Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
A: PHẦN MỞ ĐẦU
I: Lí do chọn đề tài:
1: Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939), nhà văn tài hoa bạc mệnh, cuộc đời chỉ
được 27 năm ngắn ngủi. Ông sống nghèo túng nhưng hoạt động văn học rất sôi
nổi trong ba thập niên của nửa đầu thế kỉ XX. Vũ Trọng Phụng tựa như một
ngôi sao băng bừng sáng rực rỡ khác thường rồi tắt. Dường như nhà văn biết
trước giới hạn cuộc đời mình ngắn ngủi nên ông cầm bút và hối hả sáng tác như
rút ruột, rút gan, như muốn vắt kiệt sức lực trai trẻ của mình. Vì vậy trong vòng
chưa đầy 10 năm mà Phụng đã để lại 8 cuốn tiểu thuyết, 7 vở kịch, 5 phóng sự
dài, dăm chục truyện ngắn, dịch một số tác phẩm văn học tương đối dài, ngoài ra
còn hàng trăm bài phê bình, tiểu luận, bài báo và xã luận… Và đã góp phần thúc
đẩy tiến trình văn học hiện đại của nước ta. Tuy nhiên, công việc nghiên cứu về
Vũ Trọng Phụng cho đến hôm nay còn nhiều vấn đề tranh cãi, bàn luận. Vì vậy
chúng tôi mong muốn qua bài viết này có thể góp một phần nhỏ bàn thêm về
Phụng từ cái nhìn tác phẩm của ông.
2: Trong sự nghiệp của nhà văn tài hoa này thì “Số đỏ” được xem là kiệt
tác của ông. Cho dù tác phẩm này từ khi ra đời đã phải gánh chịu một số phận
khá thăng trầm nhưng cuối cùng nó vẫn là tác phẩm kết tinh được những giá trị
đích thực của nghệ thuật. Đặc biệt là cái nhìn hiện thực và sự phản ánh hiện thực
một cách thẳng thắn từ cái nhìn rất đa diện rất đáng để cho chúng ta, và những ai
được may mắn sinh ra mà không phải chứng kiến những năm tháng đất nước bị
nô lệ. Từ đó, chúng ta hiểu thêm về lịch sử đặc biệt là hiện thực xã hội Việt
Nam xưa. Trong bài viết này, cũng nhằm tìm đến những giá trị nghệ thuật ấy,
đem đến cái nhìn đánh giá về tác phẩm từ nhiều phương diện văn học, tâm lí xã
hội, văn hoá - lịch sử… Mong rằng sẽ đem đến nhiều ý kiến thú vị cho người
đọc và những người cùng quan tâm tới “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
II: Lịch sử vấn đề:
Ngày 7/10/1936 “Số đỏ” ra đời, in lần đầu tiên trên báo “Hà Nội báo”.
Năm 1938 tác phẩm được in thành sách ở nhà xuất bản Lê Cường, 1946 được tái
1
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
bản. Tuy nhiên ngay từ khi ra đời “Số đỏ” đã nhận được nhiều ý kiến trái ngược
nhau, trong đó có những ý kiến còn chưa được thoả đáng. Vũ Ngọc Phan trong
cuốn “Nhà văn hiện đại” (quyển 3) nhận định rằng: “Số đỏ” của Vũ Trọng
Phụng “là cuốn tiểu thuyết hoạt kê , nhưng là lối hoạt kê không có gì cao cho
lắm… cái lối khôi hài của ông trong “Số đỏ” là một lối khôi hài nông nổi, tuy
nhạo đời, nhưng không căn cứ”. Phạm Thế Ngũ cũng cho rằng “Truyện có tính
cách châm biếm, khôi hài, ngả sang lối khôi hài quá lố của sân khấu hay màn
ảnh nữa”. Và giai đoạn này (1957 – 1958) tác phẩm “Số đỏ” cùng với Vũ Trọng
Phụng đã bị đưa ra khỏi trường học.
Từ 1983 trở đi tình hình nghiên cứu Vũ Trọng Phụng và “Số đỏ” đã có
nhiều đổi mới. Điển hình là Nguyễn Khải trong bản tham luận đọc tại đại hội lần
III - Hội nhà văn Việt Nam đánh giá “Số đỏ là cuốn sách ghê gớm, có thể làm
vinh dự cho mọi nền văn học”. Năm 1984 cuốn “Từ điển văn học” của nhà xuất
bản KHXH ấn hành đã giành riêng bốn mục từ về Vũ Trọng Phụng trong đó có
mục “Số đỏ” do PGS. Nguyễn Hoàng Khung viết, và GS đã đánh giá rất cao về
“Số đỏ”. “Với trình độ tiểu thuyết già dặn, bút pháp châm biếm đặc biệt sắc sảo,
là một trong những thành tựu nghệ thuật đặc sắc của văn xuôi hiện đại, nhất là
trong thể loại tiểu thuyết trào phúng”.
Năm 1987 các tác giả “Tuyển tập Vũ Trọng Phụng” đã đánh giá “Số đỏ”
cao hơn cả “Giông tố” và “Vỡ đê” và được xem là tiểu thuyết hoàn hảo hơn cả.
Nên đặc biệt quan tâm đến các bài viết sau: “Đánh giá lại số đỏ” – Phan Cự Đệ,
năm 1989; “Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng” – bài của Hà Bình Trị
trên TCVH số 3, 1990; “Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ” của
Hoàng Ngọc Hiến – 1990; Những lớp sóng ngôn từ của Đỗ Đức Hiểu 1990;
“Nhân vật Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng” bài của Hà Minh Đức – 1998;
“Cái nhìn bi quan mang nghĩa cảnh tỉnh” của Vương Trí Nhàn, 1999; “Số đỏ
của Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa hiện đại Việt Nam” của Peter Zinoman
2002…
2
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
Bài của Hoàng Ngọc Hiến thì nhận xét “Lớn hơn sự phê phán một giai
cấp, tiếng cười của tác giả phủ định cả một xã hội ngớ ngẩn, nhí nhố, lố bịch,
nhố nhăng. Nội dung tư tưởng của “Số đỏ” đạt tới trình độ phổ quát, tác giả phê
phán một loạt thói dởm, tật xấu có thể phổ biến ở trong xã hội”. Trong khi đó
bài của Đỗ Đức Hiếu lại quan tâm đến lớp ngôn từ của “Số đỏ”. Ông cho rằng
ngôn ngữ trong “Số đỏ” là sự hổ lốn tạp nham, không ăn khớp mà khấp khểnh,
siêu vẹo. Nó nhại lại xã hội với phong trào chính trị, đo thị hoá. Còn Phan Cự
Đệ ở bài “Đánh giá lại số đỏ” thì phát biểu “Số đỏ không chỉ đả kích phong trào
Âu hoá, vui vẻ trẻ trung của nhóm Ngày nay. Trong cuốn tiểu thuyết hoạt kê này
tiếng cười ào ạt trùm lấp, phủ lên mọi trò cải lương, bịp bợm, mọi kiểu cách văn
minh, Âu hóa, có lúc phủ lên mọi nhân vật chóp bu của chính quyền đương thời,
khiến cho xã hội thực dân phong kiến hoá ra “ối a, ba phèng”, hoá ra lỗ mãng,
kệch cỡm”.
