Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Tổ chức một số hoạt động ngoại khóa cho học sinh dân tộc thiểu số trường văn hóa I góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Toán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 120 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––––


ĐỖ ÁNH DƢƠNG



TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRƢỜNG VĂN HÓA I - BỘ CÔNG AN GÓP PHẦN
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN


Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp giảng dạy bộ môn Toán
Mã số: 60.14.10



L
L
U
U


N


N


V
V
Ă
Ă
N
N


T
T
H
H


C
C


S
S
Ĩ
Ĩ




K

K
H
H
O
O
A
A


H
H


C
C


G
G
I
I
Á
Á
O
O


D
D



C
C




Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thanh Hải






THÁI NGUYÊN - NĂM 2012



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của các cá nhân, tập thể và thầy cô giáo trong nhà trường.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa sau đại học,
khoa Toán cùng toàn thể các thầy cô giáo trường ĐHSP – Đại học Thái
Nguyên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập tại trường.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trịnh Thanh Hải

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Em cũng chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp và các em
học sinh trường Văn hóa I – Bộ Công an đã tạo điều kiện thuận lợi cho em
trong quá trình thu thập tài liệu, khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm để
thực hiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi
của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn học viên để luận văn được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


Thái Nguyên, ngày 20 tháng 08 năm 2012
HỌC VIÊN



Đỗ Ánh Dƣơng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.




Thái Nguyên, ngày 20 tháng 08 năm 2012

HỌC VIÊN




Đỗ Ánh Dƣơng











Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Trang
Lời cảm ơn
i
Lời cam đoan

ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
vi
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1
NỘI DUNG

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
6
1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trƣờng phổ thông
6
1.1.1. Mục tiêu giáo dục phổ thông
6
1.1.2. Nhiệm vụ của quá trình dạy học
6
1.1.3. Nguyên tắc dạy học
8
1.2. Hình thức tổ chức dạy học ở nhà trƣờng phổ thông
9
1.3. Đặc điểm và nhiệm vụ của môn toán ở trƣờng phổ thông
13
1.3.1. Đặc điểm của môn toán ở trường phổ thông
13
1.3.2. Nhiệm vụ của dạy học toán ở trường phổ thông
14
1.4. Định hƣớng đổi mới PPDH ở trƣờng phổ thông
15
1.4.1 Sử dụng các PPDH truyền thống theo tỉnh thần phát huy tính tích

cực, chủ động, sáng tạo của HS.
15
1.4.2. Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang
phương pháp thiên về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh
kiến thức và kỹ năng.
15
1.4.3. Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hoà với
học tập hợp tác.
16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
1.4.4. Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học
17
1.4.5. Coi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền thụ kiến
thức
18
1.4.6. Đổi mới kiêm tra đánh giá kết quả học tập của HS
18
1.4.7. Tăng cường sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy
học toán
18
1.5.Tính tích cực của HS trong hoạt động học tập
19
1.5.1. Khái niệm về tính tích cực và tích cực nhận thức trong học tập
19
1.5.2. Những dấu hiệu của tính tích cực nhận thức
20
1.5.3. Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS

21
1.6. HĐNK trong dạy học toán ở trƣờng phổ thông
22
1.6.1. Vị trí, vai trò của HĐNK
22
1.6.2 Đặc điểm của HĐNK toán học
23
1.6.3. Mục đích, ý nghĩa của HĐNK toán học
24
1.6.4. Phương pháp dạy học ngoại khóa toán học
25
1.7. Tổng quan chung về HS các trƣờng Văn hóa - Bộ Công an
25
1.7.1. Giới thiệu về hệ thống các trường Văn hóa - Bộ Công An
25
1.7.2. Đặc điểm của HS trường VHI - BCA
26
1.8. Điều tra thực trạng dạy học phần kiến thức Toán 12 - THPT tại
trƣờng Văn hóa I - Bộ Công an
31
1.8.1. Kết quả điều tra
32
1.8.2. Thực trạng hoạt động học của HS trong các giờ học Toán
35
KẾT LUẬN CHƢƠNG I
37
Chƣơng 2: TỔ CHỨC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ NGOẠI KHÓA
TRONG CHƢƠNG TRÌNH TOÁN 12 - THPT
38


2.1. Định hƣớng cho việc xây dựng các chuyên đề
38
2.2. Quy trình tổ chức HĐNK toán học
39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
2.3. Thiết kế các chuyên đề
40
2.3.1. Chuyên đề 1: Rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS qua chủ đề
"Các loại điểm liên quan đến đồ thị hàm số"
40
2.2.2 Chuyên đề 2: Tổ chức hội thi “Tìm sai lầm trong lời giải toán”
63

2.2.3. Chuyên đề 3: Hướng dẫn sử dụng máy tính điện tử cầm tay
Casio FX500MS để giải toán
78
KẾT LUẬN CHƢƠNG II
99
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

100
3.1. Mục đích thực nghiệm
100
3.2. Đối tƣợng, cơ sở, thời gian tiến hành thực nghiệm sƣ phạm
100
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
100

