Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Những bước đi khởi đầu của thị trường chứng khoán Việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.87 KB, 22 trang )

Lời nói đầu
Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc là một trong
những nhiệm vụ chiến lợc, trọng yếu đợc Đảng và Nhà nớc ta đặt lên hàng đầu . Để thực
hiện mục tiêu đó vấn đề huy động vốn đang trở lên vô cùng quan trọng. Để giải quyết vấn
đề về vốn và phát huy hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn thì điều cần thiết là phải tạo lập, xây
dựng và phát triển thị trờng chứng khoán.
Ngày 20/7/2000 vừa qua, Trung tâm giao dịch chứng khoán đã đợc chính thức khai tr-
ơng tại thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu sự ra đời thị trờng chứng khoán chính thức tại
Việt Nam. Thị trờng chứng khoán là một loại hình thị trờng tài chính hiện đại không thể
thiếu đợc trong một nền kinh tế phát triển, song cũng rất mới mẻ đối với những ngời dân
Việt Nam.
Là một sinh viên trong lĩnh vực kinh tế, sự ra đời của thị trờng chứng khoán Việt Nam
đã thu hút sự quan tâm mong muốn tìm hiểu của em. Với ý định tìm hiểu về cơ cấu tổ chức
hoạt động của thị trờng chứng khoán Việt Nam cũng nh có những đánh giá ban đầu về
hoạt động của loại hình thị trờng tài chính mới mẻ này, em đã quyết định nghiên cứu
chuyên đề Những bớc khởi đầu của thị trờng chứng khoán Việt Nam.
Chuyên đề đợc kết cấu thành 3 chơng:
Chơng I: Đặc trng cơ bản của thị trờng chứng khoán: Nghiên cứu những
kiến thức cơ bản về thị trờng chứng khoán để làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu về
thị trờng chứng khoán Việt Nam trong các chơng sau.
Chơng II: Thực trạng hoạt động của thị trờng chứng khoán Việt Nam:
Xem xét thực trạng hoạt động cũng nh những đặc thù riêng có của thị trờng chứng khoán
Việt Nam nhằm có đợc cái nhìn tổng quát về loại hình thị trờng này ở Việt Nam.
Chơng III: Giải pháp để duy trì và phát triển thị trờng chứng khoán Việt
Nam: Trên cơ sở phân tích những hoạt động ban đầu của Trung tâm giao dịch chứng
khoán cũng nh các nhân tố ảnh hởng tới môi trờng phát triển của thị trờng chứng khoán
Việt Nam để thấy đợc thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng và phát triển thị trờng
chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới. Từ đó, em cũng muốn nêu một vài nhận xét về
các giải pháp cần có để thúc đẩy sự phát triển của thị trờng chứng khoán Việt Nam.
Do thời gian hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán cha lâu, kiến thức về


thị trờng chứng khoán của bản thân mới chỉ dựa trên sách vở báo chí, cho nên chắc hẳn
chuyên đề em viết còn nhiều thiếu sót. Với ớc muốn đợc tiếp tục khám pháp vấn đề hóc
búa nhng rất thú vị này, em mong sẽ nhận đợc sự chỉ bảo góp ý của thầy để những nghiên
cứu sau này đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.

