Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.51 KB, 29 trang )

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phân môn hoá học trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan
trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn
học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh
những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực
hành của hoá học. Học hoá là để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn
thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các
phương trình phản ứng hoá học Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính
sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người. Hoá học góp
phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần
của con người
Để đạt được mục đích của học hoá học trong trường phổ thông thì giáo
viên dạy hoá học là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài
những hiểu biết về hoá học, người giáo viên dạy hoá học còn phải có phương
pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh.
Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc. Trong sáng kiến kinh
nghiệm (SKKN) này, tôi có đề cập đến một khía cạnh “Dạy học hóa học gắn
với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 - THPT”
với mục đích xây dựng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài
giảng trong chương trình hóa học lớp 11, nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú
học tập bộ môn cho học sinh… Để hoá học không còn mang tính đặc thù khó
hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng một hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn có thể vận dụng
vào bài giảng trong chương trình hóa học THPT.
Vận dụng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn ở trên vào bài giảng
nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh… Để hoá
học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU


1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học bộ môn Hóa học tại các lớp: 11A1; 11A2; 11A3; 11A4
và Đội tuyển học sinh giỏi hóa học của trường THPT Bá Thước.
Các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp tích hợp môi trường, kĩ
năng vận dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn hóa học.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Các bài dạy trong chương trình hóa học 11- cơ bản và nâng cao.
Phần 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất các các quốc gia trên thế giới đều
coi là chiến lược của dân tộc mình .Vì thế đại hội lần IX, Đảng cộng sản Việt
Nam trong nghị quyết ghi rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của
một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó.
Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển
như vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo
dục vô cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà
còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang
2
tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng
thiện khoa học.
2.1.1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích
hợp:
Khi dạy kiến thức hóa học trong bất kì lĩnh vực nào: cấu tạo nguyên tử,
phương trình hóa học, dung dịch… đều liên quan đến các hiện tượng vật lí hay
nhiều hiện tượng thiên nhiên, hóa hữu cơ có liên quan đến sinh học như: gluxit,
protein, lipit… nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp làm
cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được mối liên quan giữa
các môn học với nhau.
Ví dụ: Tại sao càng lên cao không khí càng loãng?
Trả lời: Do phân tử khối của O

2
lớn nên ảnh hưởng của lực hút mạnh hơn
nên tập trung chủ yếu ở dưới gần mặt đất.
2.1.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ
các
nội dung học với thực tiễn.
Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và
học giáo viên luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực
tiễn đời sống hằng ngày.
Ví dụ: Tại sao khi ta để muối ăn khan trong lọ không có nắp lại dễ chảy
nước?
Trả lời: Trong muối ăn ngoài thành phần chính là NaCl còn có lượng nhỏ
MgCl
2
. Chính MgCl
2
rất ưa nước nên hút ẩm làm cho muối ăn chảy nước.
2.1.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình
huống
giả định bằng các hiện tượng thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm
3
cho học sinh nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép
vào nhau, trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh
luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải
mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trước tình hình học hoá học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang
thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ
dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường,

về tư tưởng vừa mang bản sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn
thế giới, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật và mới
mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại, cơ bản; tính thực tiễn và giáo dục kỹ
thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm.
Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả những
quan điểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khi lượng
kiến thức không đồng nhất .
* Thực tế giảng dạy cho thấy:
Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong những môn học khó,
nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò
dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận. Đã có hiện tượng
một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá
trị thực tiễn của hoá học.
Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra
cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng
một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít. Do
phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận,
4
truyền thụ tri thức một chiều. Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ
động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: “Dạy học hóa học
gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 - THPT”
sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa
thực tiễn trong học hoá học. Để thực hiện được, người giáo viên cần nghiên cứu
kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề
thực tế liên quan phù hợp với từng học sinh ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc
cần quan tâm đến tính cách sở thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án
theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phải mang tính hợp lý
và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học

môn hoá học. Tuy nhiên, thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều, “nó
như thứ gia vị trong đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém
đi hiệu quả ăn uống”.
2.3.1. Các giải pháp thực hiện:
“Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho
học sinh lớp 11 - THPT” bằng cách:
2.3.1.1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau
khi đã kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào
những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt
gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó?
Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo.
2.3.1.2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua
các phương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có
5
thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn
bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải toả tính tò mò của học sinh. Mặc dù
vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông.
2.3.1.3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay
cho lời giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất
ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng
ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá
trình học tập.
2.3.1.4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông
qua các bài tập tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi
làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được
bài toán hoá đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu
được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?
2.3.1.5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông
qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ
thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này có thể góp phần tạo không khí học