3.4. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sƣ phạm
101
3.4.1. Phân tích đánh giá chuyên đề 1
101
3.4.2. Phân tích đánh giá chuyên đề 2
102
3.4.3. Phân tích đánh giá chuyên đề 3
104
3.4.4. Đánh giá chung
105
3.4.5. HS đánh giá về vai trò của HĐNK toán
106
KẾT LUẬN CHƢƠNG III
107
KẾT LUẬN
108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
109
PHỤ LỤC
110





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT


STT
CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ
CỤM TỪ VIẾT TẮT
1
Câu hỏi
(?)
2
Câu trả lời
(!)
3
Công nghệ thông tin
CNTT
4
Dạy học ngoại khóa
DHNK
5
Dòng lệnh
DL
6
Giáo viên
GV
7
Hoạt động ngoại khóa
HĐNK
8
Học sinh
HS
9
Máy tính điện tử
MTĐT

10
Phƣơng pháp dạy học
PPDH
11
Sách giáo khoa
SGK
12
Thực nghiệm sƣ phạm
TNSP
13
Trung học phổ thông
THPT
14
Văn hóa I - Bộ Công an
VHI - BCA











Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nhiệm vụ đào tạo của nhà trƣờng phổ thông Việt Nam là hình thành
những cơ sở ban đầu và trọng yếu của con ngƣời mới phát triển toàn diện,
Nghị quyết hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng
sản Việt Nam khóa VIII đã khẳng định: “ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của
giáo dục nhằm xây dựng những con người và thế hệ gắn bó với lý tưởng độc
lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn
và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa của
nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức
cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học
và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác
phong công nghiệp có tính tổ chức kỷ luật”
 
16
.
Việt Nam ta là một nhà nƣớc độc lập, thống nhất gồm nhiều dân tộc anh
em chung sống. Đối với các dân tộc thì tình yêu quê hƣơng, yêu dân tộc, yêu
đất nƣớc gắn bó chặt chẽ với nhau là cả một quá trình trong sự nghiệp giải
phóng đất nƣớc và xây dựng cuộc sống mới. Sinh thời, Bác Hồ từng kêu gọi:
“Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ Quốc. Phải ra
sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp”
.

Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22
của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ với các chƣơng trình chình
có mục tiêu theo định hƣớng Xã hội Chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh đến việc
chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện cho kinh tế -
xã hội các vùng dân tộc và miền núi có một sự phát triển mới phù hợp với
tiềm năng và thế mạnh của từng vùng. Quá trình đô thị hoá ở miền núi đã và

đang khởi sắc, ở đó cƣ dân các dân tộc ít ngƣời đang tăng lên, đời sống dân trí

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
không ngừng đƣợc nâng cao.
Song song với sự phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá
cũng đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Hệ thống trƣờng phổ thông dân tộc nội trú,
các trƣờng dự bị Đại học dân tộc, các lớp riêng cho con em dân tộc ít ngƣời,
các trƣờng Đại học hoặc trung học chuyên nghiệp ở Việt Bắc, Tây Bắc, Tây
Nguyên, Nam Bộ đã đào tạo ra nguồn nhân lực rất quan trọng cho các địa
bàn miền núi, biên giới và hải đảo.
1.2. Để đáp ứng đƣợc những yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay, đòi
hỏi ngành giáo dục phải đổi mới toàn diện; Đổi mới về cơ cấu tổ chức, nội
dung, phƣơng pháp giảng dạy và học theo hƣớng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã
hội hoá. Trong hệ thống giáo dục của nƣớc ta hiện nay thì bậc học phổ thông
đóng vai trò vô cùng quan trọng. Định hƣớng đổi mới PPDH đƣợc nêu lên
trong luật giáo dục (2005), trong đó điều 27.1 nêu rõ " Mục tiêu của giáo dục
phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo,
hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách
và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc."
Mặt khác, giáo dục là một hoạt động kết hợp giữa vai trò chủ đạo của
ngƣời thầy với sự tự giác, tích cực và độc lập tự giáo dục, rèn luyện của HS
nhằm hình thành ý thức, tình cảm phù hợp với các chuẩn mực xã hội quy định.
HĐNK là một hình thức dạy học ngoài giờ lên lớp, nó có một ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện của HS, nó là
phƣơng tiện để phát huy năng lực và tài năng của HS, làm thức tỉnh hứng thú
của các em về môn học. HĐNK có nội dung phong phú, các hình thức giáo

