợp gắn liền với nhau. Tuy nhiên, trong cự li ngắn thì tốc độ và sức
nhanh thể hiện rõ ràng hơn. Để đạt được thành tích cao trong chạy cự li ngắn thì
cần phối hợp có hiệu quả và sử dụng các bài tập huấn luyện về sức mạnh tốc độ,
sức nhanh Phải được lựa chọn phù hợp với lứa tuổi, giới tính và điều kiện cơ sở
vật chất từng địa phương.
1.2. Nguyên lí kĩ thuật và tác dụng tập luyện môn chạy cự li ngắn
1.2.1. Nguyên lí kĩ thuật chạy cự li ngắn
Môn chạy cự li ngắn có các cự li 60m, 100m, 200m, 400m. Chạy cự li ngắn là

một hoạt động có tính chu kì, có cường độ tối đa, chủ yếu phát triển sức mạnh bền
tốc độ. Đặc điểm chung của cự li ngắn là tốc độ cao nhất, cường độ lớn nhất và
thời gian ngắn nhất. Một chu kì hoạt động trong chạy cự li ngắn đều có hai bước
chạy, bao gồm bốn thời kỳ: chống tựa của một chân, bay, chống tựa của chân kia,
bay. Mỗi thời kì chống tựa có hai giai đoạn:
- Giai đoạn chống trước: Từ khi chân lăng mới tiếp xúc xuống mặt đất tới khi tổng
trọng tâm của cơ thể dọi thẳng góc xuống chân chống tựa ( thời điểm thẳng đứng ).
- Giai đoạn chống sau: Từ khi tổng trọng tâm cơ thể dọi thẳng góc xuống chân
chống tựa ( thời điểm thẳng đứng ) tới khi chân chống tựa đạp sau rời khỏi mặt đất.
Bước chạy càng tích cực, tốc độ càng nhanh thì thời kì bay trên không càng ngắn,
hệ số tích cực của bước chạy càng nhỏ.
Như vậy, muốn chạy nhanh phải giảm thời gian bay trên không. Hay nói cách
khác, trong giai đoạn chống sau, phải giảm tốc độ chống sau và tăng lực đạp sau để
đưa cơ thể chuyển động nhanh về phía trước. Ở giai đoạn chống sau, các cơ duỗi
chân chống tựa phải hoạt động rất tích cực theo chế độ khắc phục đạp thẳng hết
chân. Các cơ chân kia ( chủ yếu là cơ đầu đùi ) cũng phải hoạt động tích cực, để
phối hợp với đánh đùi phía trước lên trên. Muốn đánh đùi của chân lăng tích cực
và nhanh, cẳng chân phải theo quán tính gập sát với đùi trên để rút ngắn bán kính
chuyển động, tăng tốc độ góc.
Ngoài hoạt động của hai chân còn có sự phối hợp hiệu quả của các cơ tham gia
đánh tay và các cơ tham gia giữ thân trên ở vị trí hợp lí. Giai đoạn chống sau có
liên quan mật thiết hữu cơ với giai đoạn chống trước, giai đoạn chống trước lại có
liên quan tới thời kỳ bay.
Trong khi chạy xuất phát thấp, thân người ngã nhiều về phía trước. Ở các bước
đầu, chân chống tựa đặt phía sau điểm dọi của trọng tâm cơ thể, ít bị tác động bất
lợi của phản lực chống tựa. Trọng tâm cơ thể cao nhất ở thời kỳ bay và thấp nhất ở
thời kỳ chống tựa. Trọng tâm cơ thể càng ít di động thì tốc độ càng cao.
Trong quá trình chạy, tốc độ bước chạy phụ thuộc vào tần số bước và độ dài
bước. Những công trình nghiên cứu chưa nhất trí khẳng định: Tốc độ trong chạy cự
li ngắn phụ thuộc vào tần số bước chạy hay độ dài bước. Tuy nhiên một số công

trình gần đây khẳng định tốc độ bước chạy phụ thuộc vào tần số bước chạy với độ
dài bước thích hợp. Động tác chạy phải hết sức thoải mái, không bị căng thẳng, kết
hợp tốt việc phối hợp bước chạy với hô hấp.