tập thoải mái. Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá.
2.3.1.6. Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung
quanh đời sống ngày thường ở địa phương, gia đình …sau khi đã học bài giảng.
Cách nêu vấn đề này có thể làm cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học
tìm cách giải thích hay tự tái tạo lại kiến thức qua các thí nghiệm hay những lúc
bắt gặp hiện tượng, tình huống đó trong cuộc sống. Giúp học sinh phát huy khả
năng ứng dụng hoá học vào đời sống thực tiễn.
2.3.1.7. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó
liên hệ với nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật. Làm
cho học sinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập
6
theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực
tiễn hàng ngày.
2.3.2. Các hình thức tổ chức thực hiện:
2.3.2.1. Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của
học sinh hay không là nhờ vào người hướng dẫn. Trong đó phần mở đầu là rất
quan trọng, nếu ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc giả định rồi yêu cầu
học sinh cùng tìm hiểu, giải thích.
2.3.2.2. Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy: Vấn đề môi
trường luôn được nhắc đến hằng ngày như: khói bụi của nhà, nước thải của sinh
hoạt…có liên quan gì đến sự thay đổi của thời tiết hay không. Tùy vào thực trạng
của từng địa phương mà ta lấy ví dụ sao cho gần gũi.
2.3.2.3. Liên hệ thực tế trong bài dạy: Khi học xong vấn đề gì mà học
sinh thấy được ứng dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, chủ động tư duy để tìm
hiểu. Do đó trong mỗi bài học giáo viên nên đưa ra được một vài ứng dụng thực
tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh hơn.
2.4. HỆ THỐNG CÁC HIỆN TƯỢNG HÓA HỌC THỰC TIỄN DÙNG
CHO CÁC BÀI GIẢNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THPT
* Ví dụ 01: Vì sao cồn có thể sát khuẩn?
Cồn là dung dịch Ancol etylic (C

2
H
5
OH) có khả năng thẩm thấu rất cao,
có thể xuyên qua màng tế bào tiến sâu vào trong gây đông tụ protein làm cho tế
bào bị chết (do protein là cơ sở sự sống của tế bào).
Thực tế thấy rằng chỉ có cồn 75% là có khả năng sát trùng tốt nhất, vì nếu
cồn > 75% thì nồng độ cồn quá cao làm cho protein bị đông tụ nhiều, làm protein
trên bề mặt vi khuẩn đông cứng hình thành một lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn
7
thấm vào nên vi khuẩn không bị chết. Nếu cồn quá loãng (< 75%) thì hiệu quả
sát trùng kém.
Áp dụng: Trong y tế, cồn được sử dụng đại trà khi tiêm, rửa vết thương …
nhưng có ít người quan tâm tại sao lại dùng cồn? Trong khi học, nếu học sinh
được biết sẽ rất tốt cho cuộc sống. Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào trong các
tiết dạy về bài “Ancol” (Tiết 56-57 lớp 11-CB).
* Ví dụ 02: Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã
uống rượu?
Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc tính
của rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với
rượu nhưng người chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO
3
. Đây là một chất
oxi hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da cam. Bột
oxit CrO
3
khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr
2
O
3

là một hợp chất có màu
xanh đen.
Cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa
CrO
3
. Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa
hơi rượu thì hơi rượu sẽ tác dụng với CrO
3
và biến thành Cr
2
O
3
có màu xanh đen.
Dựa vào sự biến đổi màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho cảnh sát
biết được mức độ uống rượu của tài xế. Đây là biện pháp nhằm phát hiện các tài
xế đã uống rượu khi tham gia giao để ngăn chặn những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Áp dụng: Tai nạn giao thông luôn là nổi ám ảnh của mọi người. Một trong
những nguyên nhân chính xảy ra tai nạn giao thông chính là rượu. Nhằm giúp
cho học sinh thêm hiểu biết về cách nhận biết rượu trong cơ thể một cách nhanh
và chính xác của cảnh sát giao thông, giáo viên nên đưa nội dung này vào bài
8
“Ancol” (tiết 56-57 lớp 11-CB) hay “Crom và hợp chất của crom”(tiết 58 lớp
12).
* Ví dụ 03: Vì sao lại không dùng xăng pha chì nữa?
Xăng pha chì là thêm tetraetyl chì [(C
2
H
5
)
4