dục đa dạng, hấp dẫn, có phạm vi tiến hành rộng rãi, có khả năng kết hợp tốt
các lực lƣợng giáo dục. Chính điều này sẽ tạo hứng thú học tập, củng cố kiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
thức, rèn luyện khả năng tƣ duy, ứng xử của ngƣời học, thực hiện tốt đƣợc
mục tiêu giáo dục phổ thông và nhiệm vụ dạy học chung.
1.3. Hệ thống các trƣờng Văn hóa thuộc Bộ Công an gồm 3 trƣờng phân
bố ở 3 miền Bắc, Trung, Nam. Đó là hệ thống các trƣờng chuyên biệt với sức
mạnh là đào tạo văn hóa bậc THPT cho con em đồng bào các dân tộc vùng
cao, nơi biên cƣơng hải đảo tạo nguồn cho các trƣờng Trung cấp An ninh và
Học viện An ninh và sau này khi tốt nghiệp các em sẽ là những chiến sĩ Công
an công tác tại những vùng đặc biệt khó khăn, nơi biên giới hải đảo địa đầu
của tổ quốc.
Thực tiễn ở các trƣờng THPT, đặc biệt là trƣờng VHI - BCA, HĐNK
môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung ít đƣợc quan tâm và đầu
tƣ đúng mức. Trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay hình thức dạy học lớp-bài
vẫn đƣợc thực hiện một cách phổ biến.
Trên thực tế đối với các HS THPT, đặc biệt là mô hình các trƣờng dân
tộc nội trú luôn có nhiều điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động ngoài
giờ lên lớp. Về thời gian, ngoài giờ học chính khóa, HS có các buổi tự học ở
lớp và ở phòng có sự quản lý của GV chủ nhiệm lớp cùng các GV phụ trách.
Hơn nữa các em đang ở lứa tuổi ham thích hoạt động, ham thích tìm tòi, khám
phá, do đó HĐNK sẽ là cơ hội để các em mở rộng kiến thức và thể hiện chính
mình. Những yếu tố trên là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các HĐNK
nói chung và đặc biệt là ngoại khóa toán học.
Trên cơ sở những lý do đã trình bày ở trên và để nâng cao hiệu quả trong
quá trình dạy học, đồng thời góp phần phát huy tính tích cực trong nhận thức
cho HS THPT nói chung và đặc biệt là HS dân tộc ít ngƣời nói riêng, tôi đã

lựa chọn đề tài “Tổ chức một số hoạt động ngoại khóa cho học sinh dân
tộc thiểu số Trƣờng Văn Hóa I - Bộ Công An góp phần nâng cao chất
lƣợng dạy học bộ môn Toán”

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Thiết kế một số chuyên đề ngoại khóa nhằm tích cực hóa hoạt động học
tập của HS trong dạy học bộ môn Toán cho HS trƣờng VHI - BCA góp phần
nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
 Khách thể: Quá trình dạy học bộ môn toán THPT.
 Đối tƣợng ngiên cứu: Dạy học một số chuyên đề ngoại khóa trong
chƣơng trình toán THPT cho HS trƣờng VHI - BCA.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu ta xây dựng đƣợc những chuyên đề và đƣa ra đƣợc hình thức thực
hiện các chuyên đề phù hợp với đặc điểm của HS các trƣờng Văn hóa thuộc
Bộ Công an thì sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS. Qua đó sẽ
góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học bộ môn toán và chất lƣợng đầu vào
cho các Học viện, trƣờng Đại học và Trung cấp của Ngành Công an.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy nói chung và dạy học
ngoại khóa nói riêng .
5.2. Khảo sát thực trạng việc dạy học toán tại trƣờng VHI - BCA.
5.3. Thiết kế một số chuyên đề ngoại khóa và đề xuất giải pháp cho việc
tổ chức dạy học ngoại khóa bộ môn toán tại trƣờng VHI - BCA.
5.4. Tổ chức thực hiện tại trƣờng VHI - BCA, tổng kết và rút ra một số
kết luận cần thiết cho việc dạy học ngoại khóa.
6. PHẠM VI ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

Giới hạn trong chƣơng trình toán lớp 12 THPT ở trƣờng VHI - BCA.
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
 Nghiên cứu lý luận: nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, giáo dục
học, lý luận dạy học toán, các tài liệu về tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
lên lớp, điều tra thực tiễn.
 Phƣơng pháp chuyên gia: Thăm dò ý kiến, lập phiếu điều tra.
 Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm: thực hiện tổ chức và dạy học
ngoại khóa một số phần kiến thức đã chọn và đánh giá mức độ hoàn thành của
luận văn so với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
8. CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chƣơng II: Tổ chức một số chuyên đề ngoại khóa toán học cho HS trƣờng
VHI - BCA.
Chƣơng III: Thực nghiệm sƣ phạm tại trƣờng VHI - BCA, kết quả đạt đƣợc
khi thực hiện các chuyên đề. Kiến nghị và đề xuất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trƣờng phổ thông
1.1.1. Mục tiêu giáo dục phổ thông
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã đƣợc cụ thể hoá trong luật giáo dục

(2005), trong đó điều 27.1 nêu rõ "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản,
phát triến năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách
con ngƣời Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
1.1.2. Nhiệm vụ của quá trình dạy học
Để đào tạo con ngƣời đủ phẩm chất và năng lực thoả mãn yêu cầu xã
hội, quá trình dạy học phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
 Điểu khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản,
hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nƣớc về tự nhiên, xã hội - nhân văn, đồng
thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tƣơng ứng.
Trong dạy học, phải tổ chức cho ngƣời học nắm vững hệ thống tri thức
phổ thông cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nƣớc về tự nhiên, xã hội, tƣ duy.
Những tri thức khoa học phổ thông cơ bản đƣợc cung cấp cho ngƣời học phải
là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của các lĩnh vực khoa
học, kỹ thuật, văn hoá phù hợp với chân lý khách quan. Trên cơ sở đó hình
thành ở ngƣời học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định nhƣ: tự học; tự nghiên
cứu khoa học ở mức độ thấp; khả năng phân tích, xử lí các tình huống nhằm
giúp cho ngƣời học không chỉ nắm vững tri thức khoa học mà còn biết vận
dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống khác nhau. Vì
vậy, trong quá trình dạy học cần xác định các mức độ chiếm lĩnh tri thức của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
ngƣời học ở các trình độ khác nhau từ nhận biết, tái hiện đến tái tạo, tìm tòi
và cuối cùng là khả năng kết hợp tất cả các mức độ trên.
 Tổ chức điều khiển ngƣời học hình thành phát triển năng lực và những
phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tƣ duy, độc lập, sáng tạo, phát triến thể lực