chơng i
đặc trng cơ bản của thị trờng chứng khoán

I. Vai trò của thị trờng chứng khoán
1. Định nghĩa:
Cũng giống nh nhiều khái niệm khác, hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều
cách định nghĩa khác nhau về thị trờng chứng khoán. Song tựu chung lại, cách
định nghĩa phổ biến nhất đợc đa ra nh sau:
"Thị trờng chứng khoán là thị trờng mà ở đó ngời ta phát hành các loại chứng khoán
để huy động vốn và tiến hành các hoạt động mua bán, chuyển nhợng, trao đổi chứng
khoán nhằm mục đích kiếm lời".
Việc kiếm lời thông qua thị trờng chứng khoán chủ yếu dựa vào kinh doanh
mua bán chứng khoán để ăn chênh lệch giá hoặc từ các hoạt động đầu t vào
chứng khoán để đợc hởng phần lợi nhuận thu đợc từ loại chứng khoán đó.
Thông thờng thị trờng chứng khoán phải tồn tại ở một nơi mà tại đó việc
mua bán chứng khoán đợc thực hiện. Trong quá trình phát triển và hoàn thiện,
thị trờng chứng khoán ở các nớc có nền sản xuất và lu thông hàng hoá lâu đời
nh Anh, Pháp, Mỹ... tồn tại dới hai hình thức: thị trờng chứng khoán có tổ chức
và thị trờng chứng khoán phi tổ chức.
1.1/ Thị trờng chứng khoán có tổ chức:
Hình thức phổ biến của thị trờng chứng khoán có tổ chức là Sở giao dịch
chứng khoán (thị trờng chứng khoán tập trung). Đó là nơi gặp gỡ của các nhà
môi giới chứng khoán, là cơ quan phục vụ cho hoạt động giao dịch mua bán
chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán không tham gia vào việc mua bán

chứng khoán mà chỉ cho thuê địa điểm để ngời mua bán chứng khoán thực hiện
và đa ra danh sách các loại chứng khoán đợc mua bán trên thị trờng. Sở giao dịch
chứng khoán có đặc điểm là không có hàng hoá và không có ngời mua bán cuối
cùng chỉ có ngơì môi giới.
1.2/ Thị trờng chứng khoán phi tổ chức:
Là loại thị trờng chứng khoán bậc cao, nó diễn ra ở bất cứ nơi nào mua và
bán chứng khoán.Thị trờng chứng khoán phi tổ chức gồm 2 loại: Thị trờng bán
tập trung và
Thị trờng bán tập trung (Over the counter - OTC ) là thị trờng không có
hình thái tổ chức tồn tại, không nằm trên vị trí trung tâm nào.
Thị trờng chứng khoán phi tập trung: nó có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó
ngời mua và ngời bán trực tiếp gặp nhau để tiến hành giao dịch, mua bán chuyển
nhợc chứng khoán hoặc có thể thông qua nhà môi giới.
2

Thị trờng chứng khoán phi tập trung là cơ sở hình thành thị trờng chứng
khoán tập trung, rồi tiến đến thị trờng chứng khoán bán tập trung. Tất cả các loại
chứng khoán đợc phát hành đều có thể giao dịch trên thị trờng chứng khoán phi
tập trung.
Thị trờng chứng khoán phi tập trung có vai tro không kém phần quan trọng,
nó góp phần tạo nên sự ổn định giá cả của thị trờng tập trung.
1.3/ Phân loại thị trờng chứng khoán:
Việc phân loại thị trờng chứng khoán có ý nghia quan trọng, nó giúp cho các
quốc gia lựa chọn cho mình hình thức phù hợp. Để phân loại hợp lý và thích hợp
với đặc thù của chứng khoán có thể phân loại thị trờng chứng khoán vào các tiêu
thức sau:
*0 Thị trờng cổ phiếu: là thị trờng phát hành cổ phiếu mới và mua đi bán lại cổ
phiếu cũ. Hoạt động của thị trờng cổ phiếu chứa đựng cả hai lĩnh vực đầu t chứng
khoán và kinh doanh chứng khoán. Đây chính là thị trờng vốn cổ phần. Thị trờng
này có đặc điểm phản ánh các quan hệ mang tính chất sở hữu.