Pb] có tác dụng tiết kiệm 30%
xăng dầu khi sử dụng. Nhưng khí cháy trong động cơ, chì oxit bám vào các ống
xả, thành xi lanh nên thực tế xăng còn hoà tan thêm vào đibrometan thì chì oxit
sẽ bị chuyển thành Chì bromua (PbBr
2
), dễ bay hơi, thoát ra khỏi xi lanh, ống xả,
thải vào không khí làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Vì chì sẽ ở trong môi trường khí, tồn tại trong thực vật, động vật nên khi
tiếp xúc với khí thải, động thực vật bị bệnh sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khoẻ con người. Ngoài ra hơi Brom bay ra gây nguy hiểm tới đường hô hấp,
làm bỏng da. Hiện nay, nước ta đã không sử dụng xăng pha chì.
Áp dụng: Hiện nay nhà nước ta nghiêm cấm các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu sử dụng xăng pha chì. Để hiểu được vì sao thì không ít người hiểu
được vấn đề này. Thông qua nội dung “Hệ thống hóa về hidrocacbon”( Tiết 55
lớp 11-CB) giáo viên có thể đặt câu hỏi này cho học sinh thảo luận rồi giải thích
cho học sinh biết được tác hại của việc pha chì vào xăng nhằm nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường.
* Ví dụ 04: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí
cacbonic CO
2
. Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép
CO
2
hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước
ngọt.
9
Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO
2
lập tức bay vào

không khí. Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi.
Về mùa hè người ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống
nước ngọt vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO
2
. Ở trong dạ dày
nhiệt độ cao nên CO
2
nhanh chóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờ vậy nó
mang đi bớt một nhiệt lượng trong cơ thể làm cho người ta có cảm giác mát mẻ,
dễ chịu. Ngoài ra CO
2
có tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường việc
tiết dịch vị, giúp nhiều cho tiêu hóa.
Áp dụng: Hiện tượng có nhiều bọt khí thoát ra từ bình nước ngọt có ga hay
chai bia thì chắc hẳn học sinh nào cũng biết. Nhưng khi giải thích khí đó là khí gì
và có công dụng ra sao thì không ít học sinh biết được. Giáo viên có thể nêu câu
hỏi trên khi dạy phần “Cacbon Đioxit” (tiết 24 lớp 11-CB).
* Ví dụ 05: Ma trơi là gì? Ma trơi thường gặp ở đâu?
“Ma trơi” chỉ là cái tên gọi mê tín mà thực chất, trong cơ thể (xương động
vật) có chứa một hàm lượng P khi chết phân huỷ tạo một phần thành khí
PH
3
(Photphin) khi có lẫn một chút khí P
2
H
4
(điphotphin), khí PH
3
tự bốc cháy
ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu khí bay trong không khí

2 4
3 2 2 5 2
2 4 3
P H
PH O P O H O
+ → +
Điều trùng lặp ngẫu nhiên là: Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa địa
càng tăng nên tính chất kịch tính.
Áp dụng: Vấn đề này phải được đề cập trong bài giảng về P để giải thích
hiện tượng trong đời sống “Ma trơi”. Tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho
cuộc sống lành mạnh. Hiện tượng này giáo viên có thể đề cập trong bài
“Phốtpho” (tiết 17 lớp 11-CB).
10
* Ví dụ 06: Hoá chất trong cơ thể của con người như thế nào?
Các nhà khoa học đã tính được rằng:
• Lượng nước trong cơ thể của mỗi người chúng ta chỉ đủ giặt một chiếc
áo sơ mi.
• Lượng Fe đủ để làm một cái đinh 5 phân.
• Lượng đường chỉ đủ cho làm một nữa cái bánh ngọt nhỏ.
• Lượng vôi trong toàn bộ xương của cơ thể đủ để xây một cái chuồng gà
con.
• Lượng mỡ dùng nấu được 7 bánh xà phòng.
• Lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm.
• Lượng S đủ để giết chết 1 con bọ chét.
• Cộng cả lại kể các các nguyên tố khác như Mg, Cu, K… Theo các nhà
bác học tính ra thì với một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng
giá chưa tới 3$.
Áp dụng: Đây là tình huống có chút khôi hài nhưng có thể giúp học sinh
nắm được cơ bản thành phần nguyên tố trong cơ thể con người có thể đưa vào
bài giảng về thành phần nguyên tố nhằm làm rõ thêm về quan điểm duy vật (lớp