nâng cao sức khoẻ để phục vụ học tập và lao động.
Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý phát triển ở HS các năng lực trí
tuệ sau: năng lực định hƣớng đúng vấn đề nghiên cứu trong thực tế; năng lực
tƣ duy trừu tƣợng; năng lực di chuyển hành động trí tuệ, dự đoán diễn biến
của các hiện tƣợng; năng lực hoạt động nhận thức độc lập, sáng tạo. Bên cạnh
việc phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ
bồi dƣỡng cho HS một số phẩm chất hoạt động trí tuệ cả về bề rộng, chiều
sâu, tính độc lập, tính phê phán, tính mềm dẻo, tính năng động và tính khái
quát của hoạt động trí tuệ
Nhƣ vậy, trong quá trình dạy học các phẩm chất của hoạt động trí tuệ nói
riêng và trí tuệ nói chung không ngừng phát triển và hoàn thiện. Ngƣợc lại, sự
phát triển trí tuệ trong chừng mực nhất định cũng ảnh hƣởng trở lại đối với
chất lƣợng quá trình dạy học. Nhƣ vậy, giữa dạy học và phát triển trí tuệ có
mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy dạy học cần đi trƣớc và thúc đẩy sự
phát triển của ngƣời học. Muốn thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của ngƣời học
thì việc dạy học phải đảm bảo tính vừa sức với ngƣời học, các nhiệm vụ dạy
học phải tƣơng thích với “vùng phát triển gần nhất” tạo điều kiện đòi hỏi
ngƣời học phải không ngừng vƣơn lên với sự nỗ lực cao nhất.
Để phát triển trí tuệ cho HS cần chú ý tới các điều kiện sau: nắm đƣợc
đặc điểm của đối tƣợng, đặc biệt là trình độ nhận thức của đối tƣợng; lựa
chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp lí; có phƣơng pháp dạy học
thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của HS. Bên cạnh phát triển trí tuệ,
quá trình dạy học có nhiệm vụ chăm lo phát triển thể lực cho HS, giúp các em

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
có sức khoẻ đế học tập và tham gia các hoạt động khác.
 Tổ chức điều khiển ngƣời học, hình thành phát triển thế giới quan khoa
học, nhân sinh quan và các phẩm chất của ngƣời công dân, ngƣời lao động có

bản lĩnh và bản nghĩa cộng đồng.
Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có
nhiệm vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên, xã
hội và tƣ duy Hình thành ở HS niềm tin về tính chân thực và hiệu quả của
kiến thức, hình thành thái độ lành mạnh với thực tiễn, hình thành quan điểm
sống tích cực. Trong quá trình dạy học, GV cần giáo dục cho HS lí tƣởng,
những phẩm chất, nhân cách của con ngƣời mà xã hội đặt ra: yêu nƣớc, yêu
Chủ nghĩa Xã hội, có lòng thƣơng ngƣời, có lòng tự trọng cao, có ý thức pháp
luật
Giữa các nhiệm vụ dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ
nhau cùng thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học. Nhờ nắm vững kỹ năng,
kỹ xảo mà năng lực tƣ duy sáng tạo của con ngƣời không ngừng đƣợc phát
triển, sự phát triển của tƣ duy sẽ kèm theo sự phát triển của thế giới quan
khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất đạo đức của con ngƣời từ đó hình
thành con ngƣời mới đáp ứng yêu cầu của xã hội.
1.1.3. Nguyên tắc dạy học
Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính
chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phƣơng pháp và hình thức
dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và với những tính
quy luật của quá trình dạy học.
Hệ thống các nguyên tắc dạy học bao gồm:
 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo
dục trong dạy học
 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, học đi đôi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
với hành, nhà trƣờng gắn liền với đời sống.
 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học.

 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính
độc lập, sáng tạo của HS và vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học.
 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát
triển tƣ duy lí thuyết.
 Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận
thức của HS.
 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc
điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học.
 Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học.
 Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học.
1.2 . Hình thức tổ chức dạy học ở nhà trƣờng phổ thông.
Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt
động của GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhất
định với những phƣơng pháp, phƣơng tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện
những nhiệm vụ dạy học.
Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc
dạy học có tính tập thể hay tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động nhận
thức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập của
HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập.
Trong thực tế dạy học, ngƣời ta phân ra ba mô hình tổ chức dạy học:
dạng toàn lớp; dạng nhóm; dạng cá nhân.
 Dạng toàn lớp: Mọi HS đồng thời hoàn thành những nhiệm vụ nhận
thức chung.
Ưu điểm: GV có thể điều khiển mọi HS, tích cực điều khiển việc lĩnh
hội tri thức, việc ôn tập và củng cố tri thức cho toàn lớp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Hạn chế: GV khó chú ý đến đặc điểm cá nhân, đặc biệt là đến tốc độ