1.3. Đặc điểm tâm - sinh lý và phát triển thể chất của học sinh THCS
1.3.1. Đặc điểm tâm lý
Các em có những bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần. Các em đang
tách dần khỏi thời kỳ thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởng thành. Các em không
còn là trẻ em nữa, nhưng cũng chưa phải là người lớn. Do đó các nhà tâm lý học
thường gọi giai đoạn này là thời kỳ quá độ chuyển từ trẻ con sang người lớn.
Trong giai đoạn này, trẻ em được hình thành những phẩm chất về trí tuệ, tình cảm,
ý chí. Đặc trưng của giai đoạn này là sự phát dục, hay còn gọi là tuổi dậy thì, nó
ảnh hưởng không nhỏ đến cá tính của các em. Tuổi dậy thì đã đem lại cho các em
nhiều cảm xúc, ý nghĩ, hứng thú, tính cách mới mẻ mà trước đay các em chưa ý
thức được.
Trong quan hệ với người xung quanh các em cũng gần gũi hơn. Các em muốn
làm người lớn, biết lo lắng trách nhiệm, hăng hái nhiệt tình đi tìm cái mới. Tuy
nhiên các em chưa có kinh nghiệm tự lượng sức mình, dễ lẫn lộn giữa tình cảm và
liều lĩnh, giữa khiêm tốn và nhu nhược. Các em đòi hỏi người lớn phải công nhận
khả năng và tôn trọng nhân cách của mình.
Tính độc lập ở lứa tuổi này cũng phát triển. Các em có thể gánh vác nhiều công
việc gia đình, nhà trường và xã hội. Các em có khả năng tổ chức tập thể tự quản.
Song không phải lúc nào các em cũng có quan điểm đúng đắn, vì thế chúng ta cần
đánh giá đúng tính độc lập của các em. Hơn lứa tuổi nào hết, sự phát triển của trẻ
em ở lứa tuổi này mang tính độc đáo nổi bật, nhất là tính chất quá độ “ vừa trẻ con,
vừa người lớn”.
1.3.2. Đặc điểm sinh lý
Ở lứa tuổi này diễn ra quá trình phát dục mạnh mẽ. Cơ thể các em phát triển
nhanh, mạnh nhưng mất cân đối giữa các mặt đòi hỏi các nhà giáo dục phải biết
chăm sóc các em thật chu đáo. Tập thể dục, vệ sinh, nghỉ ngơi không hợp lí sẽ dẫn
đến những nguy hại không nhỏ sau này. Học tập và lao động quá sức dễ mắc bệnh.

Nếu có biện pháp đúng sẽ phát triển được nhiều tài năng ở lứa tuổi này, kể cả
những tài năng thể thao.
Dưới ảnh hưởng của tập luyện, cơ thể học sinh có khả năng thực hiện một hoạt
động cơ bắp nhất định với thành tích cao. Đó là quá trình tạo cho con người thích
nghi với hoạt động cơ bắp, nhờ hoàn thiện sự điều khiển và phối hợp hoạt động
giữa các hệ chức năng, trên cơ sở những biến đổi về cấu tạo, chức năng và sinh hóa
trong cơ thể.
* Hệ thần kinh:
Ở học sinh cấp II, quá trình hưng phấn vẫn chiếm ưu thế so với quá trình ức chế.
Sự phối hợp động tác ở lứa tuổi này vẫn còn kém, động tác cứng, vụng về. Mặc dù
các biểu hiện trên chỉ mang tính tạm thời, song vẫn cần được chú ý trong tập luyện
thể dục thể thao. Khả năng phân tích tổng hợp của các em còn thấp nhưng sâu sắc
hơn tuổi nhi đồng, dễ thành lập phản xạ. Song cũng dễ bị phai mờ, vì thế các em dễ
tiếp thu nhưng chóng quên. Hệ thần kinh thực vật của các em còn yếu, các dấu
hiệu về kích thích cảm giác tăng lên, các biểu hiện chủ quan, lo lắng rất hay gặp.