10-11-12).
* Ví dụ 07: Dấm ăn là gì? Tác dụng của nó?
Trong dấm ăn có vị chua vì có 3-5% là Axit axetic (CH
3
COOH). Dấm ăn
có tác dụng tạo vị chua và có tác dụng làm cho cơ thể có cảm giác muốn ăn và
tiêu hoá tốt, có khả năng tiêu độc, sát khuẩn.
Áp dụng: Dấm ăn là một thứ gia vị rất gần gũi trong đời sống, giáo viên có
thể xen vào trong bài giảng về axit axetic (tiết 65-66 lớp 11-CB) để học sinh liên
hệ trong thực tế, hiểu biết về vai trò của dấm ăn đối với con người.
* Ví dụ 08: Vì sao không nên ăn hoa quả ngay sau bữa ăn?
11
Trái cây có loại đường đơn là monosaccarit và một số loại axit sẽ kết hợp
với axit trong dạ dày tạo ra Axit tactaric, Axit citric làm cho dạ dày đầy hơi.
Một số loại hoa quả có hàm lượng Tanin và Pectin cao, chúng sẽ kết hợp
với dịch vị, chất xơ và protein trong thức ăn, dễ tạo thành những hạt rắn, khó tiêu
hóa. Những hạt này hình thành sỏi ở dạ dày, ruột.
Nên ăn hoa quả sau bữa ăn khoảng 1−3 giờ.
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài axit cacboxylic (tiết
65-66 lớp 11)
* Ví dụ 09: Vì sao vắt chanh vào cốc sữa đặc có đường sẽ thấy có kết tủa?
Trong sữa có thành phần protein gọi là Cazein. Khi vắt chanh vào sữa làm
tăng độ chua, tức làm giảm pH của dung dịch sữa tới pH đúng với điểm đẳng
điện của cazein thì chất này sẽ kết tủa.
Khi làm phomat, người ta cũng tách Cazein theo nguyên tắc tương tự và
cho lên men tiếp.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa các vấn đề thực tế này vào bài axit
cacboxylic (tiết 65-66 lớp 11-CB).
* Ví dụ 10: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc (CO) hoặc nhiều khí
thiên nhiên (CH

4
…) và không có oxi, để tránh khi xuống giếng bị ngạt?
Trong các giếng đào đặc biệt nhiều ở vùng đồng bằng thường có khí độc
CO, CH
4
… và không có O
2
. Mà người dân chúng ta hay có thói quen xuống
giếng thau giếng hoặc vì lấy gầu múc nước… Đã có nhiều trường hợp bị tử vong
một lúc nhiều mạng người vì gặp phải giếng có khí độc (CO) gây đông máu,
CH
4
…và không có O
2
gây ngạt trong tíc tắc, làm người xuống cứu cũng chết. Để
tránh, tốt nhất không nên xuống các giếng đào, nếu có xuống phải đeo bình oxi.
Còn muốn biết có khí độc(CO), hoặc nhiều khí thiên nhiên(CH
4
…) và không có
12
O
2
chỉ cần lấy dây buộc một con gà, vịt … thả xuống nếu nó chết thì chứng tỏ có
khí độc.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng hay xảy ra, giáo viên nên đưa vào bài
giảng để nhắc nhở học sinh, cộng đồng …tránh những cái chết thương tâm. Vấn
đề này có thể xen vào bài dạy “Hợp chất của cacbon” (tiết 24-lớp 11-CB) hay
“Ankan” (tiết 37-38 lớp 11-CB).
* Ví dụ 11: Gương soi có lịch sử như thế nào?
Thời xa khi muốn soi mình phải soi qua mặt nước, khi đến thời đồ đồng

thau thì bằng gương làm bằng đồng nhưng nhanh ố, sau dần chuyển sang thuỷ
ngân tráng sau tấm kính phẳng, nhưng thuỷ ngân gây ngộ độc cho người sản
xuất. Dần dần và ngày nay người ta đã thay thế bằng bạc tráng sau tấm kính nhờ
phản ứng anđehit (R−CHO) với dung dịch AgNO
3
/NH
3
hay thay andehit bằng
glucozơ.
3 3 2 4 4 3
2 3 2 RCHO AgNO NH H O RCOONH Ag NH NO
+ + + → + ↓ +
Ag tạo ra bám chặt vào gương, người ta quét lên mặt sau chiếc gương một lớp
sơn dầu bảo vệ. Phích nước cũng chế tạo kiểu này.
Áp dụng: Đây là một ứng dụng của hợp chất có chức andehit vào đời sống.
Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong các tiết dạy về andehit…( tiết 62-63 lớp
11-CB). Để học sinh hiểu phần nào về sự tạo gương, ruột phích mà hàng ngày ai
cũng bắt gặp.
* Ví dụ 12 : Teflon là chất gì?
Teflon có tên thay thế là: Poli(tetrafloetilen)[(−CF
2
−CF
2
−)
n
]. Đó là loại
polime nhiệt dẻo, có tính bền cao với các dung môi và hóa chất. Nó độ bền nhiệt
13
cao, có độ bền kéo cao và có hệ số ma sát rất nhỏ. Teflon bền với môi trường
hơn cả Au và Pt, không dẫn điện.