Trong thị trờng cổ phiếu lạ có 2 loại cổ phiếu cơ bản là cổ phiếu thờng và cổ
phiếu u đãi.
Cổ phiếu thờng (Common stock): là cổ phiếu đợc phát hành lúc thành lập công
ty và lúc công ty cần gọi thêm vốn. Đây là loại cổ phiếu không có kỳ hạn, nó tồn
tại cùng vớu sự tồi tại của công ty phát hành nó, không có lãi suất cố định, số lãi
đợc chia phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Mỗi cổ phiếu thờng thể
hiện quyền sở hữu trong công ty. Số lợng cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ càng
nhiều thì họ càng có nhiều quyền lợi sở hữu. Cổ đông có thể là một cá nhân mà
cũng có thể là một công ty. Cổ đông đợc quyền tham gia quản lý doanh nghiệp,
bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị, đợc quyền cung cấp thông tin đầy đủ về
hoạt động của công ty...
Tuy nhiên các chủ nhân của nó cũng phải chịu nhiều rủi ro lớn đặc biệt là trong
trờng hợp công ty làm ăn thua lỗ hoặc phá sản thì họ là những ngời đợc nhận lại
vốn sau cùng
Cổ phiếu thờng có giá trị ban đầu đợc ghi trên cổ phiếu gọi là mệnh giá (face
value). Mệnh giá chỉ là giá trị danh nghĩa vào thời điểm cổ phiếu đợc phát hành
lần đầu. Trong quá trình kinh doanh, tùy theo số lợi nhuận thu đợc và cách phân
phối lần đầu, giá cổ phiếu sẽ đợc tăng lên và vợt giá trị ban đầu. Giá này gọi là
giá thị trờng.
Cổ phiếu u đãi (Preferred stock): Cổ phiếu u đãi là loại cổ phiếu cho phép
ngời nắm giữ cổ phiếu đợc hởng một số u đãi hơn so với cổ đông cổ phiếu thờng
về tài chính mà những cổ đông có cổ phiếu thờng không có nh: đợc hởng mức
lãi cổ phần riêng biệt cố định hàng năm, đợc u tiên chia lãi cổ phần trớc cổ phiếu
thờng, và đợc u tiên phân chia tài sản còn lại của công ty khi thanh lý, giải thể.
Nhng trong trờng hợp công ty làm ăn không có lãi và không có khả năng trả cổ
tức thì họ cũng không đợc nhận cổ tức. Tuy vậy, cổ phiếu u đãi có một điểm hạn
chế hơn so với cổ phiếu thờng, đó là ngời nắm giữ cổ phiếu u đãi không đợc
tham gia bầu cử, ứng cử vào Ban quản trị, Ban kiểm soát hoạt động của công ty.
3


*1 Thị trờng trái phiếu: là thị trờng phát hành trái phiếu mới và mua đi bán lại
trái phiếu cũ. Tơng ứng với hai loại trái phiếu cơ bản là trái phiếu doanh nghiệp và
trái phiếu chính phủ có hai loại thị trờng trái phiếu là thị trờng trái phiếu chính phủ.
Đây chính là thị trờng nợ với tính chất thể hiện các quan hệ tín dụng. Trái phiếu có
nhiều loại khác nhau với tên gọi đặc thù khác nhau. Về cơ bản ta có thể phân chia
trái phiếu với các tiêu thức sau:
Căn cứ vào các hình thức phát hành trái phiếu có 2 loại:
Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu không ghi tên sở hữu chủ cả trên trái phiếu
cũng nh trên sổ công ty phát hành, tức là ai có loại trái phiếu này đều trở thành
chủ sở hữu và có quyền thanh toán trái phiếu.
Trái phiếu ký danh: là loại trái phiếu có ghi tên sở hữu chủ trên tờ trái phiếu và
tên của trái chủ đợc đăng ký tại công ty phát hành. Trái phiếu ký danh có thể đợc
đăng ký về phần vốn hoặc đợc đăng ký toàn bộ tuỳ theo ý thích của chủ sở hữu.
Trái phiếu ký danh an toàn hơn vì khi mất trộm có thể thay thế bằng trái phiếu
mới, nhng khi cần bán lại khó khăn hơn trái phiếu vô danh.
Căn cứ vào phơng thức tổ chức phát hành , có hai loại trái phiếu chủ yếu
sau:
Trái phiếu công ty: là loại trái phiếu do công ty thuộc các thành phần kinh tế
phát hành nhằm huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ
theo mục đích và tính chất khác nhau mà trái phiếu công ty có thể chia làm
nhiều loại khác nhau. Trái phiếu công ty là loại trái phiếu dài hạn (thờng có thời
hạn 5 năm), trả lãi hàng năm hoặc cứ nửa năm trả lãi một lần. Trái phiếu có
mệnh giá cố định.
Trái phiếu chính phủ: là loại trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích
huy động vốn cho ngân sách, thờng để phục vụ cho những kế hoạch đầu t phát
triển dài hạn chứ không nhằm mục đích đáp ứng thiếu hụt ngân sách tạm thời.
Trái phiếu chính phủ có nhiều tên gọi khác nhau nh: công trái, trái phiếu kho
bạc. Trái phiếu chính phủ có thời hạn từ 2 năm đến 10, 20 năm. Đây là điểm
khác biệt giữa trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty vì các công ty không
thể có khả năng vay vốn trong một thời gian dài nh vậy đợc. Trái phiếu chính