hoạt động và trình độ hoạt động nhận thức của mỗi HS.
 Dạng nhóm: Từng nhóm HS cùng giải quyết những nhiệm vụ nhận
thức thống nhất. Các em có thể cùng thảo luận các nhiệm vụ nhận thức, vạch
ra con đƣờng giải quyết các nhiệm vụ đó, cuối cùng đạt kết quả chung.
Ưu điểm: GV có thể chú ý tới những nhu cầu riêng của từng nhóm HS,
có thể mở ra khả năng rộng rãi để HS hợp tác hoạt động với nhau cũng nhƣ
kiểm tra lẫn nhau.
Hạn chế: Những cá nhân HS nào đó do học tập thụ động có thể sử dụng
những kết quả mà HS khá thu đƣợc. Mặt khác, nó còn có thể làm nảy sinh
những mâu thuẫn giữa những yêu cầu của GV và mức độ tích cực của cá nhân
HS riêng biệt, những yêu cầu do GV nêu ra hoặc khó quá, hoặc quá dễ so với
trình độ của từng HS.
 Dạng cá nhân: Mỗi HS độc lập hoàn thành nhiệm vụ học tập theo
trình độ và khả năng riêng của mình, không có sự tác động của bạn bè.
Ưu điểm: Phù hợp với mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân HS về
trình độ nhận thức, tốc độ nhận thức, tốc độ làm việc. Dạng này tạo điều kiện
thuận lợi cho mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng của mình, rèn luyện năng
lực nhận thức độc lập. Mặt khác, đối với GV về mặt giảng dạy có thể cá biệt
hoá cao độ trong việc đƣa ra nhiệm vụ nhận thức, kiểm tra và đánh giá kết
quả của HS.
Hạn chế: Dễ làm mất nhiều thời gian, đòi hỏi GV mất nhiều công sức,
không có tác động qua lại, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân HS.
Tóm lại, mỗi dạng tổ chức dạy học đều có những ƣu điểm và nhƣợc điểm
riêng. Thực tiễn dạy học đã khẳng định rằng, muốn phát huy cao độ những tác
dụng của chúng, GV cần khéo léo sử dụng phối hợp các dạng tổ chức dạy học
một cách hiệu quả. Các dạng tổ chức dạy học này đƣợc thực hiện thông qua các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11

hình thức dạy học cụ thể.
*Tổ chức dạy học ở trường phổ thông.
Để thực hiện đƣợc những nhiệm vụ dạy học ở trƣờng phổ thông, hoạt
động dạy học đƣợc tổ chức dƣới nhiều hình thức khác nhau. Đối với thực tiễn
dạy học ở nƣớc ta, quá trình dạy học đƣợc thực hiện bởi nhiều hình thức, có
thể kể đến một số hình thức sau:
 Hình thức lớp – bài : đây là hình thức dạy học cơ bản, là hình thức GV
lên lớp trình bày nội dung kiến thức của một tiết, cùng trình độ nhận thức. Do
đó hình thức này có thể sử dụng để đào tạo hàng loạt HS đáp ứng yêu cầu phổ
cập giáo dục nhƣ yêu cầu đào tạo công nhân lao động. Hình thức này đảm
bảo truyền tải đến ngƣời học những tri thức cơ bản, những kĩ năng, kĩ xảo cần
thiết phục vụ cho đời sống cũng nhƣ lao động sản xuất.
Tuy nhiên, hình thức này vấp phải nhƣợc điểm là không có đủ thời gian
để HS nắm vững ngay tri thức, GV không có đủ điều kiện để chú ý đầy đủ
đến đặc điểm nhận thức của từng HS, không có điều kiện để mở rộng tri thức
vƣợt qua ngoài nội dung, phạm vi chƣơng trình.
 Hình thức học ở nhà: Với hình thức này HS có thể làm đƣợc rất nhiều
công việc nhƣ học bài, làm bài, làm thí nghiệm, đọc sách tham khảo, chuẩn bị
bài mới
Hình thức này có ý nghĩa quan trọng, nó giúp HS mở rộng, đào sâu, hệ
thống hoá và khái quát hoá những điều đã học ở trên lớp, hoàn thiện vốn hiểu
biết. Ngoài ra nó còn giúp HS rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng những tri
thức đã biết vào các tình huống kể cả tình huống mới nảy sinh trong cuộc
sống, trong lao động, sản xuất. Hình thức tự học ở nhà còn giúp HS bƣớc đầu
nắm bắt tri thức mới bằng cách đọc trƣớc SGK, làm trƣớc công việc theo chỉ
dẫn của GV
Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi tính tự giác, tự lực rất cao của HS và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