Do có các đặc tính quý đó, teflon được dùng để chế tạo những chi tiết máy
dễ bị mài mòn mà không phải bôi mỡ (vì độ ma sát nhỏ), vỏ cách điện, tráng phủ
lên chảo, nồi,… để chống dính.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vào bài “vật liệu polime” (tiết 21-22
lớp 12-CB)
* Ví dụ 13 : Thuốc chuột là chất gì? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có nước
uống thì chuột chết mau hơn hay lâu hơn?
Thuốc chuột có thành phần chính là Zn
3
P
2
. Sau khi ăn, Zn
3
P
2
bị thủy phân
rất mạnh, tạo thành khí PH
3
(photphin) rất độc:
3 2 2 2 3
6 3 ( ) 2Zn P H O Zn OH PH
+ → + ↑
Làm cho hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm; nó khát và đi tìm nước.
Chính PH
3
đã giết chết chuột.
Càng nhiều nước đưa vào cơ thể chuột → PH
3
thoát ra càng nhiều →
chuột càng nhanh chết. Nếu không có nước, chuột sẽ lâu chết hơn.

Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng ứng dụng này trong bài Photpho (tiết
17 lớp 11-CB).
* Ví dụ 14 : Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau?
Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH).
Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
( )
2 2
2
2 ( ) 2HCOOH Ca OH HCOO Ca H O
+ → +
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài axit cacboxylic
(tiết 65-66 lớp 11).
14
* Ví dụ 15 : Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết? Trong nông nghiệp,
đất đèn dùng để làm gì?
Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua (CaC
2
), khi tác dụng với
nước sinh ra khí axetilen và canxi hidroxit.
2 2 2 2 2
2 ( ) ( 0)CaC H O C H Ca OH H
+ → ↑ + ∆ <
Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra andehit axetic (CH
3
CHO). Các
chất này làm tổn thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm chết cá.
Trong nông nghiệp, từ lâu người ta đã dùng đất đèn để làm kích thích quả
xanh mau chín và chín đồng loạt ở các kho, thường dùng để dấm dứa, chuối, cà
chua… vào dịp cuối mùa đông, đầu mùa xuân.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vào bài “Ankin” (tiết 46 lớp 11-CB)

* Ví dụ 16 : Vì sao muối NaHCO
3
được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có
nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO
3
dùng để chế thuốc
đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản
ứng:
3 2 2
NaHCO HCl NaCl CO H O+ → + +
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng kiến thức này vào bài “Hợp chất của
cacbon” (tiết 24 lớp 11-CB).
* Ví dụ 17 : Vì sao trong công nghiệp thực phẩm, muối NH
4
HCO
3
được dùng
làm bột nở?
NH
4
HCO
3
được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng
bánh thì NH
4
HCO
3
sẽ bị phân hủy thành các chất khí và hơi nên làm cho bánh
xốp và nở hơn.


OHCONHHCONH
22334
++→
15
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài “Muối amoni” (tiết
13 lớp 11) hoặc “Hợp chất của cacbon” (tiết 24 lớp 11).
* Ví dụ 18 : Làm cá bớt tanh bằng phương pháp nào?
Cá tanh do trong cá có trimetylamin (CH
3
)
3
N và đimetylamin (CH
3
)
2
NH
và metyl amin CH
3
NH
2
là những chất có mùi khó ngửi.
Khi chiên cá ta cho thêm một ít rượu có thể phá hủy được mùi tanh cá. Vì
trimetylamin thường “lẫn trốn” trong cá nên người ta khó trục nó ra. Nhưng
trong rượu có cồn, cồn có thể hòa tan trimetylamin nên có thể lôi được
trimetylamin ra khỏi chổ ẩn. Khi chiên cá ở nhiệt độ cao cả trimetylamin và cồn
đều bay hơi hết, nên chỉ một lúc sau mùi tanh cá sẽ bay đi hết.
Ngoài ra trong rượu có một ít etylaxetat có mùi dễ chịu nên rượu có tác
dụng thêm mùi thơm rất tốt.
Áp dụng: Đây là một kinh nghiệm thường thấy khi chế biến thức ăn liên