phủ là trái phiếu an toàn nhất hầu nh không có rủi ro.
2. Chủ thể tham gia thị trờng chứng khoán:
Các chủ thể tham gia trên thị trờng chứng khoán rất đa dạng, nh là: chính
phủ, hệ thống ngân hàng thơng mại, các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng và tầng lớp nhân dân. Các chủ thể này tham gia với t cách là ngời
phát hành, mua bán chuyển nhợng chứng khoán hoặc môi giới kinh doanh
chứng khoán. Mỗi chủ thể có tầm quan trọng riêng trên thị trờng tạo nên sự
thống nhất trong hoạt động của thị trờng.
Về cơ bản, có thể chia thành 4 nhóm chủ thể chính sau đây:
2.1/ Các tổ chức phát hành chứng khoán:
4

Đây là những chủ thể có nhu cầu huy động vốn để mở rộng sản xuất, phát
triển qui mô kinh doanh của mình. Bằng cách phát hành chứng khoán họ có thể
vay vốn từ các chủ thể khác trong nền kinh tế. Loại chủ thể này chỉ có thể là các
pháp nhân nh các doanh nghiệp, ngân hàng, các tổ chức tài chính khác hoặc
chính phủ.
Các doanh nghiệp: đây là những ngời có nhu cầu vốn dài hạn trớc tiên trong nền
kinh tế. Các doanh nghiệp tham gia thị trờng chứng khoán với t cách là ngời tạo
hàng hoá cho thị trờng chứng khoán qua thi trờng sơ cấp và với t cách là ngời
mua bán chứng khoán tại thị trờng thứ cấp. Doanh nghiệp đợc phát hành trái
phiếu để vay nợ trên thị trờng sơ cấp. Riêng đối với công ty cổ phần thì ngoài
việc phát hành trái phiếu để vay nợ họ còn đợc phát hành cổ phiếu để gọi vốn
điều lệ từ các nhà đầu t.
Chính phủ: Chính phủ tham gia vào thị trờng chứng khoán với t cách nh một
doanh nghiệp bình thờng. Nhà nớc tạo ra hàng hoá cho thị trờng chứng khoán
khi phát hành trái phiếu để bù đắp cho thiếu hụt ngân sách hoặc tài trợ cho việc
thực hiện các chơng trình kinh tế xã hội. Các chính quyền địa phơng cũng có thể
phát hành chứng khoán dài hạn để có vốn thực hiện các công trình công cộng.
Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: Các ngân hàng cũng nh các tổ chức tài