Như vậy càng ngày “Số đỏ” càng được quan tâm thích đáng, được nghiên
cứu công phu và đúng mực hơn. Đây cũng là những cơ sở để giúp chúng tôi đi
vào tìm hiểu tác phẩm trên nhiều bình diện khác nhau, từ đó mong muốn góp
thêm vào việc tìm hiểu “Số đỏ” và phong cách nghệ thuật của nhà văn.
3
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
B: PHẦN NỘI DUNG
Quán triệt chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và mĩ
học Mác – Lê Nin, phương pháp luận nghiên cứu hiện đại đã đặt ra vấn đề tiếp
cận tác phẩm văn học không chỉ là một tổ chức, một chỉnh thể, một cấu trúc văn
bản mà nó là một quá trình. Nó là kết tinh của một cái gì trước đó, và sẽ gây ra
tác dụng sau nó. Vì vậy ngoài những mối tương quan nội tại về “cấu trúc” ra, tác
phẩm văn học còn có những tương quan khác với những yếu tố “bên ngoài” bao
gồm hiện thực khách quan, chủ quan nhà văn và di sản văn hoá. Năm tương
quan này không tách rời nhau, và lấy những tương quan nội tại làm tâm điểm.
Những cái “bên ngoài” chuyển hoá thành cái nội tại, và những “tác dụng” có
được đối với công chúng vốn đã có cơ sở và định hướng từ văn bản tác phẩm.
Ngược lại, muốn hiểu được cấu trúc nội tại cũng phải đặt nó trong mối tương
quan với những cái bên ngoài.
Từ những lí luận khái quát mang tính chất gợi mở này chúng tôi đã soi
chiếu vào tác phẩm “Số đỏ” để hi vọng tìm được cái toàn diện từ đó hiểu thêm
về tác phẩm “Số đỏ” và nhà văn Vũ Trọng Phụng.
I: “Số đỏ” nhìn từ bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật, từ những mối liên
hệ biện chứng nội tại.
1: “Số đỏ” có những hình thức ám ảnh nội dung sâu sắc.
Theo Hêghen cho rằng ở những tác phẩm nghệ thuật đích thực, sự phối
hợp giữa hình thức với nội dung hài hoà đến nỗi: “Nội dung chẳng phải là cái gì
khác, mà là hình thức chuyển hoá thành nội dung và hình thức chẳng phải là cái
gì khác mà là nội dung chuyển hoá ra hình thức”.
“Số đỏ” là một thành công lớn của Vũ Trọng Phụng, là “cuốn sách ghê
gớm có thể làm vinh dự cho một nền văn học”. Ở đây tác giả đã vận dụng có
nghệ thuật giữa lối tả thực với trào phúng, giữa lối viết thật và phóng đại kích
thước một cách thích hợp và hài hoà. Từ đó xây dựng nên các hình thức mang
sức nặng về nội dung. Có thể kể ra rất nhiều những hình thức phản ánh nội dung
4
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
nhưng do dung lượng có hạn, chỉ có thể đề cập đến tình huống, ngôn ngữ, giọng
điệu kịch tính trong trần thuật, trong tác phẩm “Số đỏ” để từ đó toát lên nghệ
thuật trào phúng số một của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
1.1: Tình huống
a: Tình huống ngược đời.
Để phản ánh hiện thực một cách sâu sắc nhất Vũ Trọng Phụng lại tìm đến
những hình thức nghệ thuật vi phạm lôgíc hiện thực, vi phạm chuẩn mực đời
sống, đó là cái ngược đời phi lí. Từ sự ngược đời, phi lí ấy mà tạo ra tiếng cười
cho độc giả. Và cũng từ những tình huống ngược đời của Vũ Trọng Phụng đã
phơi bày một cách sâu sắc cái phi lí tồn tại trong tính cách nhân vật hay trong
cuộc đời.
Chuỗi cười dài “Số đỏ” cũng là chuỗi những tình huống ngược đời kế tiếp
nhau. Do nạn khủng hoáng kinh tế, chính phủ buộc sở cảnh sát phạt dân thành
phố bốn vạn đồng, Sở cảnh sát trung ương chia cho ty cảnh sát chi nhánh phạt
năm ngàn đồng, thế là màn bi hài kịch diễn ra với hai cái ngược đời. Một là cảnh
sát bảo vệ pháp luật mà lại đau khổ vì dân ta văn minh mất rồi, không ai chịu
đánh chửi nhau, không ai chịu phóng uế, đái bậy ra đường, tức là không ai chịu
phạm luật. Thế là họ phải nghĩ ra một diệu kế: Cảnh sát phải nhè chính mình ra
mà phạt lẫn nhau để đủ tiền giao nộp cho đúng chỉ tiêu trên giao. Hay một cảnh
ngược đời nữa diễn ra ở chương 5 cũng không kém phần hay hớm. Ông TYPN –
nhà cải cách y phục đã sáng chế ra đủ mốt lẳng lơ (ngây thơ, lưỡng lự, hãy chờ
một chút, dậy thì, lời hứa…) để cổ động phong trào ăn mặc theo lối Âu hoá. Thế
nhưng khi bắt gặp vợ mình ăn mặc theo lối ấy thì nổi cơn lôi đình, mắng vợ là
“đồ đĩ”, “đồ lãng mạn”. Đám ma là chuyện buồn rầu, chuyện tang tóc nhưng
đám ma cụ Tổ thì rất ngược đời vì bỗng trở thành ngày hội, đám rước linh đình:
“Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thoả thích. Người ta tưng bừng vui vẻ
đi đưa giấy cáo phó…” thật đúng là “hạnh phúc của một tang gia”… Lại một
tình huống nữa khi Xuân tóc đỏ thua quần vợt, đã thế lại còn diễn thuyết rất
5
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
hùng hồn trước quần chúng, gọi quần chúng là “mi”, là kẻ “nông nổi”… thế mà
thiên hạ sốt sắng tung hô: “Xuân tóc đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế”…
Xây dựng kiểu tình huống ngược đời như vậy một mặt Vũ Trọng Phụng
muốn bóc trần cái xã hội đã suy đồi về đạo lí, nhân phẩm, một mặt muốn phanh
phui cuộc đời như một trò hề trong đó con người cũng như những con rối, sắm
một vai hề lố lăng múa may cười khóc rất vô nghĩa lí.
b: Tình huống quay ngược 180 độ.
Xuân tóc đỏ từ một kẻ bụi đời, lưu manh, lớn lên trong môi trường vô
giáo dục, lang thang kiếm sống với nhiều nghề phức tạp đã gia nhập vào môi
trường của những kẻ giàu có, của những nhà cải cách, những ông bà văn minh
của xã hội thành thị. Xuân tóc đỏ đã bị nhiều người căm ghét, chửi rủa sau lưng,
thế mà khi hắn được Chính phủ tặng mề đay thì mọi người xúm lại nịnh nọt,
tung hô hắn. Bà Phó Đoan thì “cứ nhún nhảy như một con choi choi”, đến cậu
Phước cũng không “Em chã nữa”, cụ Phán bà thì “hối hận vì cái tội tày đình đã
trót mắng mỏ con trai, chê trách con gái mà khinh bỉ ông Xuân bội tình”. Đặc
biệt ông TYPN “ngồi ngay xuống để thay giày cho Xuân tóc đỏ một cách nịnh
thần và nô lệ”.