quan đến cá. Giáo viên cần giải thích cho học sinh biết được cơ sở hóa học của
kinh nghiệm trên. Từ đó giúp các em thấy được những ứng dụng đời thường của
hóa học nhằm tăng thêm niềm yêu thích đối với môn hóa học. Giáo viên có thể
đưa vào phần ứng dụng của ancol trong bài “Ancol” (Tiết 56-57 lớp 11CB).
* Ví dụ 19 : Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta
thường ngửi thấy mùi khai?
Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu chất đạm,
như: nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ,… lượng Ure trong các chất hữu cơ
sinh ra nhiều. Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, ure bị phân hủy
thành CO
2
và NH
3
.
2 2 2 2 3
( ) 2 2NH CO H O CO NH+ → +
Lượng NH
3
sinh ra hoà tan trong nước dưới dạng một cân bằng động:
)7(
423
<+⇔+
−+
pHOHNHOHNH
16
Như vậy, khi trời nắng (nhiệt độ tăng), cân bằng trên sẽ dịch chuyển theo
chiều nghịch, tức là NH
3
sinh ra do phản ứng phân hủy ure không bị hoà tan
trong nước mà bị tách ra, bay vào không khí làm cho không khí xung quanh

sông, hồ có mùi khai khó chịu.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào bài “Amoniac” (tiết 12 lớp
11-CB).
* Ví dụ 20: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy)
có chứa các khí SO
2
, NO, NO
2
,…Các khí này tác dụng với oxi O
2
và hơi nước
trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc
ozon tạo ra axit sunfuric H
2
SO
4
và axit nitric HNO
3
.
2SO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 2H
2
SO
4

2NO + O
2
→ 2NO
2
4NO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 4HNO
3
Axit H
2
SO
4
và HNO
3
tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của
mưa axit là H
2
SO
4
còn HNO
3
đóng vai trò thứ hai.
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới.
Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các
tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( các loại đá này thành phần
chính là CaCO

3
):
CaCO
3
+ H
2
SO
4
→ CaSO
4
+ CO
2
↑ + H
2
O
CaCO
3
+ 2HNO
3
→ Ca(NO
3
)
2
+ CO
2
↑ + H
2
O
17
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây

nên những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát
triển. Vấn đề ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam
chúng ta đang rất chú trọng đến vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp
cho học sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó
nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi
trên cho học sinh trả lời sau khi dạy xong bài“Axit nitric” (tiết 14-15 lớp 11-CB).
*Ví dụ 21: Giải thích hiện tượng: “Khi các cầu thủ đá banh bị đau nằm lăn
lộn trên đất thì nhân viên y tế chỉ cần dùng bình thuốc phun vào chỗ bị
thương, sau đó cầu thủ bị thương đứng lên tiếp tục thi đấu”
Khi cầu thủ bị thương, chỗ bị thương sẽ rất đau đớn. Người cán bộ y tế
dùng phương pháp làm lạnh cục bộ bằng cách phun chất làm lạnh tức thời trên
chỗ bị thương. Chất làm lạnh ở đây là etyl clorua C
2
H
5
Cl hay gọi là cloetan.
C
2
H
5
Cl là hợp chất hữu cơ có t
o
s
là 12,3
o
C. Ở nhiệt độ thường khi tăng áp
suất sẽ biến thành chất lỏng. Khi phun C
2
H
5

Cl lên chỗ bị thương, các giọt etyl
clorua tiếp xúc với da, nhiệt độ cơ thể sẽ làm etyl clorua sôi lên và bốc hơi rất
nhanh. Quá trình này thu nhiệt mạnh làm cho da bị lạnh đông cục bộ và tê cứng.
Vì vậy thần kinh cảm giác không truyền được đau lên đại não. Nhờ đó cầu thủ
không có cảm giác đau. Do sự đông cục bộ nên vết thương không bị chảy máu.
Chú ý là cloetan chỉ tạm thời không làm cho cầu thủ cảm giác đau mà
không có tác dụng chữa trị vết thương.
Áp dụng: Đây là cảnh tượng thường thấy trong các trận đá banh. Mọi người
cứ nghĩ đó là một loại “ thuốc tiên” nhưng xét về phương diện hóa học đó chỉ là
một chất có đặc tính “ thu nhiệt mạnh” ở điều kiện thường. Giáo viên có thể kể
18
cho học sinh nghe về phần ứng dụng của dẫn xuất halogen trong bài “Dẫn xuất
halogen” (Tiết 55 lớp 11CB).
*Ví dụ 22: Vì sao axit nitric HNO
3
đặc lại phá thủng quần áo ?
Khi làm thí nghiệm hóa học, nếu quần áo bạn dính phải axit nitric HNO
3
đặc thường sẽ bị thủng một lỗ; khi dùng axit không đặc, nhìn bên ngoài thì
không thấy gì, nhưng sau khi phơi khô bạn sẽ thấy ngay lỗ thủng.
Quần áo chúng ta mặc thường ngày thường dệt bằng sợi bông, thành phần
hóa học của sợi bông là xenlulozơ. Xenlulozơ không tan trong nước và đa số các
dung môi khác nhưng dễ tan trong axit HNO
3
đặc nên làm thủng quần áo.
Khi bị axit HNO
3
loãng dính vào quần áo, tuy quần áo không bị thủng
ngay, nhưng khi quần áo khô, nồng độ axit HNO
3