Một số em hay xuất hiện đau đầu một cách vô cớ, chóng mệt mỏi, dễ bị chấn
thương thần kinh khi bị rối loạn giấc ngủ, do làm việc nặng nhọc hay học tập qua
sức.
* Trao đổi vật chất và năng lượng
Đặc điểm chính của lứa tuổi này là quá trình đồng hóa chiếm ưu thế so với quá
trình dị hóa, do nhu cầu hình thành và phát triển cơ thể. Cơ thể các em đang phát
triển cần nhiều đạm, nhu cầu đạm cao cả về số lượng và chất lượng. Ngược lại nhu
cầu về đường và mỡ giảm dần theo lứa tuổi. Sự điều hòa trao đổi đường ở cơ thể
các em kém hoàn thiện hơn so với người lớn.
Nước và chất khoáng có ý nghĩa quan trọng đối với cơ thể của các em.Trẻ càng
phát triển nhanh thì nhu cầu nước càng lớn. Các chất khoáng, đặc biệt là Canxi rất cần thiết cho việc tạo
xương. Nhu cầu về chất khoáng tăng cao trong thời kỳ tăng trưởng mạnh của cơ thể và trong tuổi dậy thì.
Sự tiêu hao năng lượng trong hoạt động thể lực cũng phụ thuộc vào lứa tuổi. Trong cùng một hoạt động
các em bao giờ cũng tiêu hao nhiều năng lượng so với người lớn.
* Hệ vận động:

Đặc điểm chung là hệ vận động phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Xương đang cốt hóa
mạnh mẽ, dài ra rất nhanh nên chịu lực kém. Với các xương nhỏ như xương cổ tay, cổ chân nếu tập lực
hoặc lao động nặng dễ gây đau kéo dài.
Cơ bắp của các em phát triển chậm hơn xương, chủ yếu phát triển chiều dài cơ. Sự phát triển cơ bắp cũng
không đồng đều, các cơ co và cơ to phát triển mạnh hơn các cơ duỗi và nhỏ. Điều đó khiến các em không
phát huy được khả năng sức mạnh của mình và mau xuất hiện mệt mỏi.
* Hệ tuần hoàn:
Các kích thước tuyệt đối cũng như tương đối của tim tăng dần. Tim phát triển rất mạnh (khoảng 200g).
Độ dày thành tâm thất trái tăng đáng kể, đường kính động mạch chủ tăng. Kích thước của tim các em ở
lứa tuổi này chịu ảnh hưởng rất lớn từ việc tập luyện thể dục thể thao. Tần số co bóp của tim giảm dần
theo lứa tuổi (khoảng 80 lần/phút). Cơ năng của tim đang còn trong quá trình phát triển, sự điều tiết còn
chưa ổn định, lực co bóp còn yếu, họat động quá nhiều, quá căng thẳng sẽ làm tim chóng mệt mỏi. Huyết
áp có thể tạm thời tăng đến 15mmHg do hoạt động mạnh của tuyến nội tiết.
Nhịp tim của các em thiếu ổn định và thay đổi nhiều hơn so với người lớn. Sự hồi phục ở các em đối với
lượng vận động nhỏ diễn ra nhanh hơn so với người lớn. Ngược lại, với những lượng vận động lớn cơ thể
các em hồi phục chậm hơn người trưởng thành, do khả năng tạo hồng cầu kém. Có thể tập chạy cự ly
ngắn và trung bình, các môn bóng có giới hạn về thời gian.
1.3.3. Đặc điểm phát triển thể chất:
Điểm đặc trưng của lứa tuổi này là quá trình phát dục mạnh mẽ. Các tuyến nội tiết tăng cường hoạt
động, kích thích cơ thể lớn nhanh lên. Chân, tay dài ra, động tác vụng về. Hằng năm, các em có thể cao
thêm từ 7 – 10 cm. Khung chậu, lồng ngực phát triển, các cơ phát triển nhanh làm tăng các tố chất thể lực
nhưng thời gian tập luyện không nên quá dài vì dự trữ Glycogen còn kém.