Tình huống này đã phản ánh đắc địa những nghịch lí của bản thân đời
sống. Từ đó mà chỉ ra sức mạnh của đồng tiền, quyền lực đã giật dây nhân cách
lũ rối người. Thật cay độc và mỉa mai thay khi những kẻ được coi là những tầng
lớp trên của xã hội cuối cùng chỉ có giá trị nằm dưới đế giày của một kẻ vô học,
đầu đường xó chợ.
c: Tình huống cãi lộn.
Là một nhà văn trào phúng chuyên nghiệp Vũ Trọng Phụng bao giờ cũng
biết “châm ngòi nổ”, biết “nuôi dưỡng xung đột” một cách tài tình để tạo ra
những xung đột bền vững hay những màn cãi lộn hài hước gợi rất nhiều nội
dung châm biếm giễu nhại. Trong “Số đỏ” màn cãi lộn giữa lang Tỳ và lang
Phế, được tác giả gọi là “cuộc đấu khẩu của mấy nhà khoa học”. Vũ Trọng
Phụng để hai vị xuất hiện cùng một lúc, rồi đẩy họ vào tình huống cùng phải
6
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
tranh cãi, vạch tội nhau về nghề nghiệp. Họ tranh luận về việc thuốc thánh đền
Bia là nước ao hay nước ruộng? Người nọ vặc người kia dùng thuốc dởm làm
chết bênh nhân… Màn cãi lộn này đã tự họ vạch tội họ, không ai có thể bắn
trúng danh dự của hai vị lang băm bằng chính họ. Vì thầy thuốc dởm mới có thể
vạch mặt rõ ràng thầy thuốc dởm một cách chính xác nhất. Đó là cái tài của Vũ
Trọng Phụng.
1.2: Lớp ngôn từ biểu hiện nội dung.
“Số đỏ” là tiểu thuyết đô thị, cái thành công của tác phẩm này chính là sự
cười nhại đạt tầm cỡ lớn. “Số đỏ” nhại một xã hội, một phong trào chính trị, một
thời đô thị hoá… Đó là cái nhại nội dung thuộc vào bề trong, còn cái nhại bề
ngoài là nhại một ngôn ngữ hổ lốn, tạp nham, lổn nhổn. Cái “ối a, la phèng” của
xã hội, cái cặn bã của nền văn minh đô thị cũng được phản ánh qua lớp ngôn từ
khấp khểnh trong tác phẩm này. Từ ngôn ngữ vỉa hè, ngôn ngữ thành thị, ngôn
ngữ lãng mạn đến ngôn ngữ ngoại lai, cả những tiếng Việt lơ lớ… đều đủ cả, nó
đã biểu đạt cho cái xã hội mà mọi thứ đều ở dạng tạp nham, xiêu vẹo. Trước hết
là thứ ngôn ngữ vỉa hè bắt nguồn từ Xuân tóc đỏ - một đứa lang thang khốn khổ
trên vỉa hè. Từ lúc nó còn là một tên ma cà bông đến khi trở thành một vĩ nhân
thì cái ngôn ngữ vô giáo dục vẫn được hắn duy trì. Cứ mở mồm ra là: Mẹ kiếp,
nước mẹ gì… Rồi đến thứ ngôn ngữ lãng mạn, những tiếng ca véo véo von von -
“thành quả” của việc Âu hoá trước hết là lãng mạn hoá đô thị. Nên không khí
lãng mạn đã chen vào trong “Số đỏ” với những câu như: Tôi có hai cái tình, hồ
Trúc Bạch, hồ Tây với những vụ tự tử vì tình được đời sau nhắc lại. Ngôn ngữ
lãng mạn biểu hiện rõ nhất ở Tuyết – cô gái lãng mạn của những năm 30 của thế
kỉ. Từ cái tên, đến bộ quần áo ngây thơ, đến cử chỉ, điệu bộ, lời ăn tiếng nói,
cuộc sống, tình yêu, giấc mơ… Nói chung ngôn ngữ của Tuyết gắn liền với sự
lãng mạn. “Tôi là một trang bán sử nữ, nghĩa là còn trinh một nửa…” có khi là
những lời thơ mộng, pha chút giễu cợt: “Lúc ấy cô muốn viết ngay một cuốn
tiểu thuyết về đời mình” và “Em sung sướng quá! Em muốn chết anh ạ! Em
muốn tự tử…” Cả anh chàng nhà thơ lãng mạn cứ bám riết theo Tuyết để “bắn
7
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
chim” nàng và nghêu ngao những vần thơ tuyệt vọng. Tất cả đều là thứ ngôn
ngữ mỹ miều, trau chuốt rất lãng mạn, thơ mộng… Miêu tả thứ ngôn ngữ này
Vũ Trọng Phụng có cả phần muốn nhại lại phong trào thơ Mới, Tự Lực văn
đoàn cùng thời ấy.
Và đây là ngôn ngữ của cửa phật phát ra từ sư Tăng Phú – “Một vị sư tân
thời”, “dốc lòng mộ đạo” nháy mắt với Xuân tóc đỏ: “Bần tăng mà kiện tại toà
thì phải thua hộc máu mồm” và “tín đồ nhà phật chúng tôi bút chiến nguyền rủa
nhau là ghẻ ruồi, ghẻ Tầu, ghẻ Lào, hắc lào, hoá hủi, cụt tay, cụt chân, thế cơ”.
Và đặc biệt trong “Số đỏ” còn có cả một thứ ngôn ngữ Tây ngậu xị:
manequin, vendeur, tailleur… và cả loại nửa Tây nửa ta: “áo Lemur”, “nghĩa là
còn trinh một nửa, nghĩa là demivierge”, hay cái tên nửa ta nửa tây: Jôseph
Thiết, Abas Xuân… Cũng cần phải nhắc đến thứ ngôn ngữ phô trương, đồ sộ hô
hào như khẩu hiệu: Muôn năm, Âu hoá, Nước pháp dân chủ vạn tuế, thánh cung
bình dân vạn tuế, hoà bình, tổ quốc, nạn can qua… Vũ Trọng Phụng đã lố bịch,
bỡn cợt cái xã hội “chó đểu” tạp nham bằng thứ ngôn ngữ hổ lốn này. Tất cả
ngôn ngữ này đã làm cho cái uy nghi lẫm liệt của không khí Âu hoá trong tác
phẩm sụp đổ chỉ còn lại những điều bỉ ổi và cặn bã đáng lên án nhất.
Một trong những nội dung trong tiểu thuyết “Số đỏ” là phản ánh tinh thần
đô thị, phản ánh cái trò Âu hoá đang diễn ra vội vã, chớp nhoáng không có trật
tự nề lối gì. Để thể hiện nội dung này không chỉ là các sự kiện, hành động… mà
nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc thể
hiện không khí Âu hoá kiểu “Số đỏ”. Biết bao nhiêu liên từ, trạng từ, phó từ:
“chợt”, “bỗng”, “tự nhiên”, “tình cờ”, “vừa lúc ấy”, “đột ngột”,… Người kể
chuyện đã sử dụng các từ này một cách linh hoạt, tài tình trong các ngữ cảnh
khác nhau để miêu tả cái tinh thần đô thị hiện đại ấy: “Xuân chợt thấy bóng bà
Văn Minh”, “Tuyết chợt nhìn ra phía xa”, “Chợt cánh cửa bị đẩy mạnh”, “chợt
có tiếng gõ cửa”, “Chợt Xuân tóc đỏ nghe thấy sau lưng nó…”, “Xuân tóc đỏ
bỗng trông thấy ông thày số”, “bỗng thấy nhà quán quân Hải reo to”, “Lúc ấy
tình cờ ở nhà cụ Hồng, có đủ mặt”… Chức năng biểu đạt nội dung của những từ
8
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
này rất đa dạng, ngoài những ý đã nói trên đó còn là sự chuyển tiếp đó là sự bất
ngờ của những biến cố liên tiếp xảy ra, đó là cái ngẫu nhiên, cái không ổn định,
cái bất trắc, cái số phận bị động của con người trong xã hội xưa mà Vũ Trọng
Phụng đang lên án nó. Ngay đến việc đặt tên cho các nhân vật của mình cũng
được Vũ Trọng Phụng biểu đạt những nội dung trào phúng. Thường cái tên
mang những ý nghĩa trái ngược hoặc là sự mâu thuẫn với bản chất con người.