càng ngày càng đặc, cuối cùng
sẽ làm thủng quần áo. Ngoài ra, axit HNO
3
loãng có thể có tác dụng hóa học với
xenlulozơ.
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu vấn đề trên khi nói về tính chất hóa học của
axit nitric trong bài “Axit nitric”( Tiết 14-15 lớp 11CB) để nhắc nhở học sinh
thật cẩn thận khi tiếp xúc với axit HNO
3
đặc.
*Ví dụ 23: Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?
Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc biệt là ăn
mòn thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO
2
nên khi
cho dung dịch HF và thì có phản ứng xảy ra:
SiO
2
+ 4HF → SiF
4
↑ + 2H
2
O
Áp dụng: Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải biết được
sau khi học bài Flo và hợp chất của nó. Học sinh biết giải thích và vận dụng
19
trong thực tiễn tránh việc dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. Giáo viên có
thể hỏi học sinh sau khi dạy xong bài “Hợp chất silic”(Tiết 25 lớp 11- CB).
*Ví dụ 24: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?
Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, nhấc ra

cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ
dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi
SiO
2
+ 4HF → SiF
4
↑ + 2H
2
O
Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H
2
SO
4
đặc và bột
CaF
2
. Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF
2
vào chổ cần khắc,sau đó cho
thêm H
2
SO
4
đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời
gian, thủy tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF
2
+ 2H
2
SO

4
→ CaSO
4
+ 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó SiO
2
+ 4HF → SiF
4
↑ + 2H
2
O
Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang
phát triển ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp
khắc thủy tinh mà còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở
cho việc học nghề, khơi gợi niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí
nghiệm này trong tiết thực hành. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên để dẫn dắt vào
bài giảng “Hợp chất silic”(Tiết 25 lớp 11 CB).
*Ví dụ 25: Vì sao khi cơm bị khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu
than củi ?
Do than củi xốp có tính hấp phụ nên hấp phụ mùi khét của cơm làm cho
cơm đở mùi khê.
20
Áp dụng: Đây là mẹo vặt thường được dùng khi không may cơm bị khê.
Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên khi dạy phần tính chất vật lí hoặc trong
phần nêu ứng dụng của cacbon trong bài “Cacbon”( tiết 23 lớp 11-CB).
*Ví dụ 26: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại mạnh: K,
Na, Mg,… bằng khí CO
2
Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong khí quyển
CO

2
. Thí dụ :
2Mg + CO
2
→ 2MgO + C
Cacbon sinh ra lại tiếp tục cháy:
C + O
2
→ CO
2
Áp dụng: Để dập tắt các đám cháy thông thường người ta thường dùng khí
CO
2
. Tuy nhiên một số đám cháy có các kim loại mạnh thì CO
2
không những
không dập tắt mà làm cho lửa cháy thêm gây thiệt hại nghiêm trọng. Đây là phần
nội dung mà giáo viên cần cung cấp cho học sinh biết khi đề cập đến khả năng
không duy trì sự cháy của khí CO
2
ở phần “Cacbon đioxit” (Tiết 24 lớp 11CB)
biết được để vận dụng trong cuộc sống.
*Ví dụ 27: Vì sao trong một ngày hoa phù dung có thể đổi màu tới 3 lần ?
Hoa phù dung đổi màu 3 lần trong ngày. Buổi sáng màu trắng, buổi trưa
màu phớt hồng, buổi chiều màu hồng đậm hơn. Loài hoa, trước sau chỉ biến đổi
thay nhau giữa các màu trắng, hồng, vàng, da cam, đỏ. Đó là sự thay đổi của chất
caroten có trong thực vật.
21
Caroten là một loại sắc tố thường thấy trong mọi đóa hoa. Trong sữa động
vật, trong chất béo cũng có sắc tố này nhưng nhiều hơn cả là trong của cà rốt

( chất màu vàng da cam). Caroten là một hiđrocacbon có công thức phân tử
C
40
H
56
.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên. Giáo viên đưa
vấn đề này vào trong bài giảng “Tecpen” ( Tiết 57 lớp 11NC) để giới thiệu cho
học sinh biết thêm về nguồn tecpen thiên nhiên nhằm kích thích tính tò mò ham
hiểu biết của học sinh.
*Ví dụ 28: Ca dao Việt Nam có câu:
“Lúa chim lấp ló ngoài bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào
kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp( tia
lửa điện) thì:
2N
2
+ O
2
→ 2NO Sau đó: 2NO + O
2
→ 2NO
2
Khí NO2 hòa tan trong nước: 4NO
2
+ O
2
+ H