12
đòi hỏi GV phải có những biện pháp phù hợp mới đem lại hiệu quả cao.
 Hình thức HĐNK
Với hình thức này, HS có thể tham quan học tập, tổ chức thảo luận theo
chuyên đề, tổ chức các buổi dạ hội theo các chủ đề kiến thức
HS có thể mở rộng, đào sâu tri thức, phát triển nghề nghiệp trong tƣơng
lai. Ngoài ra, tham quan, ngoại khoá hay thảo luận một chuyên đề nào đó
cũng giúp HS phát triển óc quan sát, trí tò mò khoa học, bồi dƣỡng HS
phƣơng pháp quan sát và phƣơng pháp phân tích, tổng hợp những tài liệu thu
đƣợc. Ngoài ra, HS còn đƣợc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành, sử dụng
các kiến thức đã học để giải thích các hiện tƣợng trong tự nhiên.
Trƣớc khi tham gia HĐNK, HS kiểm tra những kiến thức đã học, kết
hợp với những tài liệu có liên quan đến hoạt động ngoại khoá do GV cung
cấp, do đó HS có thể mở rộng kiến thức của mình cả về lí thuyết lẫn thực tế.
Nhƣ vậy hoạt động ngoại khoá cũng góp phần làm tƣ duy của HS phát triển,
khả năng phân tích, và giải quyết vấn đề đƣợc nâng lên, rèn luyện khả năng
lập luận cho HS.
HĐNK không chỉ là một hình thức dạy học mà còn là hoạt động vui chơi
bổ ích, lành mạnh. Do vậy HS sẽ hăng hái tham gia, tạo tình cảm, hứng thú
với môn học.
* Lƣu ý khi vận dụng:
HĐNK đƣợc tổ chức trên cơ sở tự nguyện của HS nên việc thu hút các
em tích cực tham gia cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Hoạt động ngoại
khoá đòi hỏi sự nỗ lực nhiệt tình tham gia của GV và HS, đòi hỏi GV phải bỏ
nhiều công sức trong việc tìm chủ đề và nội dung cho hoạt động này. HĐNK
cần sự phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trƣờng và cả ngoài xã
hội trong việc tổ chức hoạt động cũng nhƣ hỗ trợ về kinh phí.
 Hình thức giúp đỡ riêng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


13
Trong quá trình dạy học tất yếu sẽ có sự phân hóa về trình độ nhận thức
và sẽ xuất hiện loại HS là: yếu-kém, khá-giỏi mà việc dạy học đƣợc tiến hành
trên cơ sở chung không thỏa mãn những HS này.
Tóm lai, mỗi một hình thức dạy học đều có những ƣu nhƣợc điểm nhất
định, để hoạt động dạy học đạt kết quả cao, đáp ứng nhu cầu về đổi mới giáo
dục của nƣớc ta hiện nay đòi hỏi ngƣời GV phải biết kết hợp các hình thức
dạy học, lựa chọn các hình thức dạy học sao cho phù hợp với mục đích, mục
tiêu đã đặt ra đối với từng cấp học, môn học.
1.3. Đặc điểm và nhiệm vụ của môn toán ở trƣờng phổ thông
1.3.1. Đặc điểm của môn toán ở trường phổ thông
 Đối tƣợng của môn toán ở trƣờng phổ thông là những hình dạng
không gian, quan hệ số lƣợng, quan hệ lôgic quan trọng nhất của thế giới
khách quan.
 Môn toán so với các môn học khác đƣợc đặc trƣng bởi tính khái quát,
trừu tƣợng cao độ của nó. Thí dụ: toán học nghiên cứu hàm số cho bởi
phƣơng trình: y = ax, là khái quát hóa mối quan hệ chung của nhiều hiện
tƣợng trong thực tiễn khách quan nhƣ:
2CR


(trong hình học), P=UI
(trong điện học), M = 29đ (trong hóa học)
 
14
.
 Môn toán đƣợc đặc trƣng bởi tính lôgic chặt chẽ của nó, nhƣng vì lý
do sƣ phạm, ngƣời ta không sử dụng triệt để phƣơng pháp tiên đề để xây
dựng giáo trình toán học; có nhiều vấn đề còn đƣợc thừa nhận, có những

chứng minh chƣa thật chặt chẽ. Tuy nhiên nhìn chung các kiến thức môn toán
từ lớp 1 đến lớp 12 luôn có tính hệ thống, lôgic của nó; kiến thức học trƣớc là
cơ sở cho kiến thức học sau; khái niệm học sau đƣợc minh họa, định nghĩa
thông qua các khái niệm học trƣớc, từ các mệnh đề này suy ra các mệnh đề
khác một cách tuần tự
 Về mặt phƣơng pháp, môn toán đƣợc đặc trƣng bởi sự kết hợp chặt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tƣợng, giữa phƣơng pháp quy nạp và phƣơng
pháp suy diễn và điều này đƣợc thể hiện ở tất cả các cấp học với từng mức độ
khác nhau, với yêu cầu tăng dần.
1.3.2. Nhiệm vụ của dạy học toán ở trường phổ thông