Trước hết là cái tên “Xuân tóc đỏ”, “tóc đỏ” là cái tướng hậu quả tai hại của kiếp
ma cà bông khốn khổ: “Mẹ kiếp, chứ xưa nay có mua mũ bao giờ mà tóc chả
đỏ”. Song với một thanh niên và một thiếu nữ ở khách sạn Bồng Lai thì tóc đỏ
lại rất hợp mốt “Bẩm, tóc ngài nhuộm đẹp lắm, thật là hợp thời trang”. Hay tên
Văn Minh ấy là sự giễu nhại chan chát với bản chất nhân vật - một kẻ tri thức
dởm và nhân phẩm đồi bại luôn mơ ước cho cái chết của cụ tổ đến thật sớm để
cái chúc thư kia “đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông
nữa”. Còn gì vô lí hơn một mụ me Tây dâm ô, luôn hãnh diện vì đã thủ tiết với
hai đời chồng lại mang cái tên rất đoan chính là: Phó Đoan… Đến cái tên TYPN
cũng là sự cười cợt chế nhạo rất hóm hỉnh của Vũ Trọng Phụng. Thế mới biết tất
cả những chi tiết nghệ thuật dù rất nhỏ cũng đều mang nội dung tạo nên giá trị
của toàn bộ tác phẩm. Vì vậy mà nội dung và hình thức nghệ thuật luôn hài hoà
và có quan hệ biện chứng với nhau. Từ hình thức nghệ thuật để tìm ra nội dung
là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng không bao giờ bị lỗi thời.
2: “Số đỏ” nhìn trong mối quan hệ với các yếu tố nội tại
a: “Số đỏ” là sự kết hợp của cái ngẫu nhiên và cái tất yếu.
Sử dụng yếu tố ngẫu nhiên là một môtíp phổ biến ở Vũ Trọng Phụng.
Song cái ngẫu nhiên cũng là con dao hai lưỡi hoặc tạo ra tình huống bất ngờ, đột
ngột, gây hứng thú cho người đọc hoặc gây ra tính giả tạo, tính gò ép làm mất
lòng tin ở độc giả. Theo nhà văn Vũ Trọng Phụng thì “ở đời bao giờ cũng có cái
“sự gì” nó xảy ra để người ta đương sướng phải khổ, hoặc đã khổ lại phải khổ
hơn nữa” (Kỹ nghệ lấy Tây). Như vậy cái giả (cái ngẫu nhiên) đã tìm được môi
9
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
trường thuận lợi của nó là cái hiện thực của “xã hội chó đểu” đầy nhiễu nhương
và hiện thực của cái nhìn “vô nghĩa lí” của Phụng.
Trong “Số đỏ” cái ngẫu nhiên người ta hay nói đến là cái vận đỏ trùm lên
cuộc đời thằng Xuân hết sức bất ngờ. Từ một kẻ lang thang, ma cà bông giữa
đường phố, một thăng nhặt ban quần… đã bước lên thế giới thượng lưu trong
vòng năm tháng. Và từ lúc ấy con đường tiến thân của Xuân tóc đỏ cứ vùn vụt
như được lót bằng chiếu hoa của toàn những điều ngẫu nhiên, may mắn. Tuy
nhiên khi đọc kĩ tác phẩm, theo bước hành trình của Xuân tóc đỏ trong thế giới
thượng lưu thì ta hiểu ra rằng vận may đến với Xuân không hoàn toàn là điều
ngẫu nhiên mà còn có tính quy luật của sự tất yếu. Trước hết là do quy luật cái
nhìn của tác giả. Lá số tử vi mở đầu tác phẩm đã giải thích vân đỏ của thằng
Xuân là do ý trời. Có nghĩa là Vũ Trọng Phụng tin vào định mệnh, con người
sinh ra ai cũng đều có số phận và phải tuân theo điều sắp đặt vô hình ấy.
Thứ hai nữa là vận đỏ của thằng Xuân là do chính môi trường của hiện
thực tạo thành. Vì nhà văn hiểu rằng con người không thể nào tách mình ra khỏi
mảnh đất đời thực. Nếu Xuân tóc đỏ không được đặt vào xã hội lừa bịp, khốn
nạn thì những bản tính lưu manh, lém lỉnh, ma cà bông của nó sẽ không có điều
kiện để biến dốt thành giỏi, hèn thành sang một cách chóng mặt như thế
được.Sự kết hợp của yếu tố ngẫu nhiên và tất yếu diễn ra qua một chuỗi các sự
kiện. Xuân tóc đỏ bị tống vào bót vì tội dòm trộm cô đầm thay váy nhưng lại bất
ngờ được bà Phó Đoan cứu ra. Đó là may nhưng lại là sự gặp mặt của hai tính
cách dâm. Xuân tóc đỏ có thể làm thoả mãn khát vọng tình dục của mụ. Rồi việc
bỗng nhiên thằng Xuân được suy tôn là “sinh viên trường thuốc”, “quan đốc tờ”
một cách dễ ràng may mắn. Nhưng thực chất gia đình Văn Minh đang lợi dụng
thằng Xuân như một thứ phương tiện để phục vụ cho mục đích ích kỉ tàn nhẫn
của chúng. Câu hỏi đặt ra là Xuân tóc đỏ có gì đặc biệt để họ có thể lợi dụng?
Chính những điều dốt nát, sự liều lĩnh của kẻ “điếc không sợ súng” vô học cộng
với một chút thông minh lanh lợi của nó mà thành ra lại rất phù hợp với một xã
hội thượng lưu toàn lừa lọc và mánh khoé. Nhờ điều này mà Xuân vừa cứu sống
10
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
cụ Tổ rồi lại giết cụ Tổ cứ thế Xuân được lòng tất cả bọn con cháu bất hiếu của
cụ Tổ rồi trở thành nhân vật quan trọng trong gia đình Văn Minh. Từ đó mà
Xuân biến từ sự thụ động - bị kẻ khác lợi dụng, thành kẻ chủ động – nghĩa là
Xuân tóc đỏ lợi dụng xã hội mà tiến thân. Càng thăng tiến càng kiêu ngạo,
nhưng càng kiêu ngạo nó lại càng được mọi người kính nể. Và cuối cùng nó đã
bất ngờ trở thành vĩ nhân, bậc anh hùng cứu quốc. Nó tha hồ miệt thị quần
chúng, còn quần chúng lại tung hô, ngộ nhận “Xuân tóc đỏ vạn tuế”.