1.4. Đặc điểm các tố chất thể lực của học sinh lứa tuổi 12 – 13:
Tố chất thể lực là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người. Tố chất thể lực tăng
trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi. Sự tăng trưởng này còn gọi là sự tăng trưởng tự nhiên. Khuynh
hướng của sự tăng trưởng này có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kỳ dậy thì. Nam khoảng 15 tuổi, nữ
khoảng 12 tuổi. Giai đọan lứa tuổi khác nhau tốc độ phát triển tố chất thể lực khác nhau. Sự phát triển tố
chất thể lực gồm hai giai đọan:
- Giai đọan tăng trưởng: là giai đọan tố chất thể lực tăng liên tục, trong đó có giai đọan tăng nhanh và
tăng chậm. Trong giai đoạn tăng trưởng nhanh các tố chất vận động được gọi là thời kỳ mẫn cảm của sự

phát triển tố chất thể lực.
- Giai đọan ổn định: là giai đọan tố chất thể lực có tốc độ tăng chậm rõ ràng, hoặc dừng lại, hoặc có thể
giảm xuống.
Tố chất thể lực là cơ sở tiếp thu và thực hiện kỹ thuật, chiến thuật. Tố chất thể lực càng tốt thì càng dễ
tiếp thu và vận dụng nhanh kỹ thuật, ngược lại kỹ thuật càng tốt thì càng thể hiện trình độ thể lực cao. Tố
chất thể lực gồm có: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo. Việc phát triển các tố chất thể
lực ở lứa tuổi này tương đối thuận lợi, vì cơ thể các em đang độ tuổi phát triển cao.
*Tố chất mạnh:
Sự phát triển tố chất mạnh có liên quan đến sự phát dục của hệ thần kinh và cơ bắp. Nhưng ở các bộ
phận khác nhau của cơ thể, sự phát triển tố chất mạnh không giống nhau. Sức mạnh lưng, bụng phát triển
sớm (ở giai đoạn tiểu học bắt đầu phát triển nhanh), sức mạnh tĩnh lực phát triển chậm, còn sức mạnh bộc
phát sau lứa tuổi trung học cơ sở mới phát triển nhanh.
Sức mạnh lớn hay bé phụ thuộc vào tiết diện sinh lý cơ. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của sức
mạnh tương đối khoảng 3 %. Nguyên nhân chủ yếu tạo nên hiện tượng này là do sự tăng trưởng của chiều
cao, cân nặng. Trẻ em những năm 12 tuổi đối với nữ, 13 tuổi đối với nam có sức mạnh tương đối phát
triển khá nhanh. Đây là thời kỳ qúy giá nhất để phát triển sức mạnh tương đối.
* Tố chất nhanh:
Sự phát triển tố chất nhanh sớm hơn phát triển tố chất mạnh. Thời kỳ phát triển tố chất nhanh quan
trọng nhất là ở lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở. Do đó trong giảng dạy và huấn luyện thể dục cần tiến
hành tập các bài tập phát triển tố chất nhanh trong giai đọan này là chính như: chạy ngắn, bơi lội, xe đạp,
bóng bàn và các môn bóng.
* Tố chất bền:
Sự phát triển tố chất bền muộn hơn phá triển tố chất nhanh. Bởi vì tố chất bền có liên quan mật thiết đối
với sự phát triển của hệ tuần hoàn, hệ hô hấp và khả năng ổn định của cơ thể. Trong giai đoạn đầu của sự
phát dục, quá trình Oxy hóa của trạng thái yên tĩnh thịnh vượng hơn so với người trưởng thành, lượng
tiêu thụ Oxy
lớn, làm lượng Hemoglobin, Mogolobin tương đối ít, công năng tim – phổi tương đối yếu. Do sự phát
triển của hệ hô hấp và hệ tuần hoàn chưa hoàn thiện, nên ở lứa tuổi này các em chưa có khả năng chịu
đựng lượng vận động sức bền lớn. Nên tập luyện các bài tập sức bền trong thời gian ngắn.