Làm cho HS nắm vững hệ thống kiến thức và phƣơng pháp toán học cơ
bản, phổ thông, theo quan điểm hiện đại và tinh thần của giáo dục kỹ thuật tổng
hợp và có khả năng vận dụng đƣợc những kiến thức và phƣơng pháp toán học
vào kỹ thuật lao động, quản lý kinh tế, vào việc học các môn học khác (nhƣ vật
lý, hóa học, sinh học, kỹ thuật công nông nghiệp, công nghệ học ). Đây là
nhiệm vụ rất quan trọng vì chỉ có trên cơ sở nắm vững và vận dụng đƣợc kiến
thức, phƣơng pháp toán học mới có điều kiện rèn luyện các mặt khác. Hồ Chủ
Tịch đã dạy:”Cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông, chắc chắn,
thiết thực, thích hợp với nhu cầu về tiền đồ xây dựng nước nhà ”.
 Làm cho HS nắm đƣợc phƣơng pháp suy nghĩ, phƣơng pháp suy luận,
phƣơng pháp học tập để từ đấy rèn luyện năng lực tƣ duy lôgic, độc lập, chính
xác, linh hoạt và sáng tạo, phát triển trí tƣởng tƣợng không gian, có tiềm lực
tập dƣợt nghiên cứu khoa học, có khả năng tự học, có hiểu biết về nhận thức
duy vật biện chứng trong toán học.

 Góp phần rèn luyện, giáo dục cho HS ý thức làm chủ, lòng yêu nƣớc,
yêu lao động, yêu Chủ nghĩa Xã hội (thể hiện qua động cơ hăng say học tập,
có hoài bão lớn góp sức mình cho sự nghiệp cách mạng Xã hội Chủ nghĩa,
cho lý tƣởng Cộng sản Chủ nghĩa, có thế giới quan duy vật biện chứng, nhân
sinh quan Cộng sản Chủ nghĩa), đặc biệt phải rèn luyện một số đức tính quý
báu của ngƣời lao động nhƣ: cẩn thận, chính xác, cần cù, khắc phục khó khăn,
làm việc có kế hoạch, có kỷ luật, năng suất cao, có kiểm tra công việc đã làm,
có ý tức tiết kiệm, trung thực, dám nghĩ dám làm, sáng tạo, làm việc hợp lý
với nhiều cải tiến để có năng xuất cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
 Bảo đảm cho mọi HS đạt yêu cầu chất lƣợng phổ cập về toán học,
đồng thời chú trọng việc phát hiện và bồi dƣỡng những HS có năng lực về toán.

1.4. Định hƣớng đổi mới PPDH ở trƣờng phổ thông
1.4.1. Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của HS.
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ nhận vai trò của các PPDH
truyền thống. Ở một mức độ nào đó, ta phải xem xét các phƣơng pháp này
theo quan điểm mới, theo hƣớng tích cực hoá hoạt động của HS.
Muốn vậy, GV phải kích thích đƣợc óc tò mò khoa học, ham hiểu biết
của HS bằng cách tạo ra những tình huống có vấn đề. Đó thƣờng là những
câu hỏi thú vị gây hứng thú học tập, tạo nhu cầu nhận thức và có thể nghiên
cứu đƣợc đối với HS.
Trong dạy học truyền thống, GV thƣờng hay sử dụng kết hợp nhiều
PPDH thuộc các nhóm khác nhau một cách linh hoạt. Ví dụ: giảng giải kết
hợp với minh hoạ, xem thí nghiệm biểu diễn kết hợp với vấn đáp
Nhƣ vậy, đổi mới PPDH không phải là phủ định hoàn toàn các PPDH

truyền thống, mà sử dụng chúng theo tinh thần mới: phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của ngƣời học.
1.4.2. Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang phương
pháp thiên về tổ chức cho HS hoạt động để HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức và
kỹ năng.
Theo PPDH truyền thống, GV là ngƣời truyền thụ kiến thức, còn HS là
ngƣời tiếp thu kiến thức. Ở đây, GV chủ yếu sử dụng phƣơng pháp giảng giải
kết hợp minh họa, việc sử dụng thiết bị dạy học hạn chế dẫn đến tình trạng
dạy học theo kiểu “đọc – chép”. Theo phƣơng pháp mới, GV giao cho HS
đọc, nghiền ngẫm SGK, rồi sau đó đặt câu hỏi để kiểm tra sự lĩnh hội kiến
thức của các em. Thông qua cách trả lời, trình bày, báo cáo mà HS đƣợc rèn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
luyện những kỹ năng và tố chất cần thiết cho mình.
Theo quan niệm mới về dạy học, vai trò chủ yếu của GV là tổ chức,
hƣớng dẫn, điều khiển hoạt động học tập của HS, giúp HS đạt đƣợc mục tiêu
dạy học.
GV không thuyết trình liên miên, giảng giải mọi vấn đề mà chủ động
tạo điều kiện rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tƣ duy sáng tạo của HS bằng
cách: tăng cƣờng sử dụng PPDH “vấn đáp tìm tòi”; tăng cƣờng hoạt động độc
lập của HS bằng cách tạo ra các cuộc tranh luận; trao nhiệm vụ học tập ngày
càng nặng dần cho HS chuyển dần từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy
học giải quyết vấn đề.
Việc đổi mới PPDH của GV đòi hỏi HS phải đổi mới phƣơng pháp học
tập. Đây là một tất yếu đòi hỏi ngƣời học phải nỗ lực, chủ động, sáng tạo
trong các hoạt động nhận thức của mình. Nhƣ vậy, trọng tâm đánh giá tiết dạy
phải đặt vào hoạt động của HS trong tiết dạy đó.
1.4.3. Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hoà với học tập