Như vậy nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái tất nhiên và cái tất yếu
nên Vũ Trọng Phụng tha hồ tung ngòi bút phóng đại làm nên những trận cười
nghiêng ngả mà vẫn đạt tới tính chân thực, phanh phui hiện thực và tố cáo mạnh
mẽ.
b: Tương phản - đối lập trong số đỏ
Trong nhận thức, tương phản giúp nhận biết rõ hơn bản chất đối tượng. Vì
vậy Vũ Trọng Phụng đã sử dụng thủ pháp đối lập – tương phản để nâng cao hiệu
quả trào phúng rất xuất sắc bằng cách tạo ra những đối lập lệch pha trong bản
thân đối tượng bị châm biếm. Từ đó làm nổi bật lên cái cọc cạch khấp khểnh ở
đối tượng, bắt nó phải phơi lưng trước tiếng cười.
Trong “Số đỏ” nghệ thuật tương phản - đối lập được thể hiện từ đầu đến
cuối truyện, rõ nét nhất là đối lập giưa vẻ bên ngoài với với tâm hồn bên trong.
Bề ngoài là một đám tang to tát, bề thế, đông đúc nhưng thực chất không có một
ai tỏ chút xót thương người đã khuất; Bề ngoài là khóc thương đến oặt người đi
nhưng bên trong là sự tính toán về một vụ làm ăn có lãi. Đối lập giữa cái hào
nhoáng bên ngoài và sự thối nát, mục rỗng bên trong rất gay gắt, nó phản ánh
bản chất của con người và xã hội.
Cũng trong cảnh đám tang cụ Tổ, Vũ trọng Phụng lại sử dụng một kiểu
đối lập khác: Đối lập giữa hai bình diện quan sát của điện ảnh: Viễn cảnh với
cận cảnh. Khi đặt ống kính ở xa thì thấy hiện lên một đám ma kiểu mẫu: nào là
11
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
kiệu, lọng, kèn Tây, kèn Ta, kèn Tàu, thanh la, vài trăm vòng hoa, câu đối, vài
trăm người đi đưa, ôtô, chụp ảnh… Thật là đủ mọi điều kiện vật chất của một
đám ma đúng nghi lễ trang nghiêm. Nhưng đến khi đặt ống kính quay gần (cận
cảnh) thì đây thực là một đám hội, đám rước linh đình. Đây là đám người “tưng
bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó…” kia là “một bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng
ruột đem chôn cho chóng cái xác của cụ Tổ”. Những người được tả chi tiết là
gương mặt hí hởn của cụ cố Hồng, nét vui mừng rạng rỡ của Minđơ, Mintoa,
cậu Tú Tân thì cùng lũ bạn thi nhau chụp ảnh như ngày hội. Đám đông thì nhốn
nháo, đàn ông thì ngực đầy huân chương, khuôn mặt thì nhấp nhính râu ria, mắt
thì không khỏi xúc động bởi làn da trắng thập thò trên cánh tay và ngực Tuyết,
đàn bà thì thi nhau chim chuột xì xèo bàn tán… Ai ai cũng tràn ngập niềm vui vì
người ta cũng kiếm trác được nhiều danh lợi từ đám ma này. Bút pháp tài tình
này đã tạo ra hiệu quả là đập ngay vào mắt và trí tưởng tượng của người đọc.
Đây không chỉ là một đám ma đưa tang một người mà là cuộc đưa tang toàn xã
hội, đưa tang đạo lí. Bởi vây tiếng cười phê phán chua chát được bật ra rất tự
nhiên.
Bên cạnh đối lập, tương phản thì trùng điệp cũng đóng góp một thành
công không nhỏ cho tác phẩm. Điệp khúc “đám cứ đi” lặp đi lặp lại mãi, nhìn từ
viễn cảnh thì gợi lên hình ảnh dòng người chuyển động đến huyệt mộ thật
nghiêm trang, kính cẩn, khi đến cận cảnh thì tạo nên sự kệch cỡm, hài hước mà
xót xa.
Như vậy nhờ tương phản và trùng điệp được sử dụng hoạt bát vô cùng mà
Vũ Trọng Phụng đã tô đậm được mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài hước khiến
đời sống hiện thực được miêu tả trong “Số đỏ” hiện lên khấp khểnh, hài hước
mà cũng thật đối nghịch nghiệt ngã. Đây không chỉ là một hình thức nghệ thuật
mà còn là một cái nhìn – nhìn cuộc đời trong những phi lí, giả dối.
II: Số đỏ - nhìn từ bình diện tâm lí xã hội.
Số Đỏ - Từ hiện thực:
12
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
Một tác phẩm văn học có giá trị đòi hỏi phải phản ánh được hiện thực
cuộc đời. Mặc dù hiện thực ở đây không hẳn là bản thân hiện thực mà là hiện
thực đã được sàng lọc qua lăng kính chủ quan cảu nhà văn. “Số đỏ” của Vũ
Trọng Phụng là một tác phẩm nghệ thuật đích thực bởi nó phản ánh được một
hiện thực trên diện rộng của cả một xã hội, con người Việt Nam trước Cách
Mạng. “Số đỏ” tiêu biểu cho không gian và thời gian đặc biệt đã sản sinh ra nó.
Trước hết nó phản ánh rất rất chân thực xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến ở
Việt Nam vào những năm 30 đó là phong trào Âu hoá đang thịnh hành ở đô thị.
Giàn nhân vật đa dạng và đông đảo trong “Số đỏ” (khoảng 30 nhân vật) đã phản
ánh sự nổi lên trong giai đoạn cuối của chủ nghĩa thực dân một lực lượng sinh
động các tầng lớp, nhóm xã hội mới: Dân lang thang thành thị, nhà thể thao
chuyên nghiệp, nhà tạo mẫu thời trang, chuyên gia y tế, nghệ sĩ tiên phong, du
học sinh, nhà báo cải cách và người phụ nữ “tân thời”. Vũ Trọng Phụng không
chỉ phản ánh mà còn đả kích, vạch rõ cái bản chất giả dối kệch cỡm của phong
trào ấy. Những nhân vật trong tác phẩm đều được miêu tả bằng bút pháp biếm
hoạ, đều ít nhiều phản ánh được những mặt bản chất của hiện thực, đều có thể
bắt nguồn từ những nguyên hình trong cái xã hội kim tiền giả dối, lừa bịp dâm
loạn. Nhân vật TYPN, Văn Minh, nhà thơ lãng mạn… là gián tiếp ám chỉ nhưng
nhân vật trong báo Phong hoá và Ngày nay của Tự Lực Văn Đoàn. Ở đây một
xã hội vẫn tự xưng là “văn minh”, “Âu hoá” thì đã bị nhà văn cười cợt phủ lên
mọi nhân vật trong xã hội ấy những tiếng cười châm biếm. Bộ máy chính quyền
nhà nước thì thối nát đến mức nhà buôn gặp hồi kinh tế khủng hoảng và đón
chào một người vi phạm luật nhiều lần như một bà khách quen. Ngay đến cả tôn
giáo cũng không thoát khỏi xu hướng doanh thương đô thị, bất chấp đạo lí để
tìm lợi nhuận. Điển hình là động lực thô bỉ của sư Tăng Phú hòng làm tăng tín
đồ và lễ vật quyên cúng cho dòng tu của mình. Tất cả nhưng điều này là hậu quả
Âu hoá của nền kinh tế Tư bản mới xâm nhập khiến cho cả xã hội bị xu thế thị
trường quyết định mà vấn đề đạo đức nhân cách con người cũng bị trượt dốc
theo nó một cách thảm hại. “Số đỏ” còn phản ánh được không khí thắng lợi của
13
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
mặt trận Bình Dân những năm 36 – 37. Biểu hiện ngay trong giọng điệu lạc
quan phấn khởi trong lời văn vui nhộn như tâm trạng hân hoan của rất nhiều
người Việt Nam đón mừng thắng lợi của mặt trận Bình Dân.