* Tố chất mềm dẻo, khéo léo:

Giai đoạn này tố chất mềm dẻo – khéo léo của các em phát triển rất tốt. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc
phát triển thành tích thể thao của các em sau này. Có thể tập luyện và phát triển tốt các môn như thể dục
nhịp điệu, nhào lộn…
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Vài nét về trường Trung học cơ sở Hương Toàn
2.1.1. Khái quát về trường
Trường THCS Hương Toàn ở vị trí trung tâm xã Hương Toàn có đường tỉnh lộ
8B ngang qua, phía sau là đường Nguyễn Chí Thanh nằm ở vùng đất nổi tiếng xứ
Huế về làng quýt Hương Cần.
Hiện nay, trường THCS Hương Toàn có 28 lớp, 926 học sinh, 63 cán bộ giáo
viên nhân viên, trong đó có 45 người có trình độ Đại học, 100% đạt chuẩn, chi bộ
có 13 đảng viên. Bộ mặt trường có nhiều đổi thay so với những năm học trước với
hệ thống tường rào cổng, cửa kiên cố, cây xanh rợp bóng sân trường, các lối đi
được bê tông hóa, sân bóng đá, khu tập thể dục thể thao đúng qui cách, 3 dẫy nhà
với 14 phòng học, 3 phòng học bộ môn : Tin học, Lý Công nghệ, Sinh Hóa, phòng
thiết bị dùng chung, phòng Thư viện, phòng truyền thống, phòng y tế, phòng sinh
hoạt Hội đồng sư phạm, có đủ phòng làm việc của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng,
Công đoàn, Đội TNTP, nhân viên hành chính, hệ thống máy vi tính được nối mạng
Internet, Website thông tin trên mạng : thcshuongtoan-tthu.edu.vn.
Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trường THCS Hương Toàn đã
thực hiện đổi mới trong nhiệm vụ công tác được phân công của mình như giảng
dạy, phụ đạo, bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu, các tiết thực hành bộ
môn mà mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
trong năm 2009 -2010 và những năm tiếp theo. Bên cạnh đó, trường đã bước đầu
thực hiện và sử dụng phần mềm công nghệ thông tin trong các hoạt động của nhà
trường như giảng dạy, văn thư lưu trữ, thư viện và thiết bị đồ dùng dạy học để
nâng cao chất lượng giảng dạy và các mặt hoạt động của nhà trường.
Tiếp tục thực hiện phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực với 5 nội dung mà trọng tâm là dạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm địa

phương của học sinh Hương Toàn giúp các em tự tin trong học tập và rèn luyện kỹ
năng sống cho học sinh ; xây dựng môi trường học tập lành mạnh, thân thiện, đoàn
kết, giúp đỡ nhau trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động.
2.1.2. Thuận lợi và khó khăn của nhà trường:
Thuận lợi:
- Có sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Giáo dục thành phố Huế, của Đảng ủy, UBND
phường.
- Phường đã đầu tư kinh phí để tăng cường cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị
phục vụ giảng dạy và học tập.
- Trường có một cơ sở nên thuận tiện cho việc tổ chức và quản lí các hoạt động
giáo dục chung.
- Địa phương, phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của các em,
có chỉ đạo và tham gia cùng nhà trường để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học.
- Đội ngũ giáo viên có năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật cao, tích cực trong giảng
dạy và các hoạt động của nhà trường.
- Công đoàn, nhà trường luôn phối hợp chặt chẽ để thực hiện tốt các phong trào thi
đua, các cuộc vận động của các ban ngành.
Khó khăn:
- Học sinh của trường đa số có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhiều gia đình đông
con nên phụ huynh giao phó việc học tập và dạy dỗ con em mình cho nhà trường
và cô giáo chủ nhiệm.
- Trường đóng trên quỹ đất thường xuyên ngập lụt.