hợp tác.
Các hình thức tổ chức học tập cá nhân, theo nhóm nhỏ và theo lớp là
các hình thức vẫn đƣợc áp dụng theo PPDH truyền thống. Theo PPDH dạy
học mới, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản, có hiệu
quả nhất nhƣng HS phải có tinh thần học tập một cách tự giác, chủ động.
Học tập hợp tác là hình thức học tập bổ trợ có tác dụng rèn luyện ngƣời
học tinh thần hợp tác lao động, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, ý thức
trách nhiệm với công việc chung. Phối hợp chặt chẽ những nỗ lực cá nhân
trong tự học với việc học tập hợp tác trong nhóm.
Dạy học theo định hƣớng tích cực hoá hoạt động học tập của HS đòi
hỏi sự cố gắng trí tuệ của mỗi HS trong quá trình tự lực dành lấy kiến thức
mới. Một trong những hình thức tăng cƣờng hoạt động học tập của HS trên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
lớp là sử dụng phiếu học tập cho từng HS .
Tuy nhiên, trong học tập không phải bất kỳ một nhiệm vụ học tập nào
cũng có thể đƣợc hoàn thành bởi những hoạt động thuần tuý cá nhân. Có
những câu hỏi, những vấn đề đặt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp
tác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm vụ. Thông qua sự hợp tác
tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá
nhân đƣợc điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ; qua đó ngƣời học nâng mình
lên một trình độ mới. Đó là sự vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của
mỗi cá nhân và cả lớp.
Cũng thông qua hoạt động nhóm để giáo dục cho HS tinh thần, trách
nhiệm và thói quen trong lao động hợp tác theo sự phân công có kế hoạch của
nhóm; biết cách lắng nghe ý kiến ngƣời khác tranh luận, ứng xử và cộng tác
trong nhóm. Sự hợp tác trong lao động và trong nghiên cứu là một đặc trƣng
quan trọng của ngƣời lao động trong xã hội mới.

Nhƣ vậy, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức hoạt động chủ yếu
giúp HS phát triển các năng lực của mỗi cá nhân.
1.4.4. Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học
Trong xã hội hiện đại, sự bùng nổ thông tin đòi hỏi mỗi cá nhân phải nỗ
lực học tập biết cách cập nhật thông tin.
Việc tự học của HS là hoạt động rất cần thiết. Ở đây, GV cần phải bồi
dƣỡng cho HS khả năng thu thập thông tin, huấn luyện cho HS cách nắm bắt
nội dung chính của tài liệu học tập, đồng thời giao bài tập về nhà cho HS, có
thể tính toán cân đối giữa nội dung học tập trên lớp và nội dung cần tìm hiểu
ở nhà. GV cần phải quan tâm đến phƣơng pháp học của HS, từng bƣớc hình
thành năng lực tự học để các em có thể tự bổ sung kiến thức và học thƣờng
xuyên suốt đời.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
1.4.5. Coi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền thụ kiến thức
Việc rèn luyện kỹ năng là một trong những yêu cầu rất quan trọng trong
việc hình thành nhân cách HS. Hiện nay, rất ít GV chú ý đến lĩnh vực này cho
HS. Trên lớp GV cố gắng truyền đạt kiến thức mà không chú ý đến việc rèn
luyện tƣ duy, rèn luyện kỹ năng cho HS. Đổi mới PPDH cũng nhƣ kiểm tra,
đánh giá coi trọng những kỹ năng, năng lực thực hành của HS. GV cần phải tính
toán đƣa các kỹ năng vào hoạt động học tập thích hợp của HS theo một chiến
lƣợc đã đƣợc hoạch định, chuẩn bị từ trƣớc.
1.4.6. Đổi mới kiếm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Đổi mới PPDH phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS.
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS phải căn cứ vào mục tiêu của
môn học và phải phối hợp kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm
khách quan, tạo điều kiện để HS tự đánh giá kết quả học tập của mình.

1.4.7. Tăng cường sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học toán
Xác định đƣợc tầm quan trọng của CNTT, Đảng và Nhà nƣớc đã chỉ
đạo ngành giáo dục đào tạo sớm đƣa CNTT vào các nhà trƣờng. Những năm
gần đây, CNTT trong nhà trƣờng đã đƣợc quan tâm. Mục tiêu của việc học tin
học trong nhà trƣờng, mối quan hệ giữa tin học với tƣ cách là một môn học
với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã dần dần đƣợc xác định rõ ràng qua
các cấp học.
Sử dụng CNTT để dạy học, PPDH cũng thay đổi. GV là ngƣời hƣớng
dẫn HS học tập chứ không đơn thuần là ngƣời phát thông tin đến HS. GV
cũng phải học tập thƣờng xuyên để nâng cao trình độ về CNTT, sử dụng có
hiệu quả CNTT trong học tập. HS có thế lấy thông tin từ nhiều nguồn phong
phú khác nhau nhƣ; sách, internet, CD-ROM Lúc này HS phải biết cách
đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn chỉ đơn thuần nhận thông tin một
cách thụ động vì nguồn thông tin vô cùng phong phú.

×