Có thể nói Vũ Trọng Phụng đã làm hiện lên một hiện thực tả chân sinh
động trên tất cả các mặt của xã hội thực dân phong kiến từ chính trị, luật pháp,
tôn giáo đến đạo đức, văn học, y phục, lễ hội… Nhà văn đã dũng cảm phanh
phui, tố cáo, lật mặt xã hội, dám nhìn thẳng vào vết thương của xã hội và đóng
lên trong lòng người đọc khát vọng bức thiết: Cần phải thay đổi không thể sống
mãi như thế được.
Và chủ quan nhà văn:
Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tác phẩm văn học
chính con đẻ tinh thần được nhà văn thai nghén trong tư duy sáng tạo của mình.
Chính vì vậy muốn hiểu được một tác phẩm nhất thiết phải đặt nó trong mối
quan hệ với cuộc đời và tư tưởng nhà văn. “Số đỏ” và hiện thực trong nó sẽ trở
nên rõ ràng cụ thể hơn khi chúng ta hiểu về cuộc đời và tư tưởng của Vũ Trọng
Phụng. Thật cuộc đời trùng khớp với thời kì hiện đại hoá về chính trị, kinh tế và
xã hội ở Đông Dương, Phụng còn sống qua những thời kì thịnh vượng, những
cao trào bạo lực chống thực dân gia tăng, cuộc khủng hoảng kinh tế và thắng lợi
của mặt trận Bình Dân. Và ông được chứng kiến những thay đổi cơ bản về giáo
dục và ngôn ngữ trong những năm đầu thập niên 20, sự phát triển nhanh chóng
của kinh doanh tư bản trong ngành in ấn và những phong tục tập quán Tây Âu ồ
ạt tràn vào xã hội Việt Nam. Và cái nơi bị biến đổi nhanh chóng là Hà Nội. Điều
này giải thích vì sao mà “Số đỏ” lấy không gian chính là thủ phủ náo nhiệt của
Việt Nam, với hình tượng trung tâm là xã hội hiện đại. Vũ trọng Phụng xuất
thân trong gia đình lao động nghèo, luôn bị miếng cơm manh áo hàng ngày ám
ảnh, lại sớm được chuyển về Hà Nội, có điều kiện tiếp xúc với tầng lớp dưới đáy
xã hội, cộng với khả năng học hỏi miệt mài, Vũ Trọng Phụng đã có được sự hiểu
biết kĩ càng về những người nghèo khổ nơi thành thị, những hạng cùng đinh con
sen, thằng ở, bọn cờ bạc, lưu manh… Trưởng thành Phụng làm nhiều việc để
14
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
kiếm sống, đặc biệt là công việc viết báo cho các toà soạn đã giúp ông được tiếp
xúc với tầng lớp trên, có điều kiện thuận lợi để quan sát lối sống cũng như cách
hành xử nơi công cộng của những kẻ tai to mặt lớn. Điều duy nhất Phụng thu
lượm được là “xã hội này tôi chỉ thấy khốn nạn, quan tham nhũng, đàn bà thì hư
hỏng, đan ông thì dâm ô, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt mà cái xa hoa chơi bời
của bọn giàu thì thật là những câu chửi rủa vào cái xã hội dân quê, thợ thuyền bị
lầm than, bị bóc lột…”. Những ấn tượng đó in đậm trong các trang viết của ông
đặc biệt là “Số đỏ” - một bức tranh xã hội vừa hỗn tạp, sinh động vừa nóng hổi
hơi thở của cuộc sống đương thời với đủ các loại chân dung, hình hài dị hợm.
Cuộc đời 27 năm ngắn ngủi của Phụng đều gắn bó với căn nhà chật chội
trên phố Hàng Bạc, nằm chen chúc cùng với kho chứa, xưởng sửa chữa, những
con ngõ hẻm quanh co, rối tắm, cùng những vỉa hè rộng lát gạch… Trên những
vỉa hè ấy là cảnh buôn bán tấp nập, sinh hoạt thương mại và cảnh đi lại của
người bán rong, thợ khuân vác, phu xe, trẻ đánh giày, bọn móc túi, gái điếm,
cảnh sát, ăn xin, khách du lịch, dân lang thang đổ tới… Vì vậy không có gì đáng
ngạc nhiên khi những cảnh vỉa hè nổi bật trong nhiều tác phẩm của ông. “Số đỏ”
còn được gọi là tiểu thuyết vỉa hè. Thật thế, ngay ở chương đầu của tiểu thuyết
đã vẽ lên các chân dung cư dân hỗn tạp của một quãng vỉa hè, ông thầy số, chị
bán mía, anh bán nước chanh và thằng Xuân - nhặt ban quần – trao đổi tin vặt,
tán tỉnh, hóng hớt những tin thời sự quan trọng và mặc cả giá hàng. Lẫn trong đó
còn có những tiếng om sòm, những tiếng hô, tiếng bồm bộp của quả banh vọng
ra từ một sân tennis gần đấy. Đó là một bản nghịch âm lộn xộn của đô thị hay
mớ bòng bong rối rắm phức tạp của các tầng lớp xã hội? Dù là gì thì cũng đã
mang lại cho “Số đỏ” – không khí của đô thị hiện đại những năm 30.
Một điều tưởng như có thể bỏ qua là học vấn ngắn ngủi của Vũ Trọng
Phụng. Điều này cũng tạo nên những ám ảnh trong văn chương của ông. Học hết
tiểu học vì nhà nghèo Phụng phải thôi học, lại mồ côi cha, rồi liên tục ốm yếu…
Những điều này đã tạo ra sự chia cắt của ông đối với các đối thủ văn chương
gay gắt nhất của ông sau này là các thành viên trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn,
15
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
họ đều có bằng cử nhân, tú tài hoặc từng du học ở Pháp. Sự khinh thị coi thường
mà Phụng dành cho đối thủ thể hiện qua nét vẽ lố bịch về nhân vật Tú ở “Số
đỏ”, và cả ông Văn Minh, người từng sang Pháp học sáu, bẩy năm và sau khi về
nước thì đâm ra ghét văn bằng như những du học sinh quay về tổ quốc mà
không có một mảnh bằng nào cả.
Một điểm cần lưu ý là tư tưởng chính trị của Vũ Trọng Phụng bị các nhà
phê bình coi là bảo thủ. Bởi trong tác phẩm của Phụng tính dục lộ liễu và mối
quan tâm tới tầng lớp hạ lưu trong các tác phẩm của Phụng đối lập với tính trang
nghiêm và chủ nghĩa tinh tuý của các thế lực bảo thủ đang tồn tại khi đó. Ông
chia sẻ đồng tình với Đảng Cộng Sản Đông Dương là chống thực dân, căm ghét
giai cấp giàu… Nhưng ông không tỏ thái độ ngưỡng mộ những người cộng sản.
Phụng thật sự chưa hiểu rõ ràng đường lối của Đảng và thậm chí còn bị nhầm
lẫn giữa Đệ Tam và Đệ Tứ. Chính những biểu hiện này của nhà văn mà đã tạo ra
số phận lênh đênh cho những tác phẩm để đời sau này.