chính khác cũng cần có thêm vốn dài hạn để mở rộng hoạt động bằng các phát
hành trái phiếu trên thị trờng.
2.2/ Các nhà đầu t chứng khoán:
Đó là những ngời sở hữu chứng khoán, ngời mua hoặc dự kiến mua chứng
khoán cho mình. Họ là những ngời có vốn d thừa có nhu cầu đầu t cho vay. Đó
là những hộ gia đình, các doanh nghiệp kinh doanh, chính phủ, ngời nớc ngoài
(có thể là pháp nhân hoặc là thể nhân, chính phủ nớc ngoài).
2.3/ Các tổ chức trung gian:
Các tổ chức trung gian có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát
triển của thị trờng chứng khoán (đối với cả thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp).
Mặc dù những chủ thể trực tiếp trên thị trờng chứng khoán là những ngời cho
vay vốn và ngời sử dụng vốn nhng các tổ chức trung gian có vai trò hỗ trợ cho cả
quá trình, thiếu họ thì quá trình vay vốn - đầu t sẽ trở nên khó khăn. Các tổ chức
trung gian đáp ứng đợc nhu cầu của cả hai phía bằng cách điều hoà lại các khoản
tiết kiệm và các khoản cho vay dới những hình thức thích hợp với cả hai phía.
Điều đó sẽ đem lại hiệu quả cao hơn và làm giảm các chi phí giao dịch cho hai
bên vay và cho vay. Nhóm những trung gian này bao gồm: các tổ chức nhận tiền
gửi (các ngân hàng), các công ty tài chính, các quỹ tơng trợ và các công ty
chứng khoán.
2.4/ Các tổ chức điều tiết:
Đó là những ngời tổ chức nên thị trờng chứng khoán, quản lý khối lợng
chứng khoán nói chung và đảm bảo cho mọi giao dịch chứng khoán trên thị tr-
ờng đợc tiến hành đúng luật, hạn chế các rủi ro trên thị trờng. Các tổ chức điều
tiết gồm: Uỷ ban chứng khoán quốc gia, Sở giao dịch chứng khoán, Hiệp hội
những ngời mua bán chứng khoán v.v...
5

3. Hoạt động của thị trờng chứng khoán:
Thị trờng chứng khoán hoạt động trên thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp
*2 Thị trờng sơ cấp: (phát hành và phân phối các chứng khoán) là thị trờng

mua bán đầu tiên các loại chứng khoán vừa mới phát hành, nên còn đợc gọi là thị
trờng phát hành. Thị trờng này cho phép các chủ thể kinh tế nh: các doanh nghiệp,
các tổ chức tài chính hoặc chính phủ thực hiện huy động vốn ban đầu thông qua
việc bán chứng khoán cho các nhà đầu t chứ không mua bán chứng khoán gia các
nhà đầu t. Thị trờng sơ cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trờng
chứng khoán, chức năng này mang nguồn tiền nhàn rỗi đến cho ngời cần tiền sử
dụng, đa nguồn tiền tiết kiệm vào công cuộc đầu t.
*3 Thị trờng thứ cấp: là thị trờng mua đi bán lại các chứng khoán đã đợc phát
hành trên thị trờng sơ cấp và làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán. Thị trờng thứ
cấp tạo nên một yếu tố quan trọng cơ bản: tính thanh toán của các chứng khoán.
Tức là thị trờng thứ cấp đảm bảo khả chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt, cho
phép những ngời giữ chứng khoán có thể rút ra khỏi việc đầu t tại thời điểm nào mà
họ mong muốn hoặc có thể thực hiện sự di chuyển đầu t từ khu vực này sang khu
vực khác dới sự tác động của quy luật bình quân hoá lợi nhuận, do đó làm tính hấp
hẫn của chứng khoán. Chính vì thế nó tạo ra sự lu thông tiền vốn trong nền kinh tế.
Quan hệ giữa thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp là quan hệ nội tại, trong
đó thị trờng sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, còn thị trờng thứ cấp là động lực. Nếu
không có thị trờng sơ cấp sẽ không có chứng khoán để lu thông trên thị trờng
thứ cấp và ngợc lại nếu không có thị trờng thứ cấp thì thị trờng sơ cấp sẽ khó
hoạt động trôi chảy, các loại chứng khoán sẽ rất khó khăn trong việc phát hành
vì không ai dám mua chứng khoán khi vốn của họ bị bất động, chứng khoán
không dễ dàng chuyển hoá đợc thành tiền khi ngời đầu t có nhu cầu.
Trên thực tế thị trờng chứng khoán không có sự phân biệt đâu là thị trờng sơ
cấp và đâu là thị trờng thứ cấp. Trong một thị trờng chứng khoán vừa có giao
dịch của thị trờng sơ cấp vừa có giao dịch của thị trờng thứ cấp.
4. Vai trò của thị trờng chứng khoán:
Thị trờng chứng khoán, qua lịch sử phát triển của mình, ngày càng khẳng
định vai trò quan trọng của nó trong quá trình vận hành nền kinh tế của mỗi
quốc gia và trong cả hệ thống kinh tế toàn cầu. Có thể khái quát hoá vai trò của
thị trờng chứng khoán trên các khía cạnh cụ thể:

Trớc tiên thị trờng chứng khoán giữ vai trò là công cụ tài trợ cho nền kinh tế.
Thị trờng chứng khoán có vai trò thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân để tạo nên
một nguồn vốn khổng lồ nhằm đầu t cho các dự án dài hạn và tài trợ cho các nhu
cầu về vốn. Không chỉ là công cụ huy động vốn trong nớc thị trờng chứng khoán
còn thể hiện vai trò đắc lực trong việc huy động vốn nớc ngoài. Một
vai trò không kém phần quan trọng của thị trờng chứng khoán đó là thị trờng
chứng khoán đảm bảo tính thanh khoản cho các khoản tiết kiệm phục vụ đầu t
dài hạn (các công cụ trên thị trờng chứng khoán). Với vai trò này thị trờng
6

chứng khoán đảm bảo cho việc nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt của các
chứng khoán có giá. Nhờ vậy mà thị trờng chứng khoán đã thu hút đợc các đầu
t đến với mình. Tính thanh quản càng cao khi thị trờng chứng khoán hoạt động
càng hiệu quả.
Khi các doanh nghiệp tham gia vào thị trờng chứng khoán, đòi hỏi chúng
phẩi thông báo trung thực tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nhờ những thông tin trên thị trờng chứng khoán ngời ta có thể đánh giá đợc
nawng lực sản xuất của doanh nghiệp, khả năng sinh lợi của hoạt động sản xuất
kinh doanh và xu thế phát triển của doanh nghiệp. Nh vậy thị trờng chứng khoán
còn có vai trò là công cụ đo lờng các tích sản của doanh nghiệp. Mọi sự biến
động giá cả trên thị trờng sẽ phản ánh sự biến động của giá trị doanh nghiệp.
Chính vì việc phải công khai thông báo một cách trung thực các thông tin về
hoạt động tài chính của doanh nghiệp mình, nên thị trờng chứng khoán đã vừa
tạo điều kiện vừa bắt buộc các doanh nghiệp phải làm ăn nghiêm túc và có hiệu
quả. Mọi thông tin về doanh nghiệp đều đợc công chúng kiểm tra và đánh giá,
đó cũng là cơ sở cho những quyết định đầu t của họ.
Thị trờng chứng khoán có vai trò làm hoàn thiện cấu trúc của hệ thống tài
chính. Thị trờng chứng khoán tạo cơ hội khuyến khích mọi ngời dân tiết kiệm và
quan trọng hơn là biết cách sử dụng tiền tiết kiệm đó một cách có hiệu quả tích
cực thông qua việc đầu t vào các loại chứng khoán. Trớc khi có thị trờng chứng

khoán , các quỹ tiền tệ tập trung nh các ngân hàng thơng mại, đầu t, quỹ bảo
hiểm... đều có mục đích khuyến khích tiết kiệm song vai trò của chúng chỉ là
phát huy hết tác dụng khi có sự ra đời của thị trờng chứng khoán.
Một vai trò to lớn khác của thị trờng chứng khoán là việc hỗ trợ của thị trờng
chứng khoán đối với công ty cổ phần. Có thể nói thị trờng chứng khoán là một
điều kiện không thể thiếu đợc đối với quá trình phát hành và lu hành cổ phiếu
một cách có hiệu quả. Vai trò này sẽ đợc xem xét một cách cụ thể trong phần
tiếp theo.
Trên đây là tổng quan những vai trò của thị trờng chứng khoán, ứng vào mỗi
hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia sự thể hiện vai trò của thị trờng chứng khoán
sẽ là không giống nhau nhng xét tới cùng chúng đều nhằm mục đích góp phần
tạo sự tăng trởng của mỗi quốc gia.