2.1.3. Tình hình và chất lượng dạy - học của lớp 7/3
 Tình hình lớp 7/3:
2.2. Giải pháp nhằm nâng cao thành tích chạy cho học sinh lớp 7
2.2.1. Lựa chọn một số bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao thành tích
chạy 60 m cho học sinh lớp 7:
Các bài tập được chọn: - Chạy bước nhỏ.
- Chạy nâng cao đùi.
- Chạy đạp sau.

- Chạy lặp lại tốc độ cao.
- Chạy biến tốc 30m x 3 lần.
- Nhảy lò cò đổi chân.
- Nhảy dây tùy sức.
- Chạy 60m tốc độ cao.
Và các bài tập khác.
2.2.2. Ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao thành tích chạy 60m:
Sau khi nghiên cứu thực trạng, chọn lựa bài tập, tôi tiến hành soạn thảo chương
trình ứng dụng cụ thể như sau:
Bước 1: Lập tiến trình biểu theo phân phối chương trình của Bộ giáo dục và đào
tạo năm học 2013 – 2014
Bước 2: Soạn giáo án cho nhóm thực nghiệm theo chương trình của tiến trình biểu.
Bước 3: Ứng dụng vào chương trình giảng dạy. Tiến hành giảng dạy dựa theo tiến
trình biểu, giáo án đã soạn và các bài tập đã được lựa chọn trên nhóm thực nghiệm.
2.2.3. Đánh giá kết quả thành tích chạy 60m.
Qua thời gian ứng dụng, tôi thu được kết quả như sau:
Thành tích
Nam Nữ
9 – 10 ≤ 11”50 ≤ 13”40
7 – 8 10” 51 – 11”20 12”41 - 13”20
5 – 6 12”21 – 13”00 13”21 - 14”90
4 ≥ 13”01 ≥ 14”91
Chương 3
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1. Kết luận
Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu nêu trên, tôi rút ra một số kết luận sau:
Kết quả nghiên cứu đã lựa chọn được bài tập bổ trợ trong việc nâng cao thành tích
chạy cự ly ngắn cho học sinh lớp 7/3 Trường THCS Hương Toàn. Các bài tập có hiệu
quả cao là:
- Chạy bước nhỏ.

- Chạy nâng cao đùi.
- Chạy đạp sau.
- Chạy lặp lại tốc độ cao.
- Chạy biến tốc 30m x 3 lần.
- Nhảy lò cò đổi chân.
- Nhảy dây tùy sức.
- Chạy 60m tốc độ cao
Kết quả nghiên cứu cho chúng ta thấy rõ hiệu quả của các bài tập bổ trợ rất phù hợp
để tập luyện môn chạy cự ly ngắn.
Quá trình thực hiện phương pháp nghiên cứu ứng dụng các bài tập vào giảng dạy kết
quả thu được thành tích chạy 60m của học sinh lớp 7 tăng. Tuy nhiên việc ứng dụng
các bài tập bổ trợ để đạt hiệu quả cao hơn nữa thì cần phải được ứng dụng một cách
tích cực hơn trong công tác giảng dạy
3.2. Đề xuất
 Đối với giáo viên:
- Sử dụng nhiều bài tập bổ trợ phù hợp nhằm nâng cao thành tích chạy cho học
sinh.
- Nhiệt tình trong giảng dạy, đảm bảo đầy đủ đồ dùng học tập, thiết bị dạy học.
- Tổ chuyên môn cần thường xuyên tổ chức hội thảo các chuyên đề về đổi mới
phương pháp, tổ chức các cuộc thi chạy để rèn luyện cho các em
 Đối với nhà trường và các cấp:
- Tăng cường tài liệu nghiên cứu, sách tham khảo cho giáo viên.
Tài liệu tham khảo
1.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy thể dục trường trung học cơ sở (Nhà xuất bản
giáo dục năm 1997)
2.Điền kinh và Thể dục (Nhà xuất bản Thể dục thể thao năm 1998 vụ giáo dục thể
chất)
3.Điền kinh trong trường phổ thông (Nhà xuất bản Thể dục thể thao –Hà Nội 2000)
4.Một số vấn để đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở môn Thể
dục (Bộ giáo dục và đào tạo năm 2004)

×