Tới sự tiếp nhận của công chúng:
“Số đỏ” ngay từ khi ra đời năm 1936 nó đã chịu chung số phận với các
sáng tác của Phụng. Có thể chia quá trình tiếp nhận “Số đỏ” của công chúng và
các nhà phê bình theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8: (1936 – 1945)
Có hai luồng ý kiến trái ngược nhau: Rất nhiều người khen ngợi các tác phẩm
của ông và đặc biệt là “Số đỏ”. Nhưng hầu hết những lời khen cũng tỏ ra thận
trọng và dè dặt. Chủ yếu là những ý kiến phê bình đả kích Vũ trọng Phụng. Nhất
Chi Mai trong tờ “Ngày nay ” viết “Trong văn Vũ Trọng Phụng có nhiều chỗ
nhơ nhớp, những câu sống sượng, trần chuồng. Không ai có quyền cấm nhà văn
Vũ Trọng Phụng dùng những chữ bẩn thỉu để tả những sự bẩn thỉu. Nhưng trong
khi viết những câu văn mà mình cho là khoái trá tưởng cũng nên nghĩ đến độc
giả một chút”. Không những “Số đỏ” bị kết án là “văn chương dâm uế” mà còn
bị cho là thiếu lạc quan, thấy nhân gian như là một địa ngục. Tuy Phụng đã có
16
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
những bài đối lại rất thuyết phục nhưng cái án này vẫn làm cho “Số đỏ” và các
tác phẩm khác bị hờ hững trước công chúng.
Giai đoạn những năm kháng chiến chống Pháp và Mỹ: (1945 – 1975)
Do hoàn cảnh kháng chiến mà có nhiều vấn đề trong văn học được đề cập, nổi
bật có vấn đề của Vũ Trọng Phụng. Tại hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc
năm 1949 nhiều nhà văn đã nhắc đến Vũ Trọng Phụng và thông nhất với ý kiến
khẳng định của Nguyên Hồng: “Sáng tạo Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã có một thái
độ, thái độ không công nhận cái xã hội ấy”, của Nguyễn Đình Thi: “Tác phẩm
đã chép đúng thực tại cũng đã có giá trị cách mạng rồi”. Chính vì thế “Số đỏ”
cùng với Vũ trọng Phụng lấy được giá trị trên văn đàn và được in lại và được
người đọc nhiệt tình. Nhưng đến năm 1957 – 1958 Vũ Trọng Phụng và các tác
phẩm của ông trong đó có “Số đỏ” giánh được sự cổ vũ, ngợi ca của các thủ lĩnh
nhân văn giai phẩm thì do nghi vấn đến tư tưởng chính trị hai mặt của nhà văn
mà “Số đỏ” lại bị cấm phát hành. Đặc biệt là ý kiến của Hoàng Văn Hoan - uỷ
viên bộ chính trị nhà nước đã kết án Vũ trọng Phụng vào nhà văn có khuynh
hướng phản động nguy hiểm. Và từ đó suốt 20 năm các tác phẩm của Phụng bị
cấm, văn nghiệp của Vũ Trọng Phụng lúc này bị phủ định sạch trơn.
Giai đoạn sau 1986 đến nay:
Từ vực thẳm, các sáng tác của Vũ Trọng Phụng lại đi lên và được độc giả
cũng như giới phê bình đón nhận lại. Từ cuộc đời đến tác phẩm đều được nghiên
cứu rất công phu. Năm 1978 bộ “Tuyển tập Vũ Trọng Phụng” (3 tập) đã lần lượt
được ấn hành. Và ai cũng đã thừa nhận thiên tài lỗi lạc của Vũ Trọng Phụng,
thông cảm với những khuyết ở nhà văn. Trước đây bị kiểm duyệt thì nay “Số
đỏ” đã khôi phục lại bản chép tay và năm 1989 đã được chuyển thể thành phim.
Tiếp đó là được dịch ra các thứ tiếng nước ngoài, bản dịch của Peter Zinoman ra
tiếng Anh là bản dịch rất thành công. Các nhà phê bình đều tập trung giải tội cho
Phụng còn riêng “Số đỏ” được ngợi ca “Cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự
cho mọi nền văn học” (Nguyễn Khải)
17
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
Như vậy “Số đỏ” có số phận đầy sóng gió bấp bênh. Khi bị phủ định hoàn
toàn lúc lại hào quang toả rộng. Nhưng điều thống nhất là không ai có thể phủ
nhận tài năng của Vũ Trọng Phụng và việc phản ánh hiện thực bằng bút pháp
trào phúng rất tài hoa của “Số đỏ”.
III. “Số đỏ” nhìn từ bình diện dân tộc và nhân loại.
1: “Số đỏ” không chỉ là một tiểu thuyết rất thành công trong nghệ thuật
trào phúng và bút pháp tả chân hiện đại mà còn là tác phẩm kế thừa sâu sắc được
những tinh hoa trong văn hoá dân tộc. Trước hết ngay ở nhan đề “Số đỏ” cũng
chịu ảnh hưởng từ một quan niệm của văn hoá tâm linh người Việt. Khái niệm
chiêm tinh học về số từ lâu là chỗ dựa cho hầu hết người Việt để đối phó với
những thăng trầm thông thường và bất ngờ trong đời sống của họ. Sự ám ảnh
của “Số đỏ” với số biểu hiện qua sự xuất hiện nhiều lần của ông thầy bói, những
điềm báo, và những tiên đoán trong truyện. Điều này cho thấy nhà văn đã cố
gắng khai thác truyền thống của người Việt để tìm một phương tiện thuần nhằm
thuần hoá và giải thích cái đặc điểm cơ bản là ngẫu nhiên và không thể đoán
trước được của cuộc sống hiện tại.
Ngay lối kể chuyện cũng rất truyền thông phương Đông. Truyện chia làm
các chương, hồi với những cái tên đề mục hấp dẫn: Số đào hoa của Xuân tóc đỏ,
Minh + Văn = Văn Minh… nhằm kích thích, lôi cuốn người đọc văn những
phiêu lưu, bất ngờ và bí mật. Ngoài ra, ở lối chơi chữ, lối nói nước đôi, những
dạng đối thoại hài hước kiểu “ông nói gà, bà nói vịt” gợi liên tưởng đến những
tình huống trong chèo cổ. Ví dụ đoạn đối thoại giữa bà Phó Đoan với người vú
già trong ngày khánh thành sân quần vợt. Khi quan khách đã kết thúc tiệc rượu
muốn đi thăm sân quần vợt mới thì “trên rặng lưới của cái sân quần còn mới
nguyên như một cô gái còn tân, người ta thấy một…hai…ba…bốn… cái quần”
của bà Phó Đoan. Bà điên người gọi vú già lên mắng cho một trận kịch liệt thì
bà vú già bảo thủ cứ làu nhàu:
Ai biết đâu đấy! “Gọi là sân quần thì ai chả tưởng để phơi quần!” Không
những vậy một số nhà nghiên cứu, điển hình là Văn Tâm đã chỉ ra điểm tương
18
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
đồng đầy sức thuyết phục giữa Xuân tóc đỏ với trạng lợn trong văn học dân gian
Việt Nam. Cả hai đều là những gã bợm may mắn. Cảnh Xuân tóc đỏ “ngâm nga
rất dõng dạc” bài quảng cáo thuốc cảm sốt mà khiến chàng thi sĩ lãng mạn đang
lẽo đẽo theo chân cô Tuyết phải bái phục vội vã rút lui làm ta liên tưởng đến khi
Trạng lợn đặc tả nôm na rất tự nhiên chủ nghĩa: “Nọng tay dí bẹn đỏ hăm
hăm…” mà lại được mọi người tán thưởng là chữ nghĩa tài tình.