II. sự ra đời của thị trờng chứng khoán Việt Nam
Xây dựng và phát triển thị trờng chứng khoán là một đòi hỏi tất yếu của quá
trình phát triển kinh tế ở Việt nam hiện nay.
7

Thứ nhất, sau đại hội Đảng lần thứ 6, đất nớc ta chuyển mình từ một nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển đổi sang mô hình nền kinh tế thị tr-
ờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trờng đòi hỏi có thị trờng
tiền tệ, thị trờng vốn để phục vụ cho sự phát triển của thị trờng hàng hoá và dịch
vụ. Và nhất là công cuộc Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam hiện nay đòi
hỏi phải có một lợng vốn rất lớn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, trong khi đó
thị trờng vốn ở nớc ta lại cha phát triển, còn tồn tại nhiều khiếm khuyết, mặc dù
nguồn vốn huy động từ các ngân hàng là một khối lợng lớn không nhỏ song vẫn
cha đủ để đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng nh trong tơng lai. Để khắc phục đợc
phần nào tình trạng thiếu vốn của nền kinh tế, hệ thống các ngân hàng thơng
mại nớc ta đã tích cực huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng nhng
nguồn vốn mà các ngân hàng huy động đợc chủ yếu chỉ là vốn ngắn hạn, còn

vốn trung và dài hạn thì vẫn hạn chế, do đó không đáp ứng đợc các dự án đầu t
lớn và dài hạn. Vì vậy đã dẫn đến tình trạng các ngân hàng thừa vốn ngắn hạn
nhng lại thiếu vốn trung và dài hạn cho các hoạt động kinh tế. Sự ra đời của thị
trờng chứng khoán ở nớc ta sẽ tạo điều kiện thu hút vốn trung và dài hạn đang
còn thiếu vì đặc thù của thị trờng chứng khoán là huy động vốn thông qua phát
hành cổ phiếu và trái phiếu hay chính là huy động vốn dài hạn. Và hơn nữa nhờ
yếu tố về mặt thông tin đợc công khai trên thị trờng chứng khoán nên thị trờng
chứng khoán có thể làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trờng tài chính.
Mặt khác, qua điều tra cho thấy tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân c hiện
nay là khá cao, theo ớc đoán nguồn vốn bằng tiền mặt trong dân chúng chiếm
khoảng 50 - 60% tổng khối lợng tiền tệ trong lu thông, số ngoại tệ trong dân c
khoảng 2 tỷ USD, giá trị vàng bạc, đá quý từ 7 - 10 tỷ USD. Tồn tại tình trạng
này là vì hiện nay nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, ngời dân có tâm lý
không muốn dùng tiền của mình để đầu t vì họ sợ rủi ro. Công chúng chỉ sẵn
sàng đa số vốn này vào đầu t khi nền kinh tế và thị trờng đảm bảo đợc lợi nhuận
và tính thanh khoản cho vốn đầu t của họ. Thị trờng chứng khoán ra đời đem lại
nhiều cơ hội đầu t sinh lời cao sẽ góp phần thu hút nguồn vốn này phục vụ cho
phát triển kinh tế.
Thực tế đã chứng minh, sau gần 1 năm hoạt động, thị trờng chứng khoán
Việy Nam đã góp phần thực hiện tốt việc huy động vốn đầu t. Theo thống kê,
thời gian qua ngời dân cả nớc đã mua hơn 60 tỷ đồng giá trị cổ phiếu và trái
phiếu. Một phần lớn trong số đó là tiền để dành, tiền tiết kiệm ngắn hạn....
Bên cạnh đó, thị trờng chứng khoán cũng sẽ tạo điều kiện thu hút nguồn vốn
đầu t nớc ngoài vào Việt Nam. Từ trớc đến nay chúng ta mới chỉ thu hút nguồn
vốn đầu t nớc ngoài chủ yếu thông qua hình thức đầu t trực tiếp nhng sự ra đời
của thị trờng chứng khoán tại Việt Nam sẽ cho phép đẩy mạnh khả năng thu hút
vốn nớc ngoài dới hình thức đầu t gián tiếp vào các doanh nghiệp hoặc cho
chính phủ vay.
Thứ hai, các doanh nghiệp khi tham gia thị trờng chứng khoán cũng thu hút
đợc nguồn vốn để mở rộng các hoath động kinh doanh của mình. Với sự tham

8

×