2
O → 4HNO
3
HNO
3
→ H
+
+ NO
3
-
(Đạm)
Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất
được cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp
trong đời sống. Đây quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những
22
tháng năm canh tác nông nghiệp. Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm
nghiệm và giải thích được một cách khoa học về vấn đề trên. Giáo viên có thể
đặt câu hỏi trên khi trình bày phần chu trình của nitơ trong tự nhiên ở bài giảng
“Axit HNO
3
” (Tiết 14-15) hoặc đề cập trong bài “Phân đạm” (Tiết 18 lớp 11
CB).
*Ví dụ 29: “Hiệu ứng nhà kính” là gì ?
Khí cacbonic CO
2
trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia hồng
ngoại ( tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước
sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ
nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO

2
hấp thụ
mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán của các
nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO
2
trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với
hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4
o
C.
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO
2
ở trong khí quyển tương đương với lớp
thủy tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện
tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi khí CO
2
được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề
có ảnh hưởng mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được
nguyên nhân và tác hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường. Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi dạy phần Cacbon đioxit (Tiết 24 lớp
11-CB).
*Ví dụ 30: Formaldehyde được sử dụng trong việc bảo quản thực vật như
thế nào? Tác hại của nó đối với sức khỏe con người.
23
Formaldehyde bị thế giới và VN nghiêm cấm trong bảo quản thực vật. Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa formaldehyde vào loại hóa chất độc hại đối
với sức khỏe người. Ở liều lượng cao, nó có thể gây đột tử. Với hàm lượng thấp,
formaldehyde tích tụ trong cơ thể sẽ gây tác hại cho da và hệ thống hô hấp, gây
bệnh về bạch cầu, ung thư phổi.
Mới đây, các phóng viên Trung Quốc đã phản ánh việc nhiều thương lái

Trung Quốc thường xuyên phun dung dịch formaldehyde vào rau quả nhằm giữ
cho rau tươi trên hành trình đổ buôn đến các chợ xa. Hành động này được tiến
hành ít nhất trong ba năm lại đây.
Sản phẩm được phát hiện phun nhiều formaldehyde là cải thảo - loại sản phẩm
được nhập khẩu và tiêu thụ khá nhiều tại thị trường Việt Nam.
Áp dụng: Vấn đề này có thể nêu trong bài “Andehit-Xeton” (tiết 65-66
lớp 11-THPT).
2.5. KIỂM NGHIỆM
Một trong những điểm tôi đã làm là “Dạy học hóa học gắn với thực tiễn
nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 - THPT”. Có những vấn đề
hoá học có thể giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh
việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trong
những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực
tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây
nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú
trong môn học; làm cho hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù và phức tạp.
Trong phạm vi đề tài tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trong
thực tiễn mà chỉ nêu lên một vài suy nghĩ, đề suất của cá nhân coi đó là kinh
24
nghiệm qua một số ví dụ minh hoạ, với mong muốn góp phần tạo ra và phát triển
phương pháp dạy hoá học hiệu quả cao hơn qua các bài giảng hoá học.
2.5.1. Kết quả nghiên cứu:
Riêng bản thân tôi nhờ vận dụng phương pháp dạy “Dạy học hóa học
gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 - THPT ”
kết hợp với nhiều phương pháp khác, tôi đã đạt được một số kết quả nhất định.
Học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều
hơn, thậm chí có cả những học sinh đã về nhà tự quan sát và tái tạo lại hiện
tượng thực tế, rồi lại đến hỏi tôi.
Trong giờ học, tôi đã kết hợp hài hoà trong phong cách dạy của mình có
thể làm cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả năng tiếp thu bài

cũng rất tốt. Như tôi đã khẳng định: Thời gian giành cho vấn đề này là không
nhiều nên cần phụ thuộc vào người dạy cần phải linh hoạt và khéo léo. Bất cứ
một vấn đề gì nếu chúng ta quá lạm dụng thì đều không tốt. Vì thế tôi vẫn luôn
nghĩ: Dạy như thế nào cho tốt là một điều không dễ.
2.5.2. Kết quả đối chứng:
Thực tế giảng dạy cho thấy các lớp không hoặc ít áp dụng so với lớp áp
dụng giải thích thường xuyên có sự khác nhau rõ rệt.
Ví dụ gần đây nhất qua năm học từ 2011-2012 giảng dạy ở trường tôi đã
có số liệu cụ thể theo bảng sau:
Lớp Mức độ
Kết quả
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu – Kém
11A2 Thường xuyên áp 04 15 10 01
25

×