Từ những biểu hiện trên đây có thể hiểu rằng “Số đỏ” là sự kết hợp hài
hoà giữa hiện đại và truyền thống một cách rất tài tình đáng phục.
2: “Số đỏ” còn là tác phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố ngoại lai. Ví
dụ âm hưởng của học thuyết Freud trong “Số đỏ” biểu hiện ở một số nhân vật
như cậu Phước – “con giời con phật” và bà Phó Đoan, đều có những cảnh thể
hiện bản năng tình của mình. Ở bà Phó Đoan là làm mất cái công “thủ tiết với
hai đời chồng”. Ở Xuân tóc đỏ là hành vi nhìn trộm một cô đầm thay váy rối đột
nhiên trở thành bậc “thượng lưu tri thức”. Nhân vật cậu Phước “Em chã” hay
ngồi thừ mặt là một minh chứng cho lý thuyết của Fraud như một nét tính cách
chứ không phải toàn bộ tính cách của nhân vật. Về ngôn ngữ Vũ Trọng Phụng
cũng chịu ảnh hưởng thuyết hoài nghi về độ đáng tin cậy của ngôn ngữ ở Kapka.
Đặc biệt “Số đỏ” có kết cấu và văn phong chịu ảnh hưởng từ một số mẫu hình
Tây phương. “Số đỏ” được so sánh có những nét kết cấu tương đồng với vở hài
kịch châm biếm của Môlie, còn giọng văn hoạt kê, quỹ đạo phưu lưu thắt nút
của “Số đỏ” lại gần với lối văn tường thuật của Cervantes; Dickens; Gôgol…
những nhà văn hoàn toàn không xa lạ với Vũ Trọng Phụng. Cấu trúc của truyện
lại có thể so sánh với “Vỡ mộng” của BanZắc, trong đó kể về sự leo thang địa vị
xã hội ở Paris của một chàng trai tỉnh lẻ ở đầu thế kỉ 19.
Một điều thú vị nữa là bộ phim “Vua lưu manh” ra mắt năm 1930 và rất
được công chúng ưa chuộng tại Pháp. Nội dung phim kể lại những bước phiêu
lưu mạo hiểm của Bouboule, một gã bịp bợm tinh ranh thành thị. Gã này đã
thành công nhờ một chuỗi những may mắn khác thường với những mưu mô xảo
trá. Hắn cũng là kẻ mà Paris không ai cầm cương được, lại hay chế giễu, nói
19
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
tiếng Lóng, nhiều mánh khoé. Cũng giống “Số đỏ” Bouboule đã lên danh vị nhờ
nhiều sự kiện thể thao: Đua xe, đấm bốc. Cảnh cuối, Bouboule vô tình trở thành
anh hùng trong trận bóng bầu dục giưa Anh và Pháp, được hoan nghênh như
một vị cứu tinh của dân tộc và cưới được người phụ nữ trong mơ của gã. Điều
này khiến ta liên tưởng đến trận chung kết Tennis giữa Đông Dương và Xiêm La
mà Xuân tóc đỏ trở thành anh hùng cứu quốc và cũng được cụ cố Hồng gả con
gái cho. Và theo nghiên cứu bộ phim này rất thành công và có thể được chiếu ở
Đông Dương. Nếu vậy thì thực sự Vũ Trọng Phụng đã có nhiều ảnh hưởng từ đó
nhưng dù thế nào thì “Số đỏ” vẫn phản ánh được quá trình biến đổi hoá xã hội ở
Việt Nam và cả những mưu mô thối nát của chế độ thực dân phong kiến cần lên
án.
20
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
KẾT LUẬN
Trên đây, chúng tôi đã đi nghiên cứu tác phẩm “Số đỏ” từ ba bình diện
chính: Bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật từ những mối liên hệ biện chứng
nội tại; Bình diện tâm lý – xã hội và bình diện văn hoá dân tộc và nhân loại. Từ
ba góc nhìn này chúng tôi soi chiếu vào tác phẩm để qua nó làm nổi bật những
thanh tựu về nội dung cũng như những xuất sắc về nghệ thuật, tìm ra mối quan
hệ mật thiết của tác phẩm với tác giả? Và quan trọng rút ra được những yếu tố
kết tinh từ truyền thống dân tộc và nhân loại. Từ ba góc độ này cho chúng tôi
hiểu “Số đỏ” một cách hoàn chỉnh và toàn diện nhất. Từ đó có thể kết luận rằng:
“Số đỏ” là một kiệt tác của Vũ Trọng Phụng và đã khám phá chân thực và sâu
sắc về đời sống, con người đạt tới phẩm chất nghệ thuật cao. Nó đã cắm một
mốc quan trọng trong nghệ thuật điển hình hoá hiện thực chủ nghĩa trong văn
xuôi Việt Nam, được đánh giá là tác phẩm vinh danh cho văn chương hiện thực
Việt Nam trước cách mạng tháng 8.
Như vậy, “Số đỏ” được tiếp cận từ ba góc nhìn một cách khái quát và sơ
lược cũng đã đem đến những phát hiện nhiều thú vị. Hi vọng tham khảo cách
tiếp cận này, chúng ta sẽ tìm ra cách khai thác khác hoặc đi sâu hơn để phát hiện
ra những tiềm ẩn phong phú của cuốn tiểu thuyết lớn này của Vũ Trọng Phụng.
21
Bài tập chuyên đề Đàm Thị Duyên - K54A Ngữ
văn
THƯ MỤC THAM KHẢO
I: Sách:
1: Hoài Anh – Vũ Trọng Phụng nhà hoá học của những tính cách – chân dung
văn học, NXB văn nghệ TPHCM, 1995.
2: Nguyễn Ngọc Thiện, Hà Công Tài – Vũ Trọng Phụng về tác gia và tác phẩm
– NXBGD, 2003
3: Đỗ Đức Hiểu – Thi pháp hiện đại – NXB Hội nhà văn, H, 2000
4: Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại – NXBKHXH, 1989
5: Tập thể tác giả - Từ điển thuật ngữ văn học – NXB Văn Học, H, 1992
II: Luận văn, tạp chí
1: So sánh nghệ thuật tiểu thuyết “Tắt đèn” và “Số đỏ” - Luận văn thạc sĩ,
ĐHSPHN, 2005
2: Phan Cự Đệ - Đánh giá lại “Số đỏ” – Báo giáo viên nhân dân, số đặc biệt,
tháng 7- 1989
3: Hoàng Ngọc Hiến – Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong “Số đỏ” – TCVH
số 2 ,1990
4: Đôi điều so sánh giữa “Số đỏ” và “Truyện trạng lợn” - Diễn đàn văn nghệ
Việt Nam, số 11, 1998
5: Peter Zinoman - số đỏ của Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa hiện đại Việt Nam –
TCVH số 3, 2002
6: Trần Hữu Tá – Vũ Trọng Phụng, hôm qua và hôm nay – NXB TPHCM, 1992
7: Vương Trí Nhàn - Những lời bàn về tiểu thuyết trong VHVN từ đầu thế kỉ
XX đến 1945, NXB Hội nhà văn, 